Chủ động ngăn ngừa suy thoái, phát triển bền vững công nghiệp văn hóa - Bài 2: Coi trọng giải quyết các mối quan hệ nội tại (Tiếp theo và hết)

Thứ sáu, 31/07/2026 - 05:30

Nhà văn PHAN TÙNG SƠN

Phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH) là quá trình kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo, nơi giá trị kinh tế, giá trị văn hóa và giá trị xã hội cùng song hành. Bởi vậy, bên cạnh các mục tiêu tăng trưởng, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu xử lý hài hòa các mối quan hệ nội tại của văn hóa, từ "xây" và "chống", truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế đến bảo tồn và phát triển, đời sống thực và không gian số... Đây chính là những trụ cột tạo sức đề kháng ngăn ngừa suy thoái, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong phát triển CNVH...

Lấy "xây" để "chống" và các mối quan hệ nội tại của văn hóa

Trong thực tiễn công tác quản lý nhà nước về văn hóa-nghệ thuật, mỗi khi xuất hiện một hiện tượng lệch chuẩn, phản ứng đầu tiên thường là yêu cầu tăng cường quản lý, siết chặt chế tài, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm. Đó là việc cần thiết, nhưng chưa đủ. Để lành mạnh hóa môi trường văn hóa không thể chỉ bằng các biện pháp hành chính; càng không thể chỉ trông chờ vào việc xử lý vi phạm sau khi hệ lụy đã xảy ra. Nếu "chống" là loại bỏ những yếu tố làm xói mòn các giá trị văn hóa thì "xây" mới là giải pháp căn cơ để hình thành sức đề kháng của xã hội, mà trước hết là đội ngũ nguồn nhân lực làm văn hóa trước những tác động tiêu cực.

Trong phát triển CNVH theo quan điểm của Đảng, "xây" trước hết là xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới; xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, trí thức, doanh nghiệp văn hóa có bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và năng lực sáng tạo; xây dựng thị trường văn hóa minh bạch, cạnh tranh lành mạnh; xây dựng môi trường sáng tạo tôn trọng pháp luật, quyền sở hữu trí tuệ và đạo đức nghề nghiệp. Đó cũng là quá trình tạo lập nền tảng để những giá trị tích cực được nuôi dưỡng và lan tỏa, để các sản phẩm văn hóa có giá trị tư tưởng và nghệ thuật có điều kiện đến với công chúng nhanh hơn, sâu rộng hơn.

Chủ động ngăn ngừa suy thoái, phát triển bền vững công nghiệp văn hóa - Bài 2: Coi trọng giải quyết các mối quan hệ nội tại (Tiếp theo và hết)

Phát triển công nghiệp văn hóa là quá trình kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo, nơi giá trị kinh tế, giá trị văn hóa và giá trị xã hội cùng song hành. Ảnh minh họa: vietnamhoinhap.vn 

Ngược lại, "chống" không chỉ dừng ở việc xử lý các biểu hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động văn hóa. Nội hàm của "chống" trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng rộng và sâu hơn nhiều. Đó là chủ động phòng ngừa và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn xu hướng thương mại hóa cực đoan, chạy theo thị hiếu tầm thường; đấu tranh với thông tin xấu độc, sản phẩm phản văn hóa, sự xuyên tạc lịch sử và các hành vi lợi dụng hoạt động văn hóa để truyền bá những quan điểm trái với lợi ích quốc gia-dân tộc. Không chỉ "chống" sự xâm nhập từ bên ngoài mà phải đặc biệt coi trọng "chống" từ bên trong, từ ngay trong tư duy, định hướng, mục đích sáng tạo của mỗi cá nhân. Quan điểm "lấy xây để chống" cần được cụ thể hóa trong chiến lược phát triển CNVH, thể hiện rõ trong các kế hoạch, chương trình hoạt động cụ thể. Mục tiêu của “xây” và “chống” không phải là hạn chế sáng tạo như một số quan điểm xuyên tạc mà bản chất là tạo lập một môi trường để sáng tạo phát triển đúng hướng, trên nền tảng các giá trị chân-thiện-mỹ và lợi ích quốc gia, dân tộc. 

TP Hồ Chí Minh là một ví dụ sinh động về vấn đề này. Với vai trò đầu tàu, TP Hồ Chí Minh đang hướng tới hình thành một thị trường văn hóa có quy mô lớn, xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh, đưa những giá trị tích cực trở thành động lực dẫn dắt hoạt động sáng tạo và kinh doanh văn hóa. Trong hành trình đó, phải đặc biệt coi trọng "xây" và "chống". Theo định hướng phát triển CNVH đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, cùng với việc tạo điều kiện cho sáng tạo phát triển, TP Hồ Chí Minh tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý phù hợp với môi trường số; tăng cường phối hợp với các nền tảng xuyên biên giới trong việc xử lý thông tin vi phạm; phát huy vai trò tự quản của các hội nghề nghiệp; nâng cao trách nhiệm xã hội và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ hoạt động văn hóa. Đây là điều kiện để bảo đảm sự phát triển lành mạnh của thị trường CNVH.

Trong bối cảnh mỗi cá nhân đều có thể trở thành người sáng tạo và phát tán nội dung trên môi trường số, xây dựng văn hóa số, nâng cao năng lực thẩm mỹ, khả năng tiếp nhận có chọn lọc và ý thức tôn trọng pháp luật của công chúng trở thành một yêu cầu cấp thiết. Khi công chúng biết lựa chọn, biết phản biện và biết nói không với những sản phẩm lệch chuẩn, chính thị trường sẽ tạo ra sức ép buộc các chủ thể sáng tạo phải nâng cao chất lượng và trách nhiệm xã hội của mình. Đó cũng là con đường để TP Hồ Chí Minh khẳng định vị thế là trung tâm sản xuất các sản phẩm CNVH, tiên phong kiến tạo một môi trường văn hóa hiện đại, nhân văn và giàu sức sáng tạo. Một hệ sinh thái như vậy sẽ tạo nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu đưa CNVH trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời đóng góp vào việc xây dựng sức mạnh mềm của TP Hồ Chí Minh và của quốc gia trong thời kỳ hội nhập.

Coi trọng vai trò nêu gương trong hoạt động văn hóa

Trong công tác quản lý văn hóa, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên và những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật là vô cùng quan trọng. Vai trò nêu gương trong môi trường văn hóa-nghệ thuật phải được thể hiện bằng bản lĩnh chính trị, ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, tinh thần phụng sự Tổ quốc và nhân dân trong hoạt động sáng tạo. Quy định số 207-QĐ/TW ngày 26-7-2026 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm cần được cụ thể hóa thành "cẩm nang" của cán bộ, đảng viên trong hoạt động văn hóa và quản lý văn hóa. Mỗi tác phẩm có giá trị đều góp phần bồi đắp niềm tin, khơi dậy lòng yêu nước, củng cố khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Ngược lại, những hành vi lệch chuẩn của người đứng đầu, người nổi tiếng đều có thể tạo ra tác động tiêu cực đến môi trường văn hóa và đời sống xã hội. Trong điều kiện truyền thông số phát triển mạnh mẽ, hình ảnh của người nghệ sĩ, người nổi tiếng hay các nhà sáng tạo nội dung đã trở thành một phần của giá trị sản phẩm văn hóa. Uy tín xã hội của văn nghệ sĩ, người sáng tạo là yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của CNVH. Giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, tôn trọng pháp luật, ứng xử có văn hóa trên không gian mạng, đề cao lòng yêu nước và luôn đặt lợi ích quốc gia-dân tộc lên trên hết là trách nhiệm của mỗi cá nhân đối với sự phát triển bền vững của ngành CNVH.

Đối với thế hệ trẻ, sức lan tỏa và ảnh hưởng của người nổi tiếng nhiều khi lớn hơn những bài học được truyền đạt trong lớp học. Bởi vậy, cùng với việc phát hiện và tôn vinh những tài năng sáng tạo, TP Hồ Chí Minh nói riêng, cả nước nói chung cần quan tâm xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ, người làm văn hóa và những người có ảnh hưởng thực sự trở thành những hình mẫu về nhân cách, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến. Khi mỗi chủ thể sáng tạo vừa có tài năng, vừa có bản lĩnh, vừa có đạo đức nghề nghiệp, họ sẽ tạo ra những sản phẩm văn hóa có giá trị, góp phần lan tỏa những chuẩn mực tích cực trong cộng đồng, củng cố sức mạnh mềm của từng địa phương và của quốc gia. Trong CNVH, thương hiệu quốc gia được tạo nên từ những thương hiệu cá nhân. Mỗi nghệ sĩ, đạo diễn, nhà thiết kế, nhà sáng tạo nội dung vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là "đại sứ văn hóa" của quốc gia. Vì vậy, xây dựng đội ngũ những người làm văn hóa có tài năng, bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp và lòng yêu nước vừa là yêu cầu của công tác cán bộ quản lý văn hóa, vừa là nhân tố cốt lõi trong chiến lược phát triển CNVH và sức mạnh mềm quốc gia. 

Chủ động ngăn ngừa suy thoái, phát triển bền vững công nghiệp văn hóa - Bài 1: Nguy cơ suy thoái trong phát triển công nghiệp văn hóa

Thứ năm, 30/07/2026 - 05:52

Nhà văn PHAN TÙNG SƠN

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định phát triển công nghiệp văn hóa (CNVH) là nhiệm vụ chiến lược nhằm phát huy sức mạnh mềm quốc gia, tạo động lực tăng trưởng mới và nâng cao vị thế Việt Nam trong hội nhập quốc tế.

Đảng ta cũng đã chỉ rõ những nguy cơ tác động trực tiếp đến sự phát triển bền vững của lĩnh vực này. Nhận diện thách thức, chủ động giải pháp phòng, chống suy thoái chính là điều kiện bảo đảm CNVH phát triển bền vững; trước hết là cần những “đáp số” có sức thuyết phục từ đô thị đầu tàu, nơi khởi phát các mô hình CNVH...

Tầm nhìn chiến lược về công nghiệp văn hóa

 CNVH là xu hướng phát triển trong bối cảnh kinh tế tri thức, chuyển đổi số và cạnh tranh sức mạnh mềm ngày càng quyết liệt. Giá trị của CNVH không chỉ định lượng bằng doanh thu hay tỷ trọng đóng góp vào tổng sản phẩm trong nước (GDP) mà còn là năng lực khẳng định, lan tỏa hệ giá trị quốc gia, quảng bá hình ảnh đất nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh trong hội nhập quốc tế.

Chủ động ngăn ngừa suy thoái, phát triển bền vững công nghiệp văn hóa - Bài 1: Nguy cơ suy thoái trong phát triển công nghiệp văn hóa
"Anh trai vượt ngàn chông gai" - chương trình có sự đột phá trong cách sáng tạo và thể hiện. Ảnh: Báo Nhân Dân 

Thực tiễn ở các quốc gia phát triển cho thấy, những lĩnh vực như điện ảnh, âm nhạc, nghệ thuật biểu diễn, thiết kế, thời trang, trò chơi điện tử, nội dung số... đã vượt ra ngoài phạm vi của hoạt động văn hóa thuần túy để trở thành những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao. Thông qua nguồn lực và các sản phẩm CNVH, họ tạo ra nguồn thu lớn, mở rộng ảnh hưởng, củng cố vị thế quốc gia và sức hấp dẫn trên trường quốc tế. Doanh thu từ vài đêm diễn của một nhóm nhạc nổi tiếng thế giới có khi còn vượt một doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuần túy trong cả năm. Sức hút và độ phủ sóng từ MV ca nhạc của một ca sĩ ngôi sao có khi còn hơn cả một chiến dịch quảng bá du lịch rầm rộ. Đây chính là những đặc trưng có giá trị như những chiếc “mỏ neo” của CNVH khi nó được đầu tư phát triển đúng hướng, đúng thời điểm.

Tư duy mới về phát triển CNVH được khẳng định rõ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Đảng ta xác định: Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, cho tương lai của dân tộc; đồng thời đề ra mục tiêu trong nhiệm kỳ 2026-2031 phát triển các ngành CNVH đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5 đến 10 thương hiệu quốc gia trong những lĩnh vực có lợi thế; đến năm 2045, CNVH và kinh tế sáng tạo trở thành một trụ cột của phát triển bền vững, đóng góp khoảng 9% GDP, đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu ASEAN về chỉ số sức mạnh mềm quốc gia. Những mục tiêu này cho thấy CNVH đã được Đảng, Nhà nước ta đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế, xây dựng con người.

Trong chiến lược phát triển CNVH của đất nước, TP Hồ Chí Minh được xác định là đô thị đầu tàu, nơi thử nghiệm, khởi phát các mô hình phát triển. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới đều xác định phát triển CNVH trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; đẩy mạnh thu hút nguồn lực quốc tế; hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo về văn hóa-nghệ thuật, văn hóa số; phát triển CNVH gắn với du lịch và kinh tế, từng bước đưa TP Hồ Chí Minh trở thành trung tâm CNVH của cả nước và có sức cạnh tranh trong khu vực. Đây là những định hướng phát triển của một đô thị đặc biệt, thể hiện vai trò tiên phong của TP Hồ Chí Minh trong hiện thực hóa các chủ trương chiến lược của Đảng.

Những biểu hiện suy thoái và thách thức đối với công nghiệp văn hóa

Tại các cuộc hội thảo, tọa đàm về vấn đề này, giới chuyên gia cho rằng, phát triển CNVH không thể chỉ nhìn từ góc độ kinh tế. Khác với nhiều ngành kinh tế khác, CNVH luôn gắn với việc sáng tạo, truyền bá và định hướng các giá trị tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ, lối sống. Hiệu quả kinh tế phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của môi trường văn hóa. Đây là điểm cần được nhận thức đầy đủ trong quá trình tổ chức thực hiện các chủ trương của Đảng.

Nếu chỉ quan tâm đến tăng trưởng của thị trường văn hóa mà xem nhẹ nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh; nếu chỉ chú trọng phát triển sản phẩm mà buông lỏng việc giữ gìn hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức và bản sắc văn hóa dân tộc thì sự phát triển ấy rất dễ chệch hướng và cái giá phải trả là rất khó đong đếm. Chính vì vậy, cùng với việc xác định những mục tiêu phát triển rất cụ thể, Đảng ta đồng thời yêu cầu phải chấn chỉnh, hạn chế, đẩy lùi những biểu hiện tiêu cực, suy thoái về đạo đức, lối sống, các biểu hiện thực dụng, “lợi ích nhóm” trong hoạt động văn hóa; kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hóa, tin giả trên mạng xã hội... Đây chính là những biểu hiện, mầm mống của suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong phát triển CNVH và đời sống văn hóa tinh thần của xã hội. Giá trị kinh tế của một bộ phim, một vở diễn, một tác phẩm âm nhạc hay một nền tảng nội dung số luôn gắn với giá trị xã hội mà nó tạo ra. Đây là đặc trưng căn bản, đồng thời cũng là điểm khác biệt của CNVH. Chính vì vậy, Đảng ta xác định phát triển CNVH phải đặt trong mối quan hệ với xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và củng cố sức mạnh mềm quốc gia.

Đánh giá thực trạng môi trường văn hóa và những thách thức trong phát triển CNVH hiện nay, Nghị quyết số 80-NQ/TW chỉ rõ: "CNVH, công nghiệp giải trí phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Sự bùng nổ các nền tảng trực tuyến xuyên biên giới kéo theo sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai phản cảm, phi văn hóa gây xung đột giá trị và tác động tiêu cực đến việc gìn giữ và phát huy giá trị lịch sử, truyền thống văn hóa của dân tộc và xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện trong giai đoạn mới...". Đây chính là những nguy cơ tác động trực tiếp đến quá trình phát triển CNVH nếu không được nhận diện và có giải pháp khắc phục.

Sự phát triển mạnh mẽ của không gian số đã mở rộng cơ hội sáng tạo, phổ biến sản phẩm văn hóa, đồng thời cũng làm gia tăng áp lực cạnh tranh về lượng truy cập và doanh thu. Trong bối cảnh đó, ở một bộ phận hoạt động văn hóa-nghệ thuật đã xuất hiện biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường, đề cao yếu tố giật gân, coi nhẹ giá trị tư tưởng và giá trị thẩm mỹ. Không ít sản phẩm đặt mục tiêu thu hút sự chú ý hơn là bồi đắp giá trị; lấy hiệu ứng truyền thông thay cho giá trị nghệ thuật; lấy lợi ích ngắn hạn thay cho trách nhiệm xã hội. Đáng chú ý, thời gian gần đây, hàng loạt vụ việc được cơ quan điều tra các cấp phát hiện, khám phá đã làm lộ rõ những mảng tối của thị trường giải trí phía sau ánh hào quang nghệ thuật. Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng, người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa-nghệ thuật, người có ảnh hưởng trên các nền tảng số... đã vi phạm pháp luật, dính đến tệ nạn xã hội hoặc chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, gây tác động tiêu cực trong đời sống xã hội. Mỗi vụ việc đều có tính chất và mức độ khác nhau, được xử lý theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, điều cần nhìn nhận ở chiến lược phát triển CNVH không phải là từng vụ việc cụ thể, mà là hệ quả xã hội của những hiện tượng đó. Khi văn nghệ sĩ, người nổi tiếng đánh mất trách nhiệm công dân và trách nhiệm văn hóa, niềm tin của công chúng bị tổn thương nặng nề; uy tín của môi trường sáng tạo bị ảnh hưởng; những giá trị mà CNVH hướng tới bị suy giảm nghiêm trọng. Cùng với đó là sự xâm nhập ngày càng mạnh của các sản phẩm văn hóa ngoại lai phản cảm, thông tin sai sự thật, có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị truyền thống hoặc cổ xúy lối sống cực đoan thông qua các nền tảng xuyên biên giới. Trong môi trường số, tốc độ lan truyền của một nội dung chỉ tính bằng phút, thậm chí bằng giây. Điều đó đồng nghĩa với việc nếu thiếu cơ chế sàng lọc và thiếu bản lĩnh văn hóa, những sản phẩm lệch chuẩn có thể tác động rất nhanh đến thị hiếu, nhận thức và hành vi của một bộ phận công chúng, nhất là giới trẻ.

Cần nhấn mạnh rằng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Vấn đề không nằm ở yếu tố ngoại lai, mà ở khả năng tiếp biến có chọn lọc, đào thải để giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc của chính chúng ta. Ở góc độ phát triển CNVH, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; xu hướng thương mại hóa cực đoan; sự lan truyền của các sản phẩm phản văn hóa hay tình trạng lợi dụng không gian số để tán phát thông tin xấu độc đều có một điểm chung, đó là làm suy giảm chất lượng, hệ giá trị của môi trường văn hóa. Môi trường văn hóa càng bị thao túng thì càng khó hình thành những sản phẩm có giá trị, những thương hiệu văn hóa có sức cạnh tranh và những chủ thể sáng tạo đủ uy tín để vươn ra thị trường khu vực cũng như quốc tế.

(còn nữa) 

Bài cuối: Khi khát vọng đổi đời bị lợi dụng

31/07/2026 16:03

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và làn sóng dịch chuyển lao động quốc tế gia tăng mạnh mẽ, khát vọng tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn, nâng cao thu nhập cho bản thân và gia đình là một nhu cầu hoàn toàn tự nhiên, chính đáng. Song, chính khát vọng ấy lại bị một số tổ chức phản động lưu vong và các đường dây môi giới bất hợp pháp lợi dụng để dựng nên chiếc bẫy mang tên “tị nạn chính trị”. Trong nhiều năm qua, không ít người dân vì nhẹ dạ, thiếu hiểu biết pháp luật đã tin rằng đây là con đường ngắn nhất để đổi đời nơi xứ người.

Tin vào những lời hứa hẹn về một con đường định cư nhanh chóng, có gia đình đã thế chấp tài sản, vay mượn hàng trăm triệu đồng; có những người trẻ chấp nhận xuất cảnh trái phép, ký tên vào các lá đơn ngụy tạo, thậm chí tham gia biểu tình trước các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam nhằm “sản xuất” ra một quá khứ chống đối không có thật. Nhưng kết cục mà họ nhận được không phải là tấm thẻ cư trú hay cuộc sống tốt đẹp như được hứa hẹn, mà là tình trạng cư trú bất hợp pháp, cuộc sống bấp bênh, tổn thất lớn về tài chính và nguy cơ phải nhận lệnh trục xuất về nước.

Việc lực lượng chức năng làm rõ phương thức tổ chức, môi giới làm hồ sơ “tị nạn chính trị” của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố Việt Tân là một ví dụ thực tế cho thấy sự thật: Không có “thiên đường” nào được xây dựng trên sự dối trá và không có khát vọng đổi đời nào có thể thành hiện thực khi con người sa vào những cạm bẫy thao túng, lừa đảo.

“Phong trào chống Cộng” hải ngoại ngày càng thoái trào

Phần lớn những người bị lôi kéo vào đường dây “tị nạn chính trị” của Nguyễn Văn Đài không phải là những phần tử chống đối hay có tư tưởng thù địch với Nhà nước. Họ ra nước ngoài từ khát vọng cải thiện cuộc sống nhưng thiếu hiểu biết về pháp luật di trú; đồng thời, nhẹ dạ trước những lời hứa hẹn và thủ đoạn thao túng tâm lý.

Ngày nay, các thế lực thù địch, bên cạnh các phương thức chống phá truyền thống, còn gia tăng tác động trực tiếp vào nhận thức, cảm xúc, khát vọng mưu sinh và cả những khó khăn đời thường của từng cá nhân. Điều mà chúng mua, bán không chỉ là những bộ hồ sơ giả, mà sâu xa hơn là trục lợi từ sự ngộ nhận, gieo vào người dân một niềm tin sai lệch rằng, chỉ cần khoác lên mình danh nghĩa “tị nạn chính trị” là có thể đổi lấy cơ hội định cư.

Trong bức tranh thoái trào của một số tổ chức phản động lưu vong, chiêu bài “tấm vé tị nạn chính trị” bộc lộ rõ bản chất cơ hội, bịp bợm. Sau nhiều thập kỷ hoạt động, cái gọi là “phong trào đấu tranh dân chủ” hải ngoại đã rơi vào tình trạng phân rã sâu sắc bởi những mâu thuẫn nội bộ, tranh giành ảnh hưởng và lợi ích; ngày càng mất chỗ đứng, bị cô lập và bị chính cộng đồng người Việt ở nước ngoài lên án, quay lưng.

Cộng đồng người Việt lương thiện ở hải ngoại ngày càng nhận rõ hơn bản chất của các hoạt động núp dưới danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền”, nhưng thực chất phục vụ mục tiêu chống phá đất nước và trục lợi cá nhân.

1785484688711.jpg
Một hội thảo do Hội anh em dân chủ tổ chức.

Vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao của Việt Nam cùng xu thế mở rộng hợp tác với các quốc gia cũng cho thấy những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ ngày càng trở nên lạc lõng. Trong chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam, ông Hùng Cao - Quyền Bộ trưởng Bộ Hải quân Mỹ - đã tham dự các hoạt động hợp tác, thể hiện vai trò của quan hệ Việt Nam - Mỹ trong việc thúc đẩy ổn định khu vực và tăng cường hợp tác lâu dài. Thực tiễn đó cho thấy xu thế hợp tác, đối thoại và hướng tới tương lai đang ngày càng được củng cố; những tổ chức, cá nhân nuôi dưỡng hận thù, tìm cách chia rẽ quan hệ giữa Việt Nam với các nước không thể đại diện cho lợi ích của cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Trong bối cảnh khả năng tập hợp lực lượng và huy động nguồn lực suy giảm, Nguyễn Văn Đài và Việt Tân đã chuyển sang khai thác nhu cầu cư trú, định cư của một bộ phận người Việt ở nước ngoài, biến việc làm hồ sơ giả thành công cụ vừa trục lợi, vừa tạo dựng lực lượng chống phá. Việc chúng dụ dỗ, lôi kéo người lao động nhẹ dạ đi biểu tình, chụp ảnh ngụy tạo hồ sơ đã đẩy những người này vào một vòng xoáy nguy hiểm, vừa bị bòn rút tài chính, vừa đối mặt với hậu quả pháp lý và nguy cơ bị trục xuất về nước.

Mong muốn xuất cảnh, làm việc hay định cư ở nước ngoài để cải thiện cuộc sống là nhu cầu hoàn toàn chính đáng của người dân, nhưng con đường ấy phải xuất phát từ khát vọng chân chính, năng lực thực tế và sự tuân thủ pháp luật. Mọi ý định “đi tắt” bằng con đường tị nạn chính trị giả tạo đều là ảo tưởng có thể đẩy người trong cuộc vào cảnh “tiền mất, tật mang” và cắt đứt con đường trở về Tổ quốc.

“Tị nạn chính trị” - ảo vọng được dựng lên từ sự dối trá

Bản chất của “mô hình tị nạn chính trị giả tạo” là tạo dựng một quá khứ chống đối không có thật bằng những lời khai được soạn sẵn, thẻ hội viên, bài viết và hình ảnh biểu tình dàn dựng. Những người trước đó không tham gia hoạt động chống đối, không bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý vì lý do chính trị được hướng dẫn cung cấp thông tin sai sự thật, nhằm lợi dụng chính sách nhân đạo và đánh lừa cơ quan chức năng nước sở tại. Khi hồ sơ bị bác bỏ, những kẻ tổ chức tiếp tục yêu cầu người làm hồ sơ nộp thêm tiền để khiếu nại, kéo dài một chu trình trục lợi không có điểm dừng.

Đồng thời, những kết quả đấu tranh, xử lý các đối tượng phạm tội ở nước ngoài cho thấy việc xuất cảnh hoặc cư trú ngoài lãnh thổ Việt Nam không đồng nghĩa với khả năng trốn tránh trách nhiệm trước pháp luật.

Việc cơ quan chức năng Việt Nam khởi tố, xét xử vắng mặt Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa; việc phối hợp với cơ quan chức năng Thái Lan dẫn độ Y Quynh Bdap, đối tượng chỉ đạo vụ khủng bố tại Đắk Lắk, từ Thái Lan về nước; cùng việc xử lý nghiêm các đối tượng trong tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” của Đào Minh Quân cho thấy mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật, dù đối tượng thực hiện hành vi ở trong nước hay ngoài nước. Kết quả này cũng thể hiện hiệu quả hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố và các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia.

Trên không gian mạng – nơi từng được các đối tượng xem là “pháo đài an toàn” để tán phát tin giả, kích động, bóp méo nhận thức – hoạt động chống phá cũng ngày càng bị phát hiện, nhận diện và đấu tranh. Sự phối hợp giữa cơ quan chức năng Việt Nam với các nền tảng xuyên biên giới trong việc gỡ bỏ nội dung vi phạm pháp luật, ngăn chặn các tài khoản vi phạm cùng các biện pháp kỹ thuật góp phần thu hẹp khả năng phát tán thông tin xấu, độc của Nguyễn Văn Đài, Việt Tân và các đối tượng liên quan.

Theo thông tin được công bố trong quá trình điều tra và xét xử, từ đầu năm 2025, Nguyễn Văn Đài đã phát tán hơn 3.500 bài viết, video có nội dung bịa đặt, xuyên tạc; đồng thời sử dụng AI để tạo dựng một số hình ảnh, video sai lệch. Tuy nhiên, chính những dấu vết để lại trên không gian mạng cũng trở thành căn cứ để cơ quan chức năng làm rõ phương thức, quy mô và tính chất của hoạt động chống phá. Không gian mạng, vì thế không phải là nơi các đối tượng có thể ẩn danh tuyệt đối hoặc đứng ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.

Lời cảnh tỉnh từ phía sau những bộ hồ sơ giả

Từ sự thật được phơi bày qua hoạt động môi giới làm hồ sơ “tị nạn chính trị” do Nguyễn Văn Đài cùng tổ chức khủng bố Việt Tân điều hành, có thể rút ra một bài học không chỉ dành cho những người từng sa vào cạm bẫy này, mà còn là lời cảnh tỉnh đối với toàn xã hội trong bối cảnh hoạt động tác động, thao túng nhận thức trên không gian mạng ngày càng diễn biến phức tạp.

Sâu xa hơn, vụ việc này phản ánh sự chuyển dịch trong phương thức chống phá của các thế lực thù địch: bên cạnh các hoạt động kích động bạo lực, gây rối trực tiếp, chúng gia tăng tác động và chi phối nhận thức xã hội. Nếu trước đây, một trong những mục tiêu của chúng là tạo ra những “điểm nóng” về an ninh, thì ngày nay chúng còn hướng đến việc hình thành những “điểm nóng” trong nhận thức, làm sai lệch cách nhìn nhận, phán đoán và lựa chọn của con người. Hoạt động thao túng nhận thức không bắt đầu bằng tiếng súng hay những cuộc đối đầu công khai, mà bằng việc gieo rắc thông tin sai lệch, nuôi dưỡng những ảo vọng phi thực tế và từng bước định hướng hành vi theo ý đồ chống phá. Chính vì vậy, không ít người trong đường dây “tị nạn chính trị” của Nguyễn Văn Đài vốn không có tư tưởng chống đối, nhưng cuối cùng vẫn bị cuốn vào các hoạt động vi phạm pháp luật chỉ vì khát vọng đổi đời bị lợi dụng và dẫn dắt sai hướng.

Trong bối cảnh đó, điều cần được bảo vệ không chỉ là chủ quyền lãnh thổ, an ninh quốc gia hay không gian mạng, mà còn là bản lĩnh nhận thức của mỗi người dân. Khi nhận thức bị bóp méo, những khát vọng chính đáng rất dễ bị biến thành công cụ phục vụ các mưu đồ chống phá hoặc trục lợi. Vì vậy, nâng cao khả năng nhận diện thông tin sai lệch, củng cố niềm tin xã hội và xây dựng sức đề kháng trước các thủ đoạn thao túng nhận thức không chỉ là yêu cầu của công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, mà còn là một nội dung quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia trong bối cảnh hiện nay.

Khát vọng vươn lên, mong muốn học tập, lao động, lập nghiệp ở nước ngoài để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn là quyền và nguyện vọng hoàn toàn chính đáng của mỗi công dân. Nhưng khát vọng ấy chỉ có thể trở thành hiện thực khi được dẫn lối bằng tri thức, sự hiểu biết pháp luật, năng lực của chính mình và con đường lao động chân chính, chứ không thể đặt cược vào những lời hứa hẹn được dựng lên từ sự gian dối. Mọi sự đánh đổi danh dự, nhân phẩm, niềm tin của gia đình để khoác lên mình chiếc áo “tị nạn chính trị” giả tạo cuối cùng chỉ dẫn đến những hệ lụy nặng nề về pháp lý, kinh tế và tương lai của chính người trong cuộc.

Màn kịch “tị nạn chính trị” do Nguyễn Văn Đài và các tổ chức phản động dàn dựng đang từng bước bị bóc trần bằng những tài liệu, chứng cứ và lời kể của chính những người từng bị lôi kéo. Nhưng bài học mà nó để lại còn có ý nghĩa lâu dài hơn nhiều: không có khát vọng chân chính nào được hiện thực hóa bằng sự dối trá và cũng không có tương lai bền vững nào được xây dựng trên những ảo vọng do người khác gieo vào nhận thức của mình.

Suy cho cùng, sức mạnh bền vững của một quốc gia không chỉ được tạo nên bởi tiềm lực kinh tế, quốc phòng hay vị thế đối ngoại, mà còn bởi bản lĩnh nhận thức của mỗi người dân trước những cạm bẫy của thời đại. Khi khát vọng được nuôi dưỡng bằng tri thức, lao động chân chính và lòng tin vào con đường phát triển của đất nước, sẽ không còn ảo vọng nào có thể biến người dân thành công cụ cho những mưu đồ chống phá. Đó cũng chính là nền tảng bền vững để xây dựng một đất nước ổn định, phát triển và hùng cường.

Mai Anh- Phạm Thuỷ

BÀI 2: Bóc trần "thị trường tị nạn cuội" và cái giá của sự ảo tưởng

30/07/2026 20:03

Cần nhìn lại sự kiện diễn ra đầu tháng 5/2025 trước Đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Luân Đôn, Vương quốc Anh, để thấy rõ hơn thủ đoạn của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố Việt Tân. Trong khi nhân dân cả nước hân hoan tổ chức các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, trên không gian mạng và một số phương tiện truyền thông hải ngoại xuất hiện hàng loạt hình ảnh, video về một nhóm sinh viên, người lao động nhập cư tụ tập trước Đại sứ quán Việt Nam, mang theo băng rôn, biểu tượng của cái gọi là “Hội Anh em dân chủ”, Việt Tân và cờ vàng ba sọc đỏ.

Nếu chỉ nhìn vào những hình ảnh được phát tán, dư luận có thể cho rằng đây chỉ là hoạt động “đến hẹn lại lên” của các đối tượng chống đối ở hải ngoại nhân dịp chúng gọi là “Ngày Quốc hận”.

Tuy nhiên, đằng sau đó là hoạt động tổ chức, lôi kéo của Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố Việt Tân nhằm biến những người lao động đang gặp khó khăn về tình trạng cư trú thành công cụ trục lợi, đồng thời tạo ra hình ảnh, tư liệu phục vụ hoạt động chống phá đất nước.

“Chuỗi cung ứng” của thị trường tị nạn cuội

Sự gia tăng của các dòng di cư lao động quốc tế cùng chính sách nhân đạo về tị nạn của nhiều quốc gia từ lâu đã bị các tổ chức, đối tượng phản động lợi dụng để trục lợi. Núp dưới vỏ bọc “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, Nguyễn Văn Đài cùng tổ chức khủng bố Việt Tân đã ngụy tạo nên một “thị trường tị nạn chính trị cuội”, rao bán những tấm vé định cư ảo tưởng với giá cắt cổ.

Theo tài liệu của cơ quan chức năng, “dịch vụ làm hồ sơ tị nạn chính trị” do Nguyễn Văn Đài và tổ chức khủng bố Việt Tân thao túng, vận hành theo một “chuỗi cung ứng” khép kín gồm nhiều công đoạn liên hoàn. Trước hết, các đối tượng tiếp cận, lôi kéo những công dân, người lao động đang cư trú bất hợp pháp hoặc gặp khó khăn về tình trạng pháp lý ở nước ngoài, hứa hẹn giúp họ có được quyền cư trú lâu dài và hưởng các chính sách phúc lợi tại nước sở tại. Tiếp đó, người làm hồ sơ được yêu cầu nộp các khoản tiền dưới danh nghĩa phí môi giới, làm thủ tục, thuê luật sư và thực hiện những “dịch vụ” liên quan. Để tạo dựng căn cứ cho hồ sơ, những người này được hướng dẫn ký đơn, làm thẻ tham gia các tổ chức phản động như cái gọi là “Hội Anh em dân chủ”; đăng tải bài viết chống Nhà nước Việt Nam hoặc tham gia những cuộc tụ tập, cầm băng rôn trước các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam nhằm chụp ảnh, quay video. Các hoạt động đó được sử dụng để tạo ra một “quá khứ chống đối” không có thật, phục vụ việc khai báo rằng người làm hồ sơ có nguy cơ bị xử lý nếu trở về Việt Nam.

b1653422-6825-4096-8abc-251e46107dd5.jpg
Một nhóm người tụ tập biểu tình trước Đại sứ quán Việt Nam tại thủ đô Luân Đôn.

Từ những hình ảnh, video được dàn dựng, Nguyễn Văn Đài và những người liên quan tiếp tục khai thác không gian mạng, sử dụng công nghệ để cắt ghép, phát tán thông tin và thổi phồng quy mô sự việc trên mạng xã hội. Khi hồ sơ tị nạn không được cơ quan di trú nước sở tại chấp nhận do không đáp ứng các điều kiện tị nạn, các đối tượng tiếp tục hướng dẫn người làm hồ sơ khiếu nại, kháng nghị và yêu cầu họ nộp các khoản phí mới từ 150 triệu đến 200 triệu đồng, cùng khoản phí 3.000 bảng Anh để Nguyễn Văn Đài đứng ra “làm chứng”.

Trong quá trình này, tâm lý tiếc nuối những khoản tiền đã bỏ ra khiến nhiều người càng khó dừng lại. Đây là biểu hiện của “hiệu ứng chi phí chìm” (Sunk Cost Effect) – khi một người tiếp tục theo đuổi lựa chọn không còn hiệu quả chỉ vì đã đầu tư quá nhiều tiền bạc, công sức vào đó. Khi người lao động đã phải bỏ ra hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ đồng để xuất cảnh trái phép và làm hồ sơ, một số người tiếp tục vay mượn, nộp thêm tiền với hy vọng lấy lại những gì đã mất. Càng lún sâu, họ càng dễ bị các đối tượng thao túng, khai thác về tài chính và biến thành công cụ cho hoạt động chống phá.

Những bộ hồ sơ được tạo dựng theo một kịch bản

Phần lớn công dân xuất cảnh lao động đều là những người lương thiện, ra nước ngoài với mục đích tìm kiếm việc làm, cải thiện cuộc sống; trước đó không có quá trình hoạt động chống đối, không bị cơ quan chức năng xử lý vì hành vi liên quan đến an ninh quốc gia. Do thiếu hiểu biết pháp luật và mong muốn tìm được con đường cư trú lâu dài, họ đã tin vào lời hứa của Nguyễn Văn Đài cùng tổ chức khủng bố Việt Tân, để rồi bị lôi kéo tham gia các hoạt động vi phạm pháp luật.

Để tạo ra một “quá khứ chống đối” không có thật cho những người này, Nguyễn Văn Đài và một số thành viên cái gọi là “Hội Anh em dân chủ” hướng dẫn họ học thuộc lòng những câu trả lời được soạn sẵn, khai rằng họ từng phát tờ rơi, vận động đông người biểu tình hoặc bị cơ quan Công an triệu tập, truy tìm. Người làm hồ sơ còn được yêu cầu điền biểu mẫu, ký tên, chụp ảnh gửi qua mạng để được cấp thẻ hội viên; sau đó tham gia các cuộc tụ tập, cầm biểu ngữ và sắm vai “người đấu tranh”. Những bộ hồ sơ được tạo dựng theo cùng một kịch bản thực chất là sự chắp vá những thông tin bịa đặt, lời khai được soạn sẵn cùng các hình ảnh biểu tình dàn dựng, nhằm tạo ra một “quá khứ chống đối” không có thật. Việc bỏ tiền mua lời xác nhận, làm thẻ hội viên hoặc tham gia một vài cuộc tụ tập sau khi đã ra nước ngoài không thể làm thay đổi sự thật rằng những người này trước đó không tham gia hoạt động chống đối, không bị cơ quan chức năng Việt Nam xử lý vì lý do chính trị. Đây không phải là hoạt động bảo vệ quyền tị nạn, mà là hành vi lợi dụng chính sách nhân đạo, cung cấp thông tin sai sự thật để đánh lừa cơ quan chức năng nước sở tại và trục lợi từ người có nhu cầu cư trú.

Con đường “tị nạn” mà Nguyễn Văn Đài vẽ ra thực chất chỉ là một ảo vọng và một cái bẫy tài chính khép kín. Những kẻ tổ chức thu được tiền từ các khoản phí, còn người lao động bị đẩy vào tình trạng bấp bênh về pháp lý, không có việc làm ổn định, luôn đứng trước nguy cơ bị bác đơn và trục xuất.

Lời kể của người trong cuộc và cái giá “thiệt đơn, thiệt kép”

Phương thức hoạt động của “thị trường tị nạn cuội” được thể hiện rõ hơn qua lời kể của những người từng bị lôi kéo. Trong đó có trường hợp N.V.T (SN 1997, trú tại tỉnh Nghệ An), từng lao động tại Đài Loan (Trung Quốc), sau đó thông qua một đường dây môi giới, nộp 650 triệu đồng để xuất cảnh trái phép sang một nước châu Âu vào năm 2024. Do không có tình trạng cư trú hợp pháp, không tìm được việc làm ổn định, T. tiếp tục bị lôi kéo làm hồ sơ tị nạn chính trị với chi phí 200 triệu đồng. Để hoàn thiện hồ sơ, T. phải liên lạc với Nguyễn Văn Đài, điền thông tin vào biểu mẫu, ký tên, chụp ảnh gửi qua mạng và được công nhận là thành viên cái gọi là “Hội Anh em dân chủ” từ tháng 10/2025. T. còn được yêu cầu chuyển thêm 300 bảng Anh để nhận thẻ hội viên bằng giấy.

Theo hướng dẫn của đường dây này, N.V.T phải học thuộc một “kịch bản”, khai rằng bản thân từng vận động 200 người trong nước biểu tình phản đối chính quyền, từng bị cơ quan Công an bắt giữ và phải trốn sang nước ngoài để tránh bị xử lý hình sự. Tuy nhiên, hồ sơ với những thông tin không đúng sự thật đã bị cơ quan có thẩm quyền nước sở tại bác bỏ. Các đối tượng tiếp tục hướng dẫn T. nộp thêm 150 triệu đồng để khiếu nại, nhưng đến lúc này T. nhận ra mình đã rơi vào một cái bẫy bòn rút không có điểm dừng.

N.V.T không phải trường hợp duy nhất. Theo tài liệu của cơ quan chức năng, một số lao động tự do khác như N.T.H, P.T.T.M, T.T.P.L và T.N.L trong thời gian cư trú, làm việc bất hợp pháp tại một nước châu Âu cũng bị các đối tượng phản động tiếp cận, lôi kéo, trả tiền để cầm băng rôn, tham gia tụ tập nhân các chuyến thăm đối ngoại của lãnh đạo cấp cao Việt Nam. Trường hợp T.T.M.H (SN 1991, quê Lâm Đồng) vì hoàn cảnh khó khăn đã vay 300 triệu đồng để ra nước ngoài lao động. Khi mới sang, còn thiếu thốn tài chính, H. được các đối tượng chủ động làm quen trên xe buýt công cộng, trả tiền để tham gia căng biểu ngữ chống phá trước Đại sứ quán Việt Nam nhằm chụp ảnh phục vụ hồ sơ tị nạn. Điểm chung của những trường hợp này là đều phải chịu nhiều hậu quả: mất tiền, tổn hại danh dự, bị biến thành công cụ để những kẻ tổ chức trục lợi và đối mặt với trách nhiệm pháp lý do vi phạm quy định về xuất nhập cảnh, cư trú hoặc cung cấp thông tin không đúng sự thật cho cơ quan chức năng nước sở tại.

Khi người trong cuộc nhận ra sự thật

Sự nguy hiểm trong phương thức, thủ đoạn của Nguyễn Văn Đài và Việt Tân không chỉ nằm ở việc thu tiền của người dân, mà còn ở chỗ biến những người lao động vốn ra nước ngoài với mục đích mưu sinh thành công cụ phục vụ hoạt động chống phá. Một khi đã tham gia, cung cấp thông tin sai sự thật và xuất hiện trong những hình ảnh chống đối, họ có thể bị các đối tượng tiếp tục khống chế về tâm lý, khiến con đường trở về quê hương ngày càng trở nên khó khăn. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa cơ quan chức năng với gia đình đã giúp một số người nhận thức được bản chất của những lời dụ dỗ.

Khi nhận được thông tin con em mình bị lôi kéo tham gia các hoạt động chống phá ở nước ngoài, nhiều gia đình không khỏi bàng hoàng và đau xót, đồng thời chủ động khuyên bảo người thân chấm dứt những hành vi sai trái. Trường hợp bà T.T.K.O, mẹ của T.T.M.H, là một ví dụ. Sau khi được lực lượng Công an phân tích về hành vi vi phạm pháp luật và thủ đoạn của các đối tượng, bà đã phối hợp, liên lạc qua mạng xã hội, khuyên con gái chấm dứt việc tham gia các cuộc tụ tập, biểu tình thuê. Tương tự, gia đình của một số người tại Hà Tĩnh sau khi làm việc với cơ quan chức năng đã nhận thức rõ bản chất của hoạt động lôi kéo, cam kết phối hợp giáo dục, vận động con em không tiếp tục để các đối tượng xấu lợi dụng.

1785403751097-1838722089088206819-1838722089088206819-4131d8e2153a05df541bf4599b3cb81e.jpg
Một số trường hợp bị lôi kéo, dụ dỗ đã tụ tập, đòi trả tự do cho các trường hợp bị bắt giữ ở trong nước.

Sự thức tỉnh của những người trong cuộc và gia đình họ cho thấy tình cảm gia đình, sự đồng hành của cộng đồng và công tác tuyên truyền, vận động của cơ quan chức năng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn âm mưu lôi kéo người Việt ở nước ngoài. Đây cũng là cách thiết thực để phá vỡ những mắt xích mà Nguyễn Văn Đài và các tổ chức phản động lưu vong đang tìm cách tạo dựng.

Đằng sau những lời hứa về một con đường định cư nhanh chóng không phải là “thiên đường tị nạn”, mà là một chu trình trục lợi được che đậy bằng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”. Khi hồ sơ bị bác bỏ, những kẻ tổ chức vẫn thu được tiền, còn người lao động phải gánh chịu hậu quả về tài chính, danh dự và pháp lý. Vì vậy, người Việt Nam đang sinh sống, lao động ở nước ngoài cần hết sức cảnh giác, không tham gia các hội, nhóm chống đối, không cung cấp thông tin sai sự thật, không để những lời hứa về cư trú, định cư biến mình thành công cụ phục vụ hoạt động chống phá đất nước.

Mai Anh- Phạm Thuỷ

Bài 1: Khi chiêu bài "Dân chủ" trở thành công cụ trục lợi

29/07/2026 16:56

Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội cùng vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao của Việt Nam trong những năm qua đã tạo nên một thực tiễn sinh động, bác bỏ nhiều luận điệu xuyên tạc về tình hình đất nước. Trong bối cảnh đó, các tổ chức phản động lưu vong cùng những phần tử cơ hội chính trị có xu hướng điều chỉnh phương thức hoạt động: Bên cạnh các hoạt động chống phá truyền thống, chúng gia tăng lợi dụng vấn đề di cư và không gian mạng để tạo dựng một cơ chế vừa trục lợi, vừa phục vụ hoạt động chống phá, qua đó duy trì nguồn tài chính và ngụy tạo hình ảnh về lực lượng nơi xứ người.

Trong nhiều năm qua, các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân và cái gọi là “Hội Anh em dân chủ” chủ yếu hoạt động theo phương thức chống phá truyền thống: tuyên truyền chống Nhà nước, móc nối phát triển lực lượng cơ sở nội địa, tiến hành các hoạt động kích động biểu tình, gây rối an ninh, bạo loạn và khủng bố. Từ đó, chúng vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ”, “nhân quyền”, “đàn áp dân tộc, tôn giáo” để kêu gọi sự can thiệp, hậu thuẫn và tài trợ từ các thế lực thù địch bên ngoài.

Tuy nhiên, trước sự đấu tranh kiên quyết của lực lượng An ninh cùng thế trận lòng dân vững chắc trong nước, nhiều đầu mối, kế hoạch chống phá lần lượt bị phát hiện, vô hiệu hóa. Trong bối cảnh nhiều luận điệu lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” ngày càng bộc lộ sự phi lý trước thực tiễn phát triển của Việt Nam, khả năng tập hợp lực lượng và gây ảnh hưởng của một số tổ chức phản động lưu vong gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn đó khiến chúng gia tăng khai thác nhu cầu di cư nhằm tạo dựng một “hệ sinh thái phản động” tự nuôi dưỡng, vừa duy trì nguồn tài chính cho bộ máy cầm đầu, vừa ngụy tạo lực lượng nơi xứ người.

Từ hoạt động chống phá đến trục lợi từ hồ sơ tị nạn

Một trường hợp điển hình cho sự điều chỉnh phương thức hoạt động là Nguyễn Văn Đài (SN 1969) – người từng bị xét xử trong hai vụ án về các tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” năm 2007 và “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” năm 2018. Đài được các nhóm phản động giới thiệu là “luật sư”, nhưng nhiều nội dung do Đài đăng tải trên các trang cá nhân không nhằm trao đổi pháp lý mà mang tính xuyên tạc, kích động, xúc phạm tổ chức, cá nhân và chống Nhà nước Việt Nam. Sau khi sang Đức tháng 6/2018, Đài tiếp tục tiến hành các hoạt động chống Nhà nước Việt Nam; tham gia Việt Tân với tư cách “Ủy viên Trung ương” và duy trì hoạt động của cái gọi là “Hội Anh em dân chủ”.

1785315957936.jpg
Nguyễn Văn Đài tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước.

Ngày 31/12/2025, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử vắng mặt, tuyên phạt Nguyễn Văn Đài 17 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Bản án cho thấy, việc cư trú ở nước ngoài không đồng nghĩa với việc một cá nhân có thể thực hiện hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước Việt Nam mà không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Việc Nguyễn Văn Đài tham gia Việt Tân cho thấy sự gắn kết giữa một cá nhân có quá trình hoạt động chống Nhà nước Việt Nam với một tổ chức đã bị Bộ Công an công bố là tổ chức khủng bố. Việt Tân, tức “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, là tổ chức khủng bố đã bị Bộ Công an Việt Nam chính thức công bố từ năm 2016. Theo thông báo của Bộ Công an, Việt Tân được thành lập năm 1982, từng tổ chức các chiến dịch “Đông tiến”, đưa các toán vũ trang xâm nhập về Việt Nam; đồng thời thành lập “Đội sát thủ K9” để tiến hành hoạt động khủng bố, thủ tiêu những nhà báo gốc Việt đã đưa tin vạch trần hoạt động của tổ chức này, trong đó có ông Dương Trọng Lâm, Nguyễn Đạm Phong. Ngày nay, khi nhiều kế hoạch cực đoan, manh động cùng các thủ đoạn lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” bị phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa, Việt Tân và một số cá nhân liên quan gia tăng lợi dụng khó khăn về cư trú của một bộ phận người Việt ở nước ngoài để trục lợi và phục vụ hoạt động chống phá.

Khi chiêu bài “dân chủ” trở thành dịch vụ làm hồ sơ tị nạn

Sự biến tướng nguy hiểm nhất trong phương thức, thủ đoạn mới của các tổ chức cực đoan lưu vong là tính chất “thị trường hóa” hoạt động chống phá. Trong xu thế toàn cầu hóa, việc người dân mong muốn di chuyển lao động, tìm kiếm cơ hội làm việc ở nước ngoài để cải thiện cuộc sống là một nhu cầu hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên, chính những mong muốn đổi đời lương thiện ấy lại trở thành điều kiện để Nguyễn Văn Đài và những người liên quan tiếp cận, lôi kéo và trục lợi. Núp dưới vỏ bọc “hỗ trợ dân chủ, giúp đỡ đồng bào tị nạn”, theo tài liệu của cơ quan chức năng, các đối tượng chào mời các “gói dịch vụ” làm hồ sơ tị nạn chính trị với mức phí từ 30.000 đến 40.000 USD/trường hợp đối với một số người lao động, du học sinh đang gặp khó khăn về tình trạng cư trú tại một số nước châu Âu.

Việc thu tiền được tổ chức dưới nhiều danh nghĩa khác nhau. Theo tài liệu của cơ quan chức năng, Nguyễn Văn Đài và một số người liên quan yêu cầu người làm hồ sơ mua những chiếc áo phông in logo “Hội Anh em dân chủ” với giá 30 bảng Anh/chiếc, nộp 250 bảng Anh phí hồ sơ và đóng thêm 1.500 bảng Anh để đăng tải bài viết, hình ảnh phục vụ việc tạo dựng hồ sơ. Riêng Nguyễn Văn Đài, với danh nghĩa “làm chứng” trước cơ quan di trú sở tại về việc người làm hồ sơ từng đấu tranh cho “dân chủ”, tiếp tục thu thêm 3.000 bảng Anh cho mỗi trường hợp.

Một số người từng tham gia “Hội Anh em dân chủ”, trong đó có Lê Thanh Tùng tại Mỹ, đã công khai phản ánh, tố cáo Nguyễn Văn Đài liên quan đến việc làm hồ sơ tị nạn và thu tiền; đồng thời đề nghị cơ quan chức năng sở tại xác minh. Bằng cách này, hoạt động chống phá bị thương mại hóa và trở thành nguồn thu lớn cho những kẻ tổ chức, trong khi đẩy người dân nhẹ dạ vào cảnh “tiền mất, tật mang”, đối mặt với nguy cơ bị bác đơn và trục xuất về nước.

“Hệ sinh thái phản động” tự tạo nguồn lực để chống phá

Sâu xa hơn trò trục lợi, điểm đáng chú ý nhất trong phương thức hoạt động của Nguyễn Văn Đài và Việt Tân là việc tạo ra một “hệ sinh thái phản động” khép kín phục vụ trực tiếp cho hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Theo tài liệu của cơ quan chức năng, tại một cuộc tụ tập trước Đại sứ quán Việt Nam tại Anh ngày 4/5/2025, một số công dân Việt Nam gặp khó khăn về tình trạng cư trú đã được Nguyễn Văn Đài và những người liên quan hướng dẫn cầm băng rôn, chụp ảnh, quay video để bổ sung vào hồ sơ xin tị nạn. Tính chất ngụy tạo còn thể hiện ở việc có cuộc tụ tập tiếp tục sử dụng khẩu hiệu đòi tự do cho Nguyễn Bắc Truyển – người đã sang Đức định cư từ hơn một năm trước; một số tài liệu tuyên truyền còn sử dụng không đúng biểu tượng của Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo hải ngoại, khiến tổ chức này công khai bác bỏ sự liên quan.

1785316625703-1838722089088206819-1838722089088206819-6d1178cbc649ff5697b16e31a79a38f0.jpg
Nguyễn Văn Đài tham gia biểu tình chống phá.

Thông qua việc tổ chức các hoạt động dưới danh nghĩa hỗ trợ hồ sơ tị nạn, Nguyễn Văn Đài đã hình thành nên một “hệ sinh thái phản động” khép kín, thu về đồng thời năm loại lợi ích phục vụ trực tiếp cho hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam: Thứ nhất là nguồn tài chính thu được từ các khoản phí môi giới và chi phí hồ sơ; thứ hai là nguồn lực lượng ngụy tạo khi chúng yêu cầu người dân phải ký đơn, làm thẻ gia nhập, từ đó khuếch trương thanh thế, tô vẽ hình ảnh về sự phát triển lực lượng cho các tổ chức phản động như “Hội Anh em dân chủ” và Việt Tân; thứ ba là nguồn dữ liệu hình ảnh phong phú, bởi từ một buổi biểu tình được tổ chức, các đối tượng có thể thu được nhiều hình ảnh, video để cắt ghép, nhân bản thành nhiều clip ngắn khác nhau, tán phát trên các nền tảng mạng xã hội, tạo nên một phong trào biểu tình “ảo” nhằm gây hoang mang dư luận và bóp méo nhận thức của người tiếp nhận; thứ tư là cơ chế truyền thông phát tán đa tầng, đi từ các fanpage chính do các đối tượng cầm đầu quản lý lan sang các tài khoản mạng xã hội cá nhân của người dân bị yêu cầu liên kết, chia sẻ, tạo nên một mạng lưới lan truyền; và thứ năm là tạo ra nguồn tư liệu bịa đặt từ những hình ảnh dàn dựng đó để viết các báo cáo vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”, hạ thấp uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

Đây là một vòng tuần hoàn khép kín, trong đó hoạt động chống phá vừa tạo ra nguồn thu, vừa ngụy tạo lực lượng để duy trì chính nó. Những người đang gặp khó khăn về tình trạng cư trú có nguy cơ trở thành công cụ phục vụ hoạt động chống phá; vừa chịu thiệt hại về tài chính, vừa phải đối mặt với những hậu quả pháp lý, trong khi hình ảnh của họ bị khai thác để gây ảnh hưởng đến uy tín của Việt Nam.

Lợi dụng công nghệ để gia tăng tốc độ phát tán thông tin sai lệch

Chưa dừng lại ở đó, sự phát triển của công nghệ cũng bị các đối tượng lợi dụng để sản xuất, phát tán thông tin sai lệch, tác động tiêu cực đến nhận thức của người tiếp nhận. Nguyễn Văn Đài và một số đối tượng liên quan đã lợi dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo dựng hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Các công nghệ tạo sinh, giả mạo hình ảnh và giọng nói có thể giúp đối tượng sản xuất nội dung sai lệch nhanh hơn, tạo ra nhiều phiên bản và phát tán trên nhiều nền tảng mạng xã hội.

Theo thông tin được công bố trong quá trình điều tra và xét xử, từ đầu năm 2025, Nguyễn Văn Đài đã phát tán hơn 3.500 bài viết, video có nội dung bịa đặt, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; lợi dụng một số vấn đề chính trị, xã hội và các vụ án kinh tế lớn để gây hoang mang dư luận. Trong số các phương thức được sử dụng có việc lợi dụng AI để tạo dựng một số video, hình ảnh sai lệch. Những hình ảnh của người lao động cư trú bất hợp pháp do các đối tượng tổ chức, khai thác tại Anh, kết hợp với các sản phẩm truyền thông do AI tạo ra, đã trở thành “nguyên liệu” để chúng bóp méo bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Lịch sử đấu tranh cách mạng đã chứng minh, phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch luôn thay đổi theo sự biến động của môi trường an ninh và công nghệ, nhưng bản chất và mục tiêu chống Nhà nước Việt Nam của chúng không thay đổi. Việc nhận diện, vạch trần hoạt động trục lợi từ nhu cầu cư trú, định cư núp dưới chiêu bài “dân chủ” và sự chuyển dịch phương thức, thủ đoạn của Nguyễn Văn Đài cùng tổ chức khủng bố Việt Tân không chỉ góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số, mà còn giúp người dân tránh nguy cơ bị lừa đảo, lợi dụng và lôi kéo vào các hành vi vi phạm pháp luật. Mỗi người dân có nhu cầu lao động, học tập, cư trú ở nước ngoài cần tìm hiểu kỹ quy định pháp luật, sử dụng các kênh tư vấn hợp pháp; không nghe theo lời dụ dỗ tham gia biểu tình, ký tên, đăng tải thông tin sai sự thật hoặc gia nhập các tổ chức chống đối để đổi lấy lời hứa về một suất định cư.

(còn nữa)

Mai Anh- Phạm Thuỷ 

Khuếch đại sai phạm để phá hoại niềm tin

Thứ hai, 27/07/2026 - 05:49

MINH ĐĂNG - THANH HẰNG

Một trong những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thời gian gần đây là cố tình khuếch đại sai phạm của một số cán bộ, đảng viên, kể cả những vụ việc đã được xử lý từ nhiều năm trước theo đúng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thủ đoạn này không mới nhưng ngày càng được thực hiện tinh vi, có chủ đích chính trị nên cần kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ.

Đánh tráo hiện tượng với bản chất

Những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được triển khai quyết liệt với phương châm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ". Nhiều cán bộ vi phạm, kể cả cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, đã bị xử lý nghiêm minh theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực tiễn đó khẳng định quyết tâm chính trị của Đảng trong việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn, xây dựng đội ngũ cán bộ trong sạch, vững mạnh; đồng thời là nội dung xuyên suốt được nhấn mạnh trong các Văn kiện Đại hội XIII, Đại hội XIV của Đảng và các nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thế nhưng, chính từ những kết quả đó, các thế lực thù địch lại cố tình bóp méo bản chất sự việc. Chúng khơi lại, "đào xới" một số vi phạm của cán bộ bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự để quy chụp đó là thực trạng phổ biến của toàn bộ bộ máy hiện nay, dẫn dắt người đọc đến nhận thức sai lệch.

Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, đồng chí Lê Việt Hùng, Phó chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Đồng Nai cho rằng đây là thủ pháp tuyên truyền quen thuộc của các thế lực chống đối. Điều họ muốn không phải là làm rõ một vụ việc cụ thể mà là tạo ra nhận thức sai lệch rằng những sai phạm cá biệt chính là bản chất của cả hệ thống chính trị. “Đây là cách đánh tráo giữa hiện tượng và bản chất nhằm dẫn dắt dư luận”, đồng chí Lê Việt Hùng khẳng định.

Khuếch đại sai phạm để phá hoại niềm tin
 Ảnh minh họa: qdnd.vn

Thực tế thời gian gần đây, các đối tượng chống phá hiếm khi công khai phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng hay kêu gọi chống đối một cách trực diện. Thay vào đó, chúng sử dụng phương thức "mưa dầm thấm lâu", liên tục tán phát những thông tin tiêu cực, lặp đi lặp lại các vụ việc đã được xử lý, cố tình che khuất những kết quả đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Khi những thông tin phiến diện xuất hiện với tần suất dày đặc, một bộ phận người dân thiếu điều kiện kiểm chứng rất dễ hình thành tâm lý hoài nghi, dao động, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. 

Đây cũng chính là một thủ đoạn điển hình trong chiến lược "diễn biến hòa bình". Các thế lực thù địch hiểu rằng không thể làm lung lay nền tảng chính trị chỉ bằng những lời kêu gọi chống đối đơn lẻ. Muốn chống phá từ bên trong, trước hết phải làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ và gieo rắc tâm lý bi quan về con đường phát triển của đất nước.

Theo TS Nguyễn Thị Ngọc Loan, giảng viên Khoa Xây dựng Đảng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: Điều các thế lực thù địch cố tình che giấu chính là năng lực tự chỉnh đốn của Đảng. Họ chỉ nói về sai phạm nhưng không nói về quá trình phát hiện, kiểm tra, xử lý; chỉ nói về cá nhân vi phạm nhưng không nói về hàng triệu cán bộ, đảng viên đang ngày đêm tận tụy cống hiến.

Thực tiễn chỉ ra, không có tổ chức chính trị nào tuyệt đối không xảy ra sai phạm của cá nhân. Điều quyết định uy tín của một tổ chức không phải ở việc có hay không có vi phạm, mà ở thái độ đối với vi phạm đó. Một tổ chức yếu kém sẽ bao che, dung túng cho sai phạm; một tổ chức trong sạch, vững mạnh sẽ chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh và kiên quyết khắc phục khuyết điểm. Những kết quả nổi bật trong công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian qua chính là minh chứng rõ nét cho quyết tâm chính trị của Đảng trong xây dựng đội ngũ cán bộ và làm trong sạch bộ máy.

Kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc

Nhận diện đúng bản chất của thủ đoạn khuếch đại sai phạm là yêu cầu quan trọng, nhưng để đấu tranh hiệu quả cần đồng thời thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Theo Đại tá, TS Hoàng Mạnh Hưng, Chủ nhiệm Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, để đấu tranh hiệu quả với thủ đoạn khuếch đại sai phạm, ngoài nhận diện rõ bản chất của chiêu trò này cần tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, cần đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền để nhân dân hiểu đúng bản chất của vấn đề. Các cơ quan báo chí cần chủ động cung cấp thông tin chính xác, khách quan, toàn diện; phản ánh đầy đủ cả quá trình phát hiện, kiểm tra, xử lý vi phạm và những kết quả tích cực trong công tác xây dựng Đảng. Không để khoảng trống thông tin trở thành môi trường để các đối tượng xấu xuyên tạc, bóp méo sự thật.

Khi thông tin chính thống được cung cấp đầy đủ, kịp thời, minh bạch, những luận điệu xuyên tạc sẽ không còn đất để tồn tại. Ngược lại, nếu thông tin chậm được công bố hoặc thiếu toàn diện, các đối tượng chống phá sẽ lợi dụng khoảng trống đó để cắt ghép, suy diễn, dẫn dắt dư luận theo hướng có lợi cho chúng. Vì vậy, cùng với xử lý nghiêm sai phạm, việc công khai kết quả kiểm tra, thanh tra, điều tra, xét xử theo đúng quy định cũng là giải pháp quan trọng nhằm củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Nói về đấu tranh với thủ đoạn khuếch đại sai phạm, đồng chí Phạm Hữu Kiên, Phó hiệu trưởng Trường Chính trị Vũ Văn Hiếu (Quảng Ninh) cho rằng: Các cấp ủy, tổ chức đảng và chính quyền các cấp cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác cán bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời phát hiện và xử lý sai phạm ngay từ khi mới phát sinh. Đây chính là giải pháp căn cơ nhất để củng cố niềm tin của nhân dân. Song song với đó, cần nâng cao "sức đề kháng thông tin" cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Ngoài các giải pháp trên, nhiều cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhà khoa học đề xuất: Mỗi cán bộ, đảng viên cần phát huy vai trò nêu gương trong tiếp nhận, chia sẻ và định hướng thông tin; không tiếp tay cho các tin đồn thất thiệt, không chia sẻ những nội dung chưa được kiểm chứng. Đồng thời tích cực tuyên truyền, giải thích để người dân hiểu đúng bản chất của từng vụ việc, phân biệt rõ sai phạm của cá nhân với bản chất của chế độ, của Đảng và hệ thống chính trị. Cùng với công tác tuyên truyền, giáo dục, các cơ quan chức năng cần tiếp tục xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, tán phát thông tin sai sự thật, xâm phạm uy tín của tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và danh dự của tổ chức, cá nhân theo đúng quy định của pháp luật.

Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, uy tín và bản lĩnh của Đảng được khẳng định không phải bởi không có sai sót, mà bởi tinh thần dám nhìn nhận sự thật, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm và không ngừng tự hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Bởi vậy, việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị cố tình khuếch đại sai phạm của một số cán bộ, đảng viên thực chất là thủ đoạn chống phá rất nguy hiểm và thâm độc. Nhận diện đúng bản chất của thủ đoạn này, chủ động đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc là giải pháp căn cơ để củng cố niềm tin của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch trong tình hình mới.