Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số

Thứ bảy, 25/04/2026 - 07:00

NGUYỄN HÒA

Sau những thất bại bởi sự vào cuộc quyết liệt của lực lượng chức năng và sự cảnh giác của toàn thể nhân dân, các thế lực thù địch quyết không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” khi tiếp tục thực hiện nhiều thủ đoạn tấn công Việt Nam thông qua cuộc "xâm lăng mềm" bằng văn hóa. Chúng đang tìm mọi cách để biến Việt Nam thành “thuộc địa văn hóa” trong thời đại số. Muốn ngăn cuộc xâm lăng này, cần sự chung tay, góp sức từ tất cả các lực lượng trong xã hội.

Bài 1: Mối họa xâm lăng văn hóa 

Hàng vạn tài khoản, hội nhóm bị chi phối bởi các thế lực thù địch, hằng ngày thông qua các công cụ sáng tạo số đã tung ra hàng nghìn thông tin bịa đặt, xấu độc, tuyên truyền lối sống, văn hóa lai căng không phù hợp, đáp ứng thị hiếu tầm thường của nhiều người dân, trong đó có không ít bạn trẻ. Mỗi ngày một chút, các thế lực thù địch từng bước âm thầm định hướng sự lệch lạc về văn hóa, để sau một thời gian, không ít người sẽ bị dẫn dắt, từng bước quên đi gốc gác của chính mình.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Học sinh tại Trường Tiểu học Nam Du (Đặc khu Kiên Hải, tỉnh An Giang).

Những “cơn gió độc” ngoại bang đang công khai xâm lăng văn hóa của chúng ta trên các nền tảng kỹ thuật số

Không phải tự dưng hiện tượng tin giả, hiện tượng lật sử, bôi nhọ cá nhân, đường lối chủ trương cứ đến dịp những ngày lễ lớn, mỗi dịp có sự kiện chính trị trọng đại của đất nước lại rộ lên. Không phải tự dưng nhiều nhiều hành vi thiếu văn hóa được “ca tụng” trên môi trường thông tin số. Không phải tự dưng hàng vạn, hàng triệu đoạn video được đăng tải trên các nền tảng khác nhau đang "ru ngủ" và biến một bộ phận người dân thành những con “nghiện” lối sống lai căng từ bên ngoài.

Các cuộc điều tra, cả công khai và bí mật của lực lượng chức năng đã chứng minh: Những thông tin tiêu cực trên nền tảng số trong thời gian mấy năm trở lại đây là biến tướng trong thời đại số của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch nhằm vào Việt Nam. Thông qua các công cụ, dựa trên nền tảng số, chúng công kích những nét đẹp của văn hóa truyền thống Việt Nam. Dùng văn hóa “ngoại bang” từng bước phá hoại nền tảng, thẩm thấu tinh vi, rồi đồng hóa văn hóa trong nước.

Chúng ta có thể thấy rõ, văn hóa đang bị tấn công toàn diện. Mỗi ngày, thói hư tật xấu vẫn được phô khắp các trang báo, nền tảng mạng xã hội. Những bài viết, ấn phẩm được cài cắm tinh vi mang đầy ác cảm, hơi thở của tư tưởng phản động, xu thế dẫn dắt của văn hóa ngoại lai.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Một chút thư giãn của những người lính trẻ đang đóng quân tại đặc khu Trường Sa.

Quá trình mở cửa 40 năm qua, không ít “cơn gió độc” của làn sóng văn hóa ngoại hiện đang công khai xâm lăng chúng ta trên các nền tảng kỹ thuật số; các thế lực phản động đang tạo ra một cuộc chiến âm thầm để loại bỏ từ gốc rễ văn hóa một dân tộc. “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Trong bối cảnh hiện nay, câu tuyên ngôn bất hủ của đại văn hào Nga M. Gorki: Đối với tôi, lời kêu gọi Tổ quốc lâm nguy cũng không đáng sợ hơn lời kêu gọi: Hỡi các công dân! Văn hóa bị lâm nguy!” chưa mất tính thời sự. Đây chính là lời cảnh tỉnh, nhắc nhở mỗi quốc gia trước mối họa xâm lăng văn hóa.

Cuộc xâm lăng diễn ra nhanh chóng và vô cùng quyết liệt trên lĩnh vực văn hóa

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, người có nhiều năm theo dõi công tác văn hóa nhận định rằng: Trong thời đại số, điều đáng lo không chỉ là xâm lăng văn hóa theo nghĩa cũ, tức là sự áp đặt trực diện từ bên ngoài, mà điều thực sự đáng sợ là sự thẩm thấu âm thầm, liên tục, có khả năng đi qua mọi ranh giới không gian, ngôn ngữ và tâm lý.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Cán bộ, chiến sĩ và người dân trên xã đảo Sinh Tồn cùng nhau gói bánh chưng đón Tết.

Các hệ thống đề xuất nội dung đang làm thay đổi cách con người tiếp nhận, sản xuất và lan truyền giá trị văn hóa. Nếu trước đây văn hóa ngoại lai đi vào qua sách báo, điện ảnh, truyền hình, thì hôm nay nó đi vào qua từng video ngắn, từng bản nhạc, từng xu hướng ăn mặc, từng câu nói cửa miệng, thậm chí qua cả cách con người nghĩ, phản ứng và tự định nghĩa bản thân. Đó là một dạng tác động rất sâu.

Đúng là một cuộc xâm lăng tuy âm thầm, tĩnh lặng, nhưng lại đang diễn ra nhanh chóng và vô cùng quyết liệt trên lĩnh vực văn hóa. Sức tàn phá từ cuộc xâm lăng này có thể khiến cả một dân tộc, an ninh quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nhất là trong bối cảnh công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, nền tảng mạng xã hội ngày càng phát triển một cách đa dạng. Công nghệ càng tinh khôn, mức độ nguy hiểm từ cuộc xâm lăng văn hóa lại càng nghiêm trọng.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Chùa Côn Sơn (TP Hải Phòng) là một trong những di tích có phong cảnh đẹp, linh thiêng được nhiều du khách tham quan, chiêm bái.

Biểu hiện cụ thể thì có thể thấy ở nhiều tầng. Trước hết, đó là sự lai căng trong thị hiếu, khi một bộ phận người trẻ dễ tiếp nhận cái mới, nhưng lại thiếu bộ lọc để phân biệt giữa sáng tạo và lệch chuẩn, giữa hội nhập và hòa tan. Tiếp đó là sự mờ nhạt dần của các giá trị cốt lõi như lòng hiếu kính, tính cộng đồng, sự chừng mực, tinh thần trách nhiệm với gia đình và xã hội. Nguy hiểm hơn, sự lan truyền nhanh của nội dung độc hại, xuyên tạc lịch sử và các giá trị thiêng liêng. Nguy cơ bị thuật toán dẫn dắt thị hiếu, biến con người thành người bị động, thay vì chủ thể sáng tạo văn hóa.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Người dân ở Gia Lai đi lễ nhà thờ vào sáng chủ nhật hằng tuần.

Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. 

Những “họng súng” thông tin nã vào giới trẻ

Trong kỷ nguyên số, khi sự giao lưu và trao đổi văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa kéo theo sự giao thoa, trao đổi, tương tác rất mạnh, văn hóa được xem là vũ khí hữu hiệu khi nó trở thành công cụ, vũ khí mềm mà những nước lớn, các thế lực thù địch sử dụng để tiến hành cuộc xâm lăng mềm, xâm lăng bằng văn hóa. Với mục tiêu đạt tới là đồng hóa văn hóa, tiến tới nô dịch văn hóa và bước cuối cùng là thay đổi văn hóa, nô dịch, biến nước ta thành “thuộc địa văn hóa” trong thời đại số.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Niềm vui giản dị của hai mẹ con chị Huyền, một hộ gia đình sống tại xã đảo Sinh Tồn.

“Chiến thuật” mà các đối tượng phản động sử dụng công khai nhất chính là tạo ra các thông tin lịch sử thật giả lẫn lộn để từng bước xét lại, lật lại lịch sử, làm cho giới trẻ trong xã hội, nhất là thanh niên trong lực lượng vũ trang mất phương hướng, không biết đâu là chính nghĩa, đâu là đúng, đâu là sai, từ đó chúng dẫn dắt thanh niên trong xã hội đi theo con đường sai trái, phản bội lại lý tưởng của dân tộc, phủ nhận quá khứ dân tộc, quá khứ hào hùng của đất nước, Quân đội trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập tự do cho toàn thể nhân dân.

Vẫn còn nhiều người nhận thức mơ hồ về cuộc xâm lăng văn hóa

Trong không gian ảo - là các sản phẩm mạng xã hội do các nước phương Tây tạo ra đang giam cầm tâm hồn nhiều người, chứ không chỉ có giới trẻ. Không gian ảo này tồn tại song hành với thế giới thật, thông tin của nó khiến nhiều người không vững vàng tâm lý bị sa vào ma trận, vòng vây, dần bị thẩm thấu văn hóa ngoại lai, rời xa các giá trị, đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Người dân tại xã đảo Song Tử Tây đi lễ chùa đầu năm.

Các đối tượng thù địch từ bên ngoài sử dụng rất nhiều chiêu bài tinh vi, như: Viết bài kích động hận thù dân tộc, phủ nhận quá khứ đấu tranh hào hùng của dân tộc ta, nhân dân ta, quân đội ta; phủ nhận phong tục tập quán, nét đẹp văn hóa, hồn cốt của dân tộc, tổ tiên; quên ơn tổ tiên, những người đã hy sinh cho đất nước; không nhớ đến đạo lý tổ tiên; gia phong... Từng bước làm cho giới trẻ quên đi gốc gác từ gia đình, đến xã hội, rồi lịch sử. Tới cuối cùng là mất sạch gốc gác, phủ nhận gia đình, đất nước và văn hóa của dân tộc.

Đáng buồn và đáng lo là nhiều bạn trẻ cho rằng những thứ văn hóa bị nô dịch kia lại là điều hay ho, mới mẻ, phù hợp với giới trẻ Việt Nam. Họ lớn tiếng chứng minh trên tài khoản mạng xã hội của mình rằng, làm gì có cuộc xâm lăng văn hóa nào, làm gì có chuyện giới trẻ bị đồng hóa văn hóa, không bao giờ chúng ta là “thuộc địa văn hóa”.

Chúng tôi thích xem phim Mỹ, phim Hàn Quốc, phim Nhật Bản; chúng tôi giải trí với trò chơi, phim ảnh, sách báo, mạng xã hội của nước ngoài đều đã được cấp phép thì có gì sai đâu. Chúng tôi thích theo chân các thần tượng nước ngoài là bởi họ có ngoại hình đẹp, tài năng, chúng tôi muốn học hỏi để được thành công như họ... Giới trẻ chỉ muốn nhìn thấy thành công bề ngoài, họ đâu muốn được gì từ sự nỗ lực vươn lên để có được thành công của chính những “thần tượng”.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Với mỗi ngư dân, lá cờ Tổ quốc là hành trang không thể thiếu trong mỗi chuyến ra khơi.

Chính sự hời hợt, lai căng đã làm lên những anh hề thực sự trên các kênh sóng truyền hình của không ít địa phương thời gian qua. Những chương trình nhạt nhẽo, thậm chí phản giáo dục khi lời ăn tiếng nói, kịch bản chương trình dường như đã bị chi phối bởi các thế lực phản động cố tình hạ thấp giá trị văn hóa Việt Nam.

Mất gốc, mất nền tảng văn hóa thì sẽ mất đi tư tưởng, động cơ làm người, động cơ hy sinh cho đất nước

Thật đáng buồn khi nhiều người, trong đó có nhiều người trẻ - là tương lai của đất nước - lại “tự nguyện” đi lấy văn hóa nước khác để tự đồng hóa mình, biến mình thành một người xa lạ trên chính quê hương mình.

Tại sao các thế lực thù địch lại tấn công vào giới trẻ. Theo PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội, những đối tượng dễ bị tấn công văn hóa nhất thường không phải vì họ yếu kém, mà vì họ đang ở những vị trí dễ tổn thương hơn trước sự biến động dữ dội của thời đại số.

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Các chiến sĩ trẻ đóng quân trên các đảo thuộc đặc khu Trường Sa có cuộc sống tinh thần rất phong phú.

Trước hết là thanh thiếu niên, đặc biệt là những em lớn lên cùng màn hình, tiếp xúc thông tin sớm nhưng chưa được trang bị đầy đủ năng lực chọn lọc và phản biện. Kế đến là những nhóm thường xuyên sống trên không gian mạng nhưng thiếu nền tảng văn hóa, lịch sử, pháp luật; những người lao động di cư, nhóm yếu thế về điều kiện tiếp cận giáo dục; và cả một bộ phận cán bộ, phụ huynh, giáo viên nếu chưa theo kịp nhịp chuyển động của công nghệ.

Nói rộng ra, bất cứ ai có đời sống tinh thần trống rỗng, ít gắn bó với cộng đồng, ít tiếp xúc với các giá trị chân thực của văn hóa dân tộc, đều có thể trở thành đối tượng bị xâm nhập. Vấn đề không nằm ở tuổi tác hay nghề nghiệp, mà nằm ở sức đề kháng văn hóa.

Giải thích về suy nghĩ lệch lạc của không ít bạn trẻ, TS Nguyễn Ánh Hồng, nguyên Trưởng khoa Văn hóa và Phát triển, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cho biết: Các bạn trẻ Việt Nam đang sống trong thời đại công nghệ số với tâm lý thích khám phá, thích thể hiện cái tôi cá nhân của mình, thích cái mới và thích sự thay đổi, nhưng lại chưa có đủ độ chín chắn, chưa đủ trải nghiệm, chưa đủ bản lĩnh để có thể phân biệt được đâu là những giá trị tích cực, đâu là giá trị tiêu cực từ bên ngoài đưa vào. Thế nên, một cách vô thức bị tác động, ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa ngoại lai. Các thế lực thù địch đã triệt để khai thác tác động tiêu cực của mạng xã hội, sử dụng nó trở thành một phương tiện thực hiện âm mưu "diễn biến hòa bình", chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. 

Cuộc "xâm lăng mềm" nhằm biến Việt Nam thành "thuộc địa văn hóa" trong thời đại số
Ngay từ nhỏ, trẻ em ở tỉnh Phú Thọ đã được gia đình giáo dục về ý thức giữ gìn nét đẹp của trang phục truyền thống.

TS Nguyễn Ánh Hồng cho rằng, vì lo ngại các mạng xã hội có thể làm “hỏng” thế hệ trẻ, nhiều quốc gia đã hạn chế thời gian sử dụng mạng xã hội của giới trẻ, thậm chí có quốc gia cấm hẳn trẻ em không được sử dụng mạng xã hội khi chưa đến tuổi.

Ở Việt Nam, thử hỏi, khoảng vài chục triệu thanh niên, ai cũng học theo lối sống ảo, ai cũng bị văn hóa ngoại lai đồng hóa, đất nước ta sẽ phát triển thế nào, văn hóa của Việt Nam sẽ bị thay đổi ra sao, chúng ta có giữ được nền tảng văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc để phát triển xã hội một cách toàn diện.

Đúng là, nếu ai cũng sùng ngoại, sính ngoại như vậy, cũng tự mình muốn giống nước ngoài như vậy, quốc gia ấy có lẽ sẽ trở bản sao của một nước khác. Thậm chí, không ít người mắc bẫy các thế lực thù địch, quay trở lại trở thành công cụ của bên ngoài để phá hoại đất nước./. 

(còn nữa...) 

Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang

Thứ sáu, 24/04/2026 - 12:31

VƯƠNG NGHĨA - ĐÀO NAM

Hiện đại hóa Quân đội nhân dân Việt Nam là yêu cầu khách quan nhằm bảo vệ vững chắc Tổ quốc, đồng thời là sự kế thừa nhất quán truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Tuy nhiên, một số luận điệu xuyên tạc cố tình đánh tráo khái niệm, đồng nhất quá trình này ở Việt Nam với “chạy đua vũ trang”. Bài viết làm rõ bản chất sai trái của luận điệu đó, khẳng định tính tất yếu và chính nghĩa của việc hiện đại hóa Quân đội.

Tính tất yếu, khách quan phải hiện đại hóa Quân đội

Thế giới đang chứng kiến những biến động phức tạp, khó đoán định và ngày càng tiềm ẩn nhiều nguy cơ xung đột. Hòa bình và ổn định toàn cầu đang đứng trước thách thức nghiêm trọng, khi các nguyên tắc luật pháp quốc tế bị xói mòn bởi những hành vi can thiệp chủ quyền, áp đặt trừng phạt, các liên minh có dấu hiệu rạn nứt... Trong bối cảnh đó, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu khách quan để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong điều kiện các hình thái chiến tranh và môi trường tác chiến đang thay đổi sâu sắc.

Thời gian qua, Việt Nam đầu tư mua sắm khí tài, tập trung phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để xây dựng nền công nghiệp quốc phòng tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại. Trọng tâm là làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược nhằm tăng cường thực lực quốc phòng.

Tuy vậy, một số đài báo nước ngoài thiếu thiện chí và các phần tử phản động thông qua mạng xã hội, cố tình xuyên tạc những hoạt động củng cố quốc phòng chính đáng của Việt Nam lại bị gán ghép thành hành vi “đe dọa ổn định khu vực”, bị quy kết là “chạy đua vũ trang”. Chúng cố tình lờ đi bản chất nền quốc phòng hòa bình, tự vệ của chúng ta để hướng dư luận vào cái bẫy nhận thức rằng: Việt Nam đang “dồn lực cho quân sự”, “quân sự hóa đất nước”, “bỏ quên an sinh xã hội”.

Chúng cố tình áp đặt cách nhìn phiến diện từ các cuộc xung đột quân sự gần đây trên thế giới vào Việt Nam, bất chấp sự khác biệt căn bản về đường lối quốc phòng, điều kiện lịch sử và mục tiêu chiến lược, từ đó dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch. Mục tiêu là làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào đường lối quốc phòng của Đảng; từng bước chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Quân đội và nhân dân, giữa củng cố quốc phòng với ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội. Nguy hiểm hơn, đó còn là bước đi nhằm thúc đẩy âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội, tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng.

Từ những bài học xương máu trong lịch sử dẫn đến họa xâm lăng, đất nước mất độc lập, nhân dân mất tự do, đã chứng minh một chân lý: Muốn giữ vững hòa bình, phải có đủ sức mạnh để bảo vệ hòa bình ấy.

Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang
 
Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang
 
Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang

Các loại vũ khí, khí tài quân sự hiện đại tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, năm 2025. Ảnh: NGÔ VIỆT TRUNG

Trong bối cảnh hiện nay, yêu cầu bảo vệ chủ quyền quốc gia đã vượt xa phạm vi của chiến tranh truyền thống. Chủ quyền không chỉ bị đe dọa ở biên giới trên bộ hay trên biển, mà còn trên không gian mạng, không gian thông tin, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước và các thách thức an ninh phi truyền thống khác. Các hình thái chiến tranh hỗn hợp, chiến tranh thông tin, chiến tranh công nghệ cao đang đặt ra những yêu cầu hoàn toàn mới đối với năng lực bảo vệ Tổ quốc. Một quân đội không được hiện đại hóa sẽ không thể đủ sức đối phó với chiến tranh hiện đại, chưa nói đến giành thắng lợi.

Những cuộc xung đột gần đây trên thế giới cho thấy ưu thế quyết định ngày càng thuộc về các lực lượng làm chủ công nghệ, tác chiến điện tử, tác chiến mạng, hệ thống chỉ huy thông minh và vũ khí chính xác cao.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một Quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc” [1]. Tư tưởng nhất quán của Người là xây dựng Quân đội mạnh không phải để tiến hành chiến tranh, mà để ngăn ngừa chiến tranh, giữ vững hòa bình và bảo vệ thành quả cách mạng. Hòa bình bền vững không thể chỉ dựa vào thiện chí, mà phải được bảo đảm bằng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh và sức mạnh răn đe cần thiết. Một nền quốc phòng vững chắc chính là điều kiện quan trọng để phòng ngừa xung đột, bảo vệ độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia, dân tộc.

Kế thừa và phát triển tư tưởng đó, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh xây dựng Quân đội hiện đại, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, “làm chủ một số công nghệ nền, công nghệ lõi; sản xuất, chế tạo thành công nhiều chủng loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, chiến lược và một số loại nhiên liệu đặc chủng, sản phẩm lưỡng dụng, công nghệ cao” [2]. Đây không phải là sự lựa chọn cảm tính hay biểu hiện của chạy đua vũ trang, mà là kết quả của tư duy chiến lược, tầm nhìn dài hạn và yêu cầu khách quan của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Xây dựng Quân đội hiện đại, vì thế, là yêu cầu tất yếu để bảo đảm đất nước không bị bất ngờ về chiến lược, đủ sức tự vệ và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nghĩa là không đợi chiến tranh xảy ra mới chuẩn bị đối phó, mà phải chủ động tạo thế và lực đủ mạnh để ngăn ngừa nguy cơ xung đột ngay từ đầu. Muốn như vậy, Quân đội cần vững mạnh về chính trị, hiện đại về tổ chức, trang bị và phương thức tác chiến.

Xây dựng quân đội hiện đại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa

Đây là vấn đề cốt lõi cần nhấn mạnh và khẳng định dứt khoát: Xây dựng Quân đội hiện đại và chạy đua vũ trang là hai phạm trù hoàn toàn khác nhau cả về mục tiêu, bản chất và phương thức triển khai. Cố tình đồng nhất hai khái niệm này không chỉ là sự ngụy biện học thuật, mà còn là thủ đoạn chính trị nhằm xuyên tạc đường lối quốc phòng của Việt Nam.

Trước hết, hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam mang mục tiêu phòng thủ, không phải tấn công. Bản chất của nền quốc phòng Việt Nam là quốc phòng hòa bình, tự vệ, vì nhân dân, bảo vệ nhân dân. Việt Nam không theo đuổi học thuyết quân sự dựa trên sức mạnh áp đặt, không chủ trương sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp quốc tế, càng không lấy việc mở rộng ảnh hưởng quân sự làm mục tiêu chiến lược.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 khẳng định nguyên tắc “4 không”: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Một quốc gia cam kết “4 không” thì không thể bị coi là đang chạy đua vũ trang. Từ nguyên tắc đó, “chính sách Quốc phòng của Việt Nam mang tính chất hòa bình và tự vệ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh giải quyết mọi tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế” [3]; “Việt Nam phản đối các hoạt động chạy đua vũ trang” [4]... “tích cực hợp tác cùng các quốc gia khác giải quyết các vấn đề an ninh đang nổi lên, góp phần bảo vệ hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới” [5].

Như vậy, một quốc gia lấy hòa bình làm nền tảng chiến lược, lấy tự vệ làm bản chất quốc phòng, lấy hợp tác quốc tế làm phương thức bảo đảm an ninh, không thể bị quy chụp là theo đuổi chạy đua vũ trang chỉ vì thực hiện quyền chính đáng trong việc củng cố năng lực bảo vệ Tổ quốc.

Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang
 
Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang
 
Không thể đánh tráo khái niệm hiện đại hóa Quân đội với chạy đua vũ trang

Các loại vũ khí, khí tài quân sự hiện đại tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, năm 2025. Ảnh: NGÔ VIỆT TRUNG

Thứ hai, Việt Nam xây dựng Quân đội theo nguyên tắc “đủ mạnh để bảo vệ”, chứ không phải mạnh để áp đảo. Nếu chạy đua vũ trang là không ngừng gia tăng sức mạnh quân sự nhằm tạo ưu thế vượt trội so với đối thủ, thì hiện đại hóa Quân đội của Việt Nam nhằm đạt năng lực phòng thủ trước những nguy cơ ngày càng phức tạp. Việt Nam không phát triển quân sự theo hướng ồ ạt, không chạy theo số lượng vũ khí, không đầu tư quốc phòng bằng mọi giá để tạo ưu thế quân sự. Mọi quyết sách quốc phòng đều đặt trong sự cân đối tổng thể với ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh, nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm quốc phòng vững mạnh nhưng không làm tổn hại đến mục tiêu phát triển đất nước.

Thứ ba, nền quốc phòng Việt Nam được xây dựng trên nền tảng quốc phòng toàn dân. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc không chỉ nằm ở trang bị kỹ thuật hay quy mô lực lượng vũ trang, mà trước hết nằm ở thế trận lòng dân, ở sự kết hợp chặt chẽ giữa quốc phòng với kinh tế, giữa lực lượng vũ trang với nhân dân, giữa bảo vệ Tổ quốc với phát triển đất nước. Đây là mô hình hoàn toàn khác với logic của chạy đua vũ trang - vốn đặt trọng tâm vào cạnh tranh sức mạnh quân sự thuần túy. Việt Nam không xây dựng quân đội tách rời xã hội, mà xây dựng quốc phòng từ nền tảng toàn dân, toàn diện, gắn với mục tiêu giữ nước trong hòa bình.

Trên thực tế, Việt Nam đã tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, cử cán bộ, chiến sĩ tới các phái bộ quốc tế, góp phần trực tiếp vào gìn giữ hòa bình toàn cầu. Một quốc gia tham gia gìn giữ hòa bình quốc tế không thể bị gán ghép là mối đe dọa đối với hòa bình khu vực. Bên cạnh đó, Việt Nam duy trì quan hệ hợp tác quốc phòng rộng mở với nhiều quốc gia trên cơ sở bình đẳng, minh bạch và vì hòa bình.

Bởi vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam hiện đại hóa Quân đội là “chạy đua vũ trang” là cố tình bóp méo bản chất, phủ nhận quyền tự vệ chính đáng của một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam xây dựng Quân đội hiện đại không phải để gây chiến tranh, mà để ngăn ngừa chiến tranh; không phải để đe dọa ai, mà để không bị đe dọa; không phải để chạy đua, phô trương sức mạnh, mà để giữ vững hòa bình cho phát triển đất nước.

Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là yêu cầu tất yếu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là trách nhiệm với lịch sử và tương lai dân tộc.


[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 11, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.587

[2] Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Phó thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, ngày 21-1-2026.

[3] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 25

[4] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 26

[5] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam 2019, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2019, tr. 26 

Định vị đúng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng

Thứ năm, 23/04/2026 - 05:28

Thượng tá, PGS, TS ĐỖ NGỌC HANH, Phó chủ nhiệm Khoa Triết học Mác - Lênin, Trường Sĩ quan Chính trị 

Những vấn đề được bàn và quyết nghị tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV mới đây chính là những “hành lang pháp lý”, “quy tắc vận hành”, những “nguyên tắc kỷ luật”, “chuẩn mực hành động” để đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo nền tảng vững chắc hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của dân tộc. Trong đó, việc định vị đúng vị trí công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng là một yêu cầu, nhiệm vụ rất quan trọng và cấp thiết của mọi cán bộ, đảng viên.

Buông lỏng là nguyên nhân gây chệch hướng chủ nghĩa xã hội

Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là “khối bộc phá” gây nên "cơn địa chấn" sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm 90 của thế kỷ 20. Một trong những nguyên nhân chính để “khối bộc phá” khủng khiếp ấy hình thành và nổ tung là sự buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Cộng sản Liên Xô. Xin được trích dẫn một số nội dung trong bài viết “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?” của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trên Tạp chí Cộng sản năm 1992: Với khẩu hiệu “Trả lại chính quyền cho nhân dân”, “Tất cả chính quyền về tay Xô viết”, chủ trương xóa Điều 6 trong Hiến pháp Liên Xô (khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đối với toàn xã hội), họ từng bước hạ thấp rồi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trong hành động thực tế, người ta không chăm lo củng cố các tổ chức đảng, không giữ vững các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, xem nhẹ vấn đề lãnh đạo nhà nước thông qua các tổ chức đảng, làm cho hệ thống tổ chức của đảng rệu rã, kỷ luật lỏng lẻo; tổ chức đảng không kiểm tra, giám sát đảng viên, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng quá yếu. Hàng trăm nghìn tổ chức cơ sở đảng rơi vào tình trạng yếu kém. Quả thật, sự buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đã gây nên tổn thất hết sức nặng nề, đau buồn và “những chấn động bàng hoàng trong những người cộng sản trên toàn thế giới”.

Định vị đúng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh: TTXVN 

Đại thi hào Nguyễn Du từng viết trong Truyện Kiều: “Trông người mà ngẫm đến ta”. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thẳng thắn chỉ ra: Trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.380 đảng viên do tham nhũng, 313 đảng viên do vi phạm về kê khai tài sản, thu nhập; hơn 29.600 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm trách nhiệm nêu gương và những điều đảng viên không được làm. Trong nhiệm kỳ này đã xử lý kỷ luật 174 cán bộ diện Trung ương quản lý, có cả một số đồng chí nguyên lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước; trong đó xử lý hình sự 66 cán bộ, kể cả đương chức và nghỉ hưu

Còn nhớ, vụ án Tập đoàn Vạn Thịnh Phát và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn (SCB) vào năm 2023-2024, một trong những vụ bê bối kinh tế rất lớn, đoàn thanh tra Ngân hàng Nhà nước tại SCB đã bỏ qua sai phạm, báo cáo không trung thực về thực trạng tài chính yếu kém của SCB, giúp bà Trương Mỹ Lan lừa đảo, gây thiệt hại số tiền đặc biệt lớn. Cựu Cục trưởng Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng II (Cục II), Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Đỗ Thị Nhàn nhận hối lộ số tiền rất lớn. Đây là hậu quả rất nghiêm trọng do buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, len lỏi vào các cơ quan bảo vệ pháp luật như kiểm sát, thanh tra. Hay vụ việc Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2020-2025 (từ đầu nhiệm kỳ đến tháng 9-2024) đã vi phạm quy định về quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, buông lỏng công tác kiểm tra, giám sát, gây hậu quả nghiêm trọng, làm thất thoát lớn ngân sách nhà nước, làm giảm uy tín của tổ chức đảng. Những vụ việc điển hình trên cho thấy công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng vẫn bị một số cấp ủy, tổ chức đảng làm qua loa, hình thức. 

Cũng trong nhiệm kỳ, nguyên tắc tổ chức của Đảng ở một số nơi không được giữ nghiêm, bị buông lỏng; nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm, tự phê bình và phê bình yếu, có nơi chỉ là hình thức; dân chủ chưa tốt, tính chiến đấu của nhiều tổ chức đảng và đảng viên sa sút; quan hệ nội bộ có lúc, có nơi bị đồng tiền và quyền lực chi phối. Đặc biệt, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và quan liêu, lợi ích nhóm, tham nhũng diễn ra ngày càng tinh vi, trầm trọng, từ lĩnh vực kinh tế đã lan sang cả các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, thậm chí là hoạt động từ thiện...

Một số cán bộ, đảng viên thì xa dân, ngại dân, không muốn đối thoại với dân, không quan tâm giải quyết những vấn đề bức xúc của dân, hệ quả là tình trạng khiếu kiện đông người, vượt cấp đã, đang và vẫn diễn ra. Có nơi, cán bộ, đảng viên làm sai, khi được quần chúng góp ý, phê bình thì không những không tiếp thu mà còn quay lại trù dập... Những “con sâu ấy” chẳng những làm tổn hại lớn đến tài sản của Nhà nước mà nguy hại hơn còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Mặt khác, chính họ tạo điều kiện cho các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch lợi dụng gây chia rẽ nội bộ Đảng, thực hiện âm mưu, hành động “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta. Theo đó, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải được chú trọng, đẩy mạnh để tích cực ngăn ngừa, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, quan liêu, tham nhũng, lợi ích nhóm, “sân sau”, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.

Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng - vấn đề sống còn của Đảng

Trong bài phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ rõ: Phải “định vị” thật đúng vị trí của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây không chỉ là công việc “giữ gìn nội bộ” mà là vấn đề sống còn của Đảng, là điều kiện tiên quyết để giữ vững niềm tin của nhân dân, giữ vững kỷ luật, sự thống nhất trong toàn Đảng, bảo đảm cho đường lối đúng được thực hiện nghiêm, cho quyền lực được kiểm soát chặt chẽ, cho cán bộ được rèn luyện và sàng lọc thường xuyên.

Thật vậy, “định vị đúng” công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng là yêu cầu cấp bách nhằm bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng và kiên định con đường chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng trực tiếp góp phần kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm, “tư duy nhiệm kỳ”, tha hóa quyền lực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường kiểm tra, giám sát có trọng tâm, trọng điểm và có tính đột phá; kiểm soát quyền lực chặt chẽ, hiệu quả; đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, với phương châm “không ngừng, không nghỉ”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ” (*). Theo đó, để công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng thực sự trở thành “thanh bảo kiếm của Đảng”, cần “định vị đúng tư duy”: Kiểm tra, giám sát không phải là “vạch lá tìm sâu” mà là để duy trì phương thức lãnh đạo chủ yếu, rất quan trọng nhằm giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Vì vậy, ngay sau Đại hội lần thứ XIV của Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải được quán triệt, triển khai toàn diện trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị.

Trước hết, cần rà soát, điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những hạn chế, thiếu sót, lỗ hổng, yếu kém trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Kiên quyết không để sai phạm kéo dài mà không được phát hiện từ sớm như vụ án xảy ra tại Cục Đăng kiểm Việt Nam và các trung tâm đăng kiểm các địa phương. Phải có cơ chế rõ ràng, cụ thể để ràng buộc cán bộ, đảng viên, tổ chức cơ sở đảng làm tốt, làm đúng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Người đứng đầu (cấp ủy, tổ chức đảng), từng cấp ủy viên, từng đảng viên nếu không tự phát hiện được sai phạm trong tổ chức cơ sở đảng mà mình lãnh đạo, để khi dư luận, báo chí lên tiếng, phát hiện mới “vào cuộc” đều bị xử lý kỷ luật về đảng, tùy vào mức độ.

Cùng với đó, khẩn trương khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh” trong nhiều mặt công tác, trong đó có công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng. Hiện nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ đang quyết liệt chỉ đạo sát sao, gương mẫu “làm từ trên”, “không có vùng cấm” trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung và công tác phòng, chống tham nhũng nói riêng, đã và đang đạt nhiều kết quả khả quan, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, tin tưởng. Đây là thời cơ tốt, thuận lợi, cần phải tận dụng, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và tiếp tục có những biện pháp quyết liệt hơn, hiệu quả hơn, để "hâm nóng" toàn bộ hệ thống của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng công tác tự kiểm tra, giám sát ngay từ cơ sở, chủ động phòng ngừa, cảnh báo, xử lý vi phạm từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành vi phạm lớn. Tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, chủ động phát hiện, xử lý nghiêm đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là khát vọng của nhân dân ta. Để “con thuyền cách mạng” không bị chệch hướng trước những "cơn sóng dữ" của thời đại, nhất là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng phải đóng vai trò là “bánh lái an toàn”, đồng thời là bộ định vị chính xác nhất. Như một tất yếu khách quan, chỉ khi nào công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng được làm tốt, khi đó mới có thể khẳng định: Đảng ta mạnh vì dân tin Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa vững vì Đảng luôn biết cách tự làm trong sạch mình để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

...............

(*) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr.388.