Phạt tù đối tượng tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Điện Biên, vào khoảng tháng 5/2010, Giàng A Chứ (tên gọi khác là Giàng A Xà) đã tham gia tổ chức do Tráng A Chớ cầm đầu với mục đích thành lập “Nhà nước Mông.”
Trong quá trình tham gia tổ chức, Giàng A Chứ đã tham dự 6 cuộc họp do Chớ chủ trì, bàn cách thành lập “Nhà nước Mông.” Tráng A Chớ đã soạn thảo ra một quyển tài liệu dùng để tuyên truyền lập “Nhà nước Mông”. Tổ chức này đã thực hiện đúc sao và hàm hiệu, phân công vai trò, vị trí những người tham gia tổ chức, trong đó Tráng A Chớ làm “Chủ tịch nước,” Giàng A Chứ có nhiệm vụ giúp việc cho “Chủ tịch nước” Tráng A Chớ.
Bị cáo Giàng A Chứ đã cất giấu một quyển tài liệu do Chớ soạn thảo, có nội dung tuyên truyền về Đạo Vàng Chứ, nói xấu Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, kêu gọi người Mông đi theo Vàng Chứ để thành lập “Vương quốc Mông.” Trong vụ án trên, các bị cáo Tráng A Chớ, Hờ A Phua... đã bị đưa ra xét xử trong một phiên tòa trước đó.
Sau sự kiện tụ tập đông người chờ “xưng Vua,” gây mất trật tự an ninh tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé vào tháng 5/2011, bị chính quyền giải tán, ngày 20/2/2012, Giàng A Chứ bị khởi tố, sau đó bỏ trốn lên rừng.
Đến ngày 23/5/2013, Chứ đưa vợ con trốn sang Trung Quốc, bị Công an Trung Quốc bắt và trao trả cho Công an huyện Mường Nhé.
Tại phiên tòa, bị cáo Chứ đã thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Để đảm bảo cho quyền lợi của bị cáo do là người dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức kém, lại không biết chữ, nên Hội đồng xét xử đã mời ông Giàng A Lử làm phiên dịch cho bị cáo.
Căn cứ các hành vi của bị cáo Giàng A Chứ, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân tỉnh Điện Biên đã tuyên bố bị cáo phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Giàng A Chứ 36 tháng tù. Đây là mức án thấp nhất trong khung hình phạt này do bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, chưa có tiền án tiền sự, trình độ nhận thức kém.
Sau khi chấp hành hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu 3 năm quản chế tại nơi cư trú./.

Theo TTXVN

Bức tranh sinh động về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam

QĐND - Việt Nam không chỉ là quốc gia có truyền thống văn hóa lâu đời mà còn là một dân tộc đa tôn giáo, tín ngưỡng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc Việt Nam.
Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật”(1); đồng thời xác định chủ trương: “Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(2). Như vậy, quan điểm của Đảng ta không chỉ tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà còn đánh giá cao vai trò của các tôn giáo đối với dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Tính đến năm 2011, cả nước có 12 tôn giáo với 37 tổ chức tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, với hơn 30 triệu tín đồ, hơn 100.000 chức sắc và nhà tu hành đang hoạt động tại hơn 24.000 cơ sở thờ tự trên cả nước. Việc mở trường và đào tạo chức sắc tôn giáo luôn được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi. Nếu như năm 1993, Phật giáo có 22 trường cao cấp và trung cấp Phật học, đến nay đã có 4 học viện Phật giáo và nhiều trường cao đẳng, trung cấp Phật học. Giáo hội Công giáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và 1.712 chủng sinh dự bị. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các tu sĩ đi học tập, hội thảo nâng cao trình độ ở nước ngoài, một số người đã bảo vệ thành công luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ về tôn giáo.
Các cơ sở thờ tự của tôn giáo được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Đến nay, cả nước có 14.321 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường; Thiên chúa giáo có 6.003 nhà thờ, nhà nguyện; Tin lành có gần 500 nhà thờ, nhà nguyện; Cao Đài có 1.284 thánh thất; Phật giáo Hòa Hảo có 522 chùa, hội quán; Hồi giáo có 89 thánh đường... Riêng đạo Tin lành ở các tỉnh Tây Nguyên, năm 1975 có hơn 50 nghìn người theo đạo Tin lành ở 200 buôn, đến nay tăng lên với gần 500 nghìn người ở 18.000 buôn. Địa bàn Tây Nguyên và Tây Bắc có gần 2000 điểm nhóm đạo Tin lành đăng ký sinh hoạt tôn giáo với chính quyền cơ sở. Trong các ngày lễ Nô-en của đạo Công giáo, lễ Phật đản của Phật giáo… đều được chính quyền các cấp tạo điều kiện tổ chức và lãnh đạo Đảng, Nhà nước đến chúc mừng, động viên. Quan hệ đối ngoại của các tôn giáo Việt Nam ngày càng mở rộng; Tòa thánh Va-ti-căng đã bổ nhiệm Đặc phái viên không thường trú tại Việt Nam. Tháng 12-2012, Hội đồng Giám mục Việt Nam đăng cai tổ chức thành công Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á Châu tại Việt Nam, với sự tham dự của nhiều Giám mục các nước ở châu Á và đại diện Tòa thánh Va-ti-căng. Các tổ chức tôn giáo duy trì tốt những hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, phong chức, phong phẩm và bổ nhiệm chức sắc, chức việc nhà tu hành tôn giáo. Trong năm 2011, có 669 người được các tổ chức tôn giáo phong chức, phong phẩm; 1.153 người được bổ nhiệm; 2.444 người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa bồi dưỡng, đào tạo từ các trường đào tạo tôn giáo; 1.082 cơ sở thờ tự trong phạm vi cả nước được xây dựng, sửa chữa.
Việc xuất bản kinh sách luôn được Nhà nước Việt Nam quan tâm, hỗ trợ; đã hoàn thành in 30.000 cuốn Kinh thánh bằng các tiếng Ba-na, Ê-đê, Gia-rai, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh hoạt tôn giáo của các tín đồ ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Năm 2010, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản 1.100 ấn phẩm liên quan đến tôn giáo, trong đó 791 đầu sách với 2.881.600 bản in; đồng thời hỗ trợ in kinh, sách phật giáo Nam tông Khơ-me. Năm 2011 đã thẩm định và cấp phép xuất bản 1.004 đầu sách và ấn phẩm về tôn giáo với hơn 2,5 triệu bản, trong đó tổ chức in Kinh Thánh Tin lành bằng tiếng Mông hệ chữ cái La-tinh và làm thủ tục xuất bản kinh Cô-ran song ngữ Việt Nam - Ả-rập; Kinh sách của Phật giáo cũng sẽ được in bằng tiếng Khơ-me…
Những thành tựu đó chứng minh ở Việt Nam, tín đồ và chức sắc các tôn giáo được tạo mọi điều kiện thuận lợi để hành đạo. Họ gắn bó với quốc gia, dân tộc theo phương châm: “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, thực hiện “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính chúa, yêu nước”; vừa làm tròn bổn phận của tín đồ đối với tôn giáo, vừa hăng hái lao động sản xuất, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong hơn 27 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới được nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế ca ngợi. Thượng nghị sĩ Mỹ Jim Webb - Chủ tịch Tiểu ban Đông Á - châu Á - Thái Bình Dương thuộc Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ đánh giá: Cho dù vẫn còn những quan điểm cá nhân về một vài vụ việc cụ thể liên quan đến tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhưng không thể phủ nhận những tiến bộ về tự do tôn giáo tại Việt Nam, nhất là từ năm 1991 đến nay(3). Nếu Việt Nam hạn chế tôn giáo, vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo thì các tổ chức tôn giáo không thể xác lập được vị trí và phát triển ổn định như hiện nay.
Thực tiễn sinh động về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là bằng chứng để chúng ta kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, cáo buộc của các thế lực thù địch về tình hình tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách tự do tôn giáo của Việt Nam hiện nay. Đó cũng là cơ sở để chúng ta đấu tranh ngăn chặn và làm vô hiệu hóa các “đạo lạ”, “tạp giáo”, “tà giáo” gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đại tá, Thạc sĩ NGUYỄN ĐỨC THẮNG
 (1), (2). Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.81, tr.245.

 (3) . Xem:http://chuyentrang.tuoitre.vn/Vieclam/

Cần hiểu đúng về bản chất của quyền lực Nhà nước

QĐND - Gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện một số ý kiến với danh nghĩa là "góp ý vào Dự thảo sửa đổi Hiến pháp", nhưng thực chất lại chứa đựng những nội dung xuyên tạc bản chất của Nhà nước ta, trong đó có vấn đề quyền lực Nhà nước.
Quyền lực nhà nước là mục tiêu của sự tranh giành giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các dân tộc khác nhau trong quá khứ, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước luôn là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng rất phức tạp, do vậy, đó cũng là trung tâm của các cuộc tranh luận khoa học. Bởi lẽ, lực lượng nào giành, nắm giữ được quyền lực nhà nước, tổ chức và sử dụng nó sao cho khoa học và hiệu quả thì sẽ có điều kiện thực hiện được những mục đích mà mình đề ra, mang lại hạnh phúc và nhiều lợi ích nhất cho lực lượng của mình, cho nhân dân.
Quyền lực nhà nước luôn gắn với chủ quyền quốc gia, nó thuộc về nhân dân và được thể hiện thông qua những định chế nhà nước - pháp luật. Quyền lực nhà nước được biểu hiện cụ thể ở hệ thống các cơ quan, tổ chức nhà nước, các quy định pháp luật và những nguyên tắc vận hành của hệ thống đó tạo nên một cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước. Cơ chế đó được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại và được cụ thể hóa ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào những điều kiện khách quan và chủ quan ở mỗi thời kỳ phát triển.
Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp một cách hợp lý. Vì vậy, theo quy định của Hiến pháp và các luật tổ chức bộ máy nhà nước của nước ta hiện nay thì ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua bầu cử, lấy ý kiến của dân và các hình thức dân chủ trực tiếp khác, thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước. Như vậy, ngoài việc trực tiếp thực hiện quyền lực nhà nước thông qua một số hình thức thì chủ yếu nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước. Ở đây có sự ủy quyền của nhân dân cho Quốc hội, cho hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước. Tuy nhiên, quyền lực tối cao của nhà nước được trao cho Quốc hội, vì vậy, Quốc hội được coi là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thay mặt cho nhân dân cả nước quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Xuất phát từ Quốc hội và hội đồng nhân dân, hàng loạt các cơ quan khác của nhà nước được thành lập để cùng với Quốc hội, hội đồng nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Để bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước, pháp luật nước ta quy định tất cả các cơ quan khác của nhà nước đều phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và hội đồng nhân dân, phải báo cáo công tác với Quốc hội và hội đồng nhân dân. Bằng cách tổ chức như thế, quyền lực nhà nước ở nước ta xét theo chiều ngang cũng như theo chiều dọc, đều bảo đảm sự tập trung thống nhất vào Quốc hội và hội đồng nhân dân, nhưng tập trung và thống nhất cao nhất là vào Quốc hội. Sự tập trung này là cần thiết, nó bảo đảm cho sự thống nhất của cơ chế thực hiện quyền lực nhà nước, tránh được hiện tượng mâu thuẫn, xung đột nhiều khi đối lập giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước.
Như trên đã khẳng định, quyền lực nhà nước ở nước ta là tập trung thống nhất, không phân chia, song trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước thì phải có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước; Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại, Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, Chính phủ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; Hội đồng nhân dân là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên… Với việc tổ chức bộ máy nhà nước ta như trên, chúng tôi cho là phù hợp, vừa bảo đảm được sự thống nhất quyền lực, tránh được những xung đột như trong cơ chế phân quyền, vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của mỗi cơ quan nhà nước, vừa chống được tình trạng tập trung quan liêu, vừa tránh được tình trạng cục bộ, phân quyền cát cứ như trong cơ chế tập quyền phong kiến.
Theo chúng tôi, vấn đề cần quan tâm hiện nay là: Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm Nhà nước ta thực sự là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo; nghiên cứu để “xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”; hoàn thiện hơn nữa bộ máy nhà nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo đảm được tính hiệu quả trong việc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Tạo lập cơ chế giám sát hiệu quả của nhân dân đối với tất cả mọi cơ quan nhà nước, kể cả Quốc hội, đặc biệt là giám sát việc thực hiện Hiến pháp. Đổi mới cách thức giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ và các cơ quan khác của nhà nước. Nâng cao vai trò và trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước.

TS NGUYỄN MINH ĐOAN

Ông Phil Robertson lại can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam

QĐND - Mới đây, trên một vài trang mạng ở nước ngoài, ông Phil Robertson, Phó giám đốc phụ trách khu vực châu Á thuộc Tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế (Human Rights Watch) đã nói rằng: “Nếu Việt Nam muốn chứng tỏ cho thế giới thấy rằng họ sẵn sàng cải thiện nhân quyền, họ phải phóng thích Điếu Cày ngay lập tức vì ông ấy là một trong những blogger nổi bật nhất tại Việt Nam”.
Với vị trí của mình, có lẽ ông Phil Robertson thừa hiểu một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại là không một quốc gia, nhóm quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có quyền can thiệp dưới bất cứ hình thức gì vào các công việc đối nội và đối ngoại thuộc thẩm quyền riêng của quốc gia khác hoặc bắt buộc quốc gia khác phải đưa những công việc thuộc loại này ra giải quyết theo thủ tục quốc tế… Trong cách nói trên ông Phil Robertson đã lập lờ đánh lận giữa hành vi phạm tội của một công dân với cái mác “blogger” mà công dân đó mang trên mình. Nguyễn Văn Hải bị bắt vì hoạt động "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" chứ không phải vì anh ta là “blogger nổi bật” hay “nhà báo tự do”. Một công dân có hành vi phạm tội bị bắt giữ, xử lý là hoàn toàn phù hợp với luật pháp Việt Nam và luật pháp của mọi quốc gia khác trên thế giới. Mặt khác việc đưa ra xét xử những công dân vi phạm pháp luật không có bất cứ liên quan nào đến nhân quyền hay tự do ngôn luận ở Việt Nam.
Việt Nam chủ trương cải thiện nhân quyền. Nhưng điều ấy không có nghĩa là phải thả những người như Nguyễn Văn Hải theo cách nói của ông Phil Robertson... Thực chất việc làm trên của ông Phil Robertson là can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền riêng của Việt Nam.

KIM NGỌC

Phạt 15 năm tù kẻ âm mưu lật đổ chính quyền

Kết thúc phiên xử sơ thẩm hình sự ngày 11/9, Tòa hình sự TAND tỉnh Phú Yên đã tuyên phạt bị cáo Ngô Hào, 65 tuổi, trú ở 17/6 Nguyễn Trãi, phường 5, TP Tuy Hòa về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo quy định tại khoản 1 Điều 79 BLHS.
Theo hồ sơ vụ án, trong 5 năm (2008-2012) Ngô Hào đã có nhiều hoạt động chống phá, lật đổ chính quyền nhân dân. Thông qua các phương tiện điện thoại, Internet, Ngô Hào móc nối một số đối tượng phản động lưu vong ở Mỹ cùng các tổ chức "Chính phủ Việt Nam cộng hòa lưu vong" do Nguyễn Văn Chức cầm đầu và tự phong "Thống tướng", "Khối 8406 hải ngoại" do Nguyễn Chính Kết đạo diễn để thực hiện cuộc "Cách mạng hoa nhài", hoạt động theo phương thức bất bạo động để thực hiện ảo tưởng đòi lại miền Nam, rêu rao kêu gọi các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước can thiệp, đấu tranh đòi tự do tôn giáo, nhân quyền, đòi đa nguyên - đa đảng, lật đổ chính quyền Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hướng tới thành lập cái gọi là "Nhà nước liên bang Đại Việt" từ vĩ tuyến 17 trở vào.
Bị cáo Ngô Hào tại phiên tòa sơ thẩm ngày 11/9/2013.

Trớ trêu, bi hài và liều lĩnh hơn nữa là Ngô Hào cùng các phần tử phản động lưu vong "vẽ" ra kiến nghị Liên hiệp quốc xem xét lại Hiệp định Pari năm 1973, bản thân hắn đã nhiều lần nhận được 1.500 USD của các tổ chức phản động nêu trên, tiếp nhận, tàng trữ, viết và phát tán qua internet nhiều tài liệu xuyên tạc chế độ, vu cáo Nhà nước, nói xấu lãnh tụ, tích cực lôi kéo một số đối tượng khác như Thích Thiện Minh, Trần Hữu Nghĩa, Đặng Văn Nghĩa… tham gia tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, tìm kiếm vũ khí mà bọn chúng cho rằng Nguyễn Tất Thinh, Đại tá, Tỉnh trưởng Tình Gò Công trong chế độ cũ đã cất giấu trước tháng 4/1975...
Được biết, cuối năm 1976, Ngô Hào đã tham gia cầm đầu tổ chức phản động "Đảng liên minh Việt Nam" tại Phú Yên. Sau khi tổ chức phản động này bị lực lượng An ninh khám phá, triệt xóa từ tháng 3/1977, Ngô Hào thụ án 20 năm và được tha tù từ tháng 10/1997http://www.cand.com.vn/Images/reddot.gif

Hữu Toàn

Cần nhận thức đúng về tự do và quyền con người

QĐND - Tự do và quyền con người là những giá trị cao quý của nhân loại. Không có chế độ xã hội nào, không có nhà nước đương đại nào phủ nhận giá trị đó. Sự khác biệt về nhận thức lý luận đối với những phạm trù, khái niệm trừu tượng như khái niệm tự do và quyền con người cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, những quan niệm ấu trĩ, sai lầm về “tự do” và “quyền con người” đã khiến cho người ta có hành vi vi phạm pháp luật, rơi vào vòng lao lý. Chẳng hạn dựa vào nhận thức sai lầm về tự do ngôn luận, một số blogger trong “Câu lạc bộ nhà báo tự do” viết bài xuyên tạc chính sách pháp luật của Nhà nước. Hoặc dựa trên “công thức” xơ cứng, sai lầm về pháp luật: “Điều gì luật pháp không cấm thì đều có quyền làm”, người ta kêu gọi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992.
Vậy tự do là gì và trong đời sống thường nhật, người ta phải hành động như thế nào cho phù hợp với quan niệm đúng đắn về tự do?
Khái niệm tự do trong triết học được xem là một giá trị cao quý, cơ bản của nhân loại. Theo nhà triết học Locke (John Locke 1632-1704)  “Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào". Như vậy tự do ở đây chỉ là khả năng của con người. Còn nhà triết học cận đại Hegel (G.W Friedrich Hegel 1770-1831) thì cho rằng: “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”. Như vậy, ở đây tự do không chỉ là nhận thức mà cả ở hành động. Tuy nhiên, theo Hegel, muốn có tự do thì trước hết phải nhận thức được cái tất yếu, cái quy luật. Người ta nhận thức được quy luật đến đâu thì hành động tự do được bảo đảm đến đấy. Vi phạm quy luật, tất yếu sẽ bị mất tự do. Nhân đây cũng phải nói thêm rằng, loài người còn có giá trị khác, cao quý không kém tự do, đó là ý thức về trách nhiệm của cá nhân với cộng đồng, với dân tộc và gia đình. Phải chăng, đây mới là giá trị phân biệt loài người với phần còn lại của thế giới.
Trong chính trị, quy luật cơ bản liên quan đến sự tồn tại, phát triển của một dân tộc trước hết là quyền dân tộc tự quyết. Quyền này bao gồm: Quyền xác lập chế độ chính trị, thể chế quốc gia và hệ thống pháp luật. Tất cả các quốc gia, kể cả tổ chức chính trị lớn nhất hành tinh như Liên hợp quốc đều phải tôn trọng quyền đó. Với quyền này, các nhà nước có quyền áp dụng tất cả các biện pháp, trong đó có xây dựng và thực thi pháp luật để bảo vệ chế độ của mình. Những hành vi chống lại chế độ chính trị và nhà nước hiện hữu là vi phạm quy luật, tất yếu sẽ mất tự do. Nhận thức đúng đắn về tự do của cá nhân không thể không nhận thức đúng quy luật này. Nói một cách đơn giản: Không có quyền tự do cá nhân nào được phép đứng trên hoặc chà đạp lên chế độ chính trị, lợi ích của Nhà nước.
Bây giờ trở lại vấn đề quyền con người, xem quyền con người (QCN) là gì? Vì sao có những người cho rằng, họ chỉ “thực hiện những quyền con người của mình, đã được pháp luật ghi nhận” mà lại bị bắt bớ, xét xử?
Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại, là tài sản chung của các dân tộc. Với tư cách là một giá trị đạo đức, QCN là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Những giá trị này bao gồm: Nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Khái niệm này là phương hướng cho sự phát triển của nhân loại.
Với tư cách là một giá trị pháp lý, QCN là các quy định pháp luật (trong luật quốc gia và luật quốc tế)  nhằm bảo vệ nhân phẩm, các nhu cầu về vật chất, tinh thần của tất cả mọi người và nghĩa vụ của mỗi người đối với cộng đồng. Có thể nói cho đến nay, cộng đồng quốc tế đã thỏa thuận với nhau những chuẩn mực chung về quyền con người. Những chuẩn mực này được ghi trong “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”, 1948[1], “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”, 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế xã hội và văn hóa”, 1966[2]. Tuy nhiên, Luật quốc tế về quyền con người không trực tiếp điều chỉnh mối quan hệ giữa nhà nước và người dân ở mỗi quốc gia. Các nhà nước nội luật hóa những công ước đã tham gia vào hệ thống pháp luật của mình, trên cơ sở đó các quyền con người ở mỗi quốc gia mới được bảo vệ trên thực tế.
ở Việt Nam, các quyền con người đã được nội luật hóa trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật. Nói cách khác, việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam đã được quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia. Viện dẫn quyền con người nói chung mà không dẫn ra được những quyền đó được quy định như thế nào trong pháp luật quốc gia là thiếu tính thuyết phục, là không thể chấp nhận.
Trong luật quốc tế về quyền con người, không có quy định nào về “quyền tự do” nói chung. Một số quyền con người gắn với khái niệm tự do hình thành những quyền tự do cơ bản. Chỉ những quyền tự do cơ bản này mới được pháp luật bảo hộ. Đồng thời, những quyền (tự do) này phải chịu một số hạn chế của pháp luật. Trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” 1966, các quyền tự do về tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo; về tự do ngôn luận, báo chí; về tự do cư trú, đi lại; Về tự do lập hội, hội họp được ghi nhận. Đồng thời, Công ước này cũng khẳng định những quyền này có thể bị hạn chế “để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền và tự do của người khác” [3]. Trong Hiến pháp và hệ thống pháp luật Việt Nam, một số quyền công dân cũng bị hạn chế. Điều này thường được quy định theo luật (sau khi quy định về nội dung quyền - Đối với Hiến pháp), hoặc được quy định trong khái niệm tội phạm trong Bộ luật Hình sự. Chẳng hạn, Điều 88, Bộ luật Hình sự về “Tội tuyên truyền chống nhà nước CHXHCN Việt Nam”, Điều 89, “ Tội phá rối an ninh”…
Sở dĩ quyền tự do ngôn luận, báo chí của các blogger trong “câu lạc bộ nhà báo tự do” không được Nhà nước ta chấp nhận vì trên trang mạng của họ đã có hàng trăm bài xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo chính sách của Nhà nước.
Sự tồn tại và phát triển của xã hội nói chung, điều chỉnh mối quan hệ xã hội nói riêng không chỉ có pháp luật mà còn có những giá trị khác, trong đó có hệ thống giá trị đạo đức và văn hóa. Những hành vi nào đó, cho dù pháp luật không cấm hoặc chưa cấm, nhưng không phù hợp với đạo đức, không được xã hội chấp nhận thì người ta không nên làm.
VỌNG ĐỨC
[1] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, HN, 2002, Tr 28.
[2] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, HN, 2002, Tr 249, 294.

[3] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, HN, 2002, Tr 255.

Trách nhiệm và thận trọng khi phát ngôn, tránh để kẻ xấu lợi dụng

QĐND - Tục ngữ Việt Nam có câu: “Lỡ chân gượng được, lỡ miệng thì không”. Trong sinh hoạt đời thường, đôi khi do nóng giận, người ta có thể buông ra những lời lẽ thiếu cân nhắc, khiến cho người khác hiểu lầm, biến thiện chí trở thành ác ý. Để khắc phục sự hiểu lầm, có khi chỉ cần một lời xin lỗi chân tình. Thế nhưng, trong đời sống chính trị thì những sơ suất trong phát ngôn của cán bộ, đảng viên không dễ gì có thể khắc phục, mà còn để lại những hậu quả lớn, lâu dài vì có thể bị kẻ xấu lợi dụng. Điều này lại càng trở nên phức tạp, gây ra những tác động tiêu cực trong thời đại internet, trong “thế giới phẳng” hiện nay.
Những ai có dịp “lang thang” trên các mạng xã hội, đều có thể nhận thấy, có không ít bài viết, bài trả lời phỏng vấn được các hãng thông tấn, báo chí nước ngoài, các trang mạng "tung hê", bình luận, phân tích có nội dung cường điệu sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong các thời kỳ cách mạng đã qua; xuyên tạc, vu cáo đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và bôi nhọ nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao đều dựa trên những phát ngôn nào đó, trong những bối cảnh nhất định nào đó của cán bộ, đảng viên. Nhiều khi họ coi đó là cái cớ, là dẫn đề cho những bài viết, bài nói nhằm dụng ý xấu.
Để ngăn chặn tình trạng phát ngôn thiếu trách nhiệm, thiếu cân nhắc, dễ bị lợi dụng vào muc đích tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, trong Quy định số 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 về "Những điều đảng viên không được làm” của Ban Chấp hành Trung ương, đã có 3 điều quy định liên quan đến phát ngôn của cán bộ, đảng viên, đó là: “Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng (Điều 1); Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước (Điều 2); Viết bài, cho đăng tải tin, bài sai sự thật (Điều 3)… Cụ thể hóa về những điều đảng viên không được làm, Đảng đã ra Quy định số 181-QĐ/TW, ngày 30-3-2013 về “Xử lý đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng”. Trong văn bản này đã có những quy định cụ thể. Điều 9, Chương II “Về vi phạm kỷ luật tuyên truyền, phát ngôn”, quy định như sau: “a) Tuyên truyền, sao chép, tán phát, cung cấp thông tin,… kích động, chống Đảng, Nhà nước dưới mọi hình thức; b) Tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí và các phương tiện truyền thông khác”. Điều 2 đã ghi rõ những trường hợp phải xử lý kỷ luật nặng hơn, đó là: “d) Tàng trữ, tuyên truyền,… tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đ) Trả lời phỏng vấn, cho đăng tải tin, bài trên các phương tiện thông tin đại chúng có nội dung sai sự thật, mang tính kích động; e) Lợi dụng việc phát ngôn, chất vấn, trả lời chất vấn, nhân danh việc phản ánh, góp ý vào dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng, dự thảo Hiến pháp, pháp luật, thư ngỏ, hồi ký để đưa ra các quan điểm, thông tin gây tổn hại uy tín của Đảng, Nhà nước”.
Trong những năm qua, do tình hình kinh tế thế giới rơi vào suy thoái, kinh tế trong nước gặp nhiều khó khăn, nhiều doanh nghiệp phá sản, ngừng hoạt động, hàng tồn kho quá lớn, nợ xấu, thất nghiệp… cùng với những phức tạp trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia ở Biển Ðông, đặc biệt là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên các cấp đã tạo ra những bức xúc về tâm tư, tình cảm trong nhân dân, nhất là đối với nhiều cán bộ, đảng viên đã từng trải qua những thời kỳ cách mạng đầy khó khăn, gian khổ. Công bằng mà nói, những bức xúc đó là có thể thông cảm được. Phải thừa nhận, không ít ý kiến đóng góp có trách nhiệm của cán bộ, đảng viên là chân thành, thẳng thắn, xuất phát từ mong muốn xã hội ta lành mạnh hơn, Đảng, Nhà nước ta trong sạch hơn, đủ sức lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng… Tuy nhiên, cũng có những phát ngôn, trong đó có những bài viết, "tâm thư", "góp ý" của cán bộ, đảng viên tự do tán phát trên mạng internet đã bị kẻ xấu lợi dụng. Chẳng hạn, lợi dụng ý kiến của một số cán bộ, đảng viên góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, người ta tuyên truyền cho quan điểm “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được ghi trong Điều 4 Hiến pháp năm 1992. Lợi dụng việc viết hồi ký, người ta xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, tuyên truyền cho nhận thức sai trái rằng,lịch sử cách mạng Việt Nam chỉ toàn là những trang đen tối; các cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lược dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là do Đảng Cộng sản chủ trương đấu tranh bạo lực gây ra, đó là cuộc chiến “nồi da nấu thịt” (!). Lợi dụng ý kiến của một vài đồng chí cán bộ lão thành về mở rộng dân chủ, chống bệnh giáo điều về lý luận, bệnh quan liêu trong hệ thống chính trị, họ đòi xóa bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, xóa bỏ vai trò kinh tế nhà nước, xóa bỏ con đường XHCN. Lợi dụng chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm”, họ tuyên truyền cho quan điểm rằng, chỉ có xóa bỏ chế độ “độc tài đảng trị” thì mới xóa bỏ được tham nhũng. Lợi dụng những bức xúc của nhân dân ta trong vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo, họ phớt lờ những nỗ lực to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và cố ý vu cáo Đảng, Nhà nước ta là "nhu nhược", “bán đất, bán nước” (!).
Bằng nhiều con đường và phương thức khác nhau, những phát ngôn thiếu trách nhiệm, thiếu thận trọng của một số cán bộ, đảng viên đã ngay lập tức được các hãng thông tấn, báo chí ngoài nước “bắt sóng”, post bài, sao chép, nhân bản, phỏng vấn, kèm theo những câu hỏi gợi mở, “định hướng” cho người tham gia trả lời hướng đến những mục tiêu chính trị của họ. Đó là làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từng bước chuyển xã hội Việt Nam sang mô hình ngoại nhập, mô hình xa lạ với truyền thống dân tộc, xóa bỏ mọi thành quả cách mạng của nhân dân ta.
Trong khoa học thông tin về chính trị-xã hội, đôi khi do thiếu kinh nghiệm, do sơ suất, thiếu thông tin hay do ngộ nhận, không ít trường hợp, những thiện chí, những mục tiêu tốt đẹp của người viết, người nói đã bị kẻ xấu lợi dụng, làm tổn hại đến sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Thủ đoạn mà người ta thường dùng là đánh tráo mục tiêu với phương tiện, đồng thời tâng bốc các tác giả. Chẳng hạn người ta tảng lờ, bỏ qua động cơ tốt đẹp, những thiện chí của người viết, người nói, chỉ trích dẫn thông tin một chiều, nhấn mạnh, bình luận, khai thác những ngôn từ sơ hở, thiếu chặt chẽ, thiếu cân nhắc, những phân tích, lập luận sai trái của người viết, người trả lời phỏng vấn. Hoặc những ý kiến giản đơn của người viết, người nói được người ta bình luận là “những quan điểm lý luận sâu sắc”, “ý kiến tâm huyết, cởi mở” và cả “sự dũng cảm về chính trị” (!).
Đối với cán bộ, đảng viên thì không có biện hộ nào cho mình, trái lại phải đối diện với lương tâm và trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân và trước lịch sử về những phát ngôn tùy tiện, cẩu thả của mình.
Luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, nêu cao trách nhiệm trước Đảng, trước đất nước và nhân dân, chủ động kiềm chế, biết vượt qua chính mình, chia sẻ với Đảng, nhận lấy một phần trách nhiệm nào đó về những sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là đối với những đảng viên lâu năm, từng giữ các cương vị lãnh đạo, quản lý; bình tâm xem xét, đánh giá một cách khách quan, công bằng các quá trình và sự kiện lịch sử cơ bản; tuân thủ những nguyên tắc, quy định của tổ chức đảng, giữ nghiêm kỷ luật phát ngôn ở mọi lúc, mọi nơi là điều đặc biệt cần thiết đối với mọi cán bộ, đảng viên trong bối cảnh chính trị hiện nay.
 BẮC HÀ - NGỌC VÂN