Tháng Ba 31, 2026

Lý Trung Nhĩ
Mới đây, trang mạng xã hội Edward Tran, lộng ngôn hỗn xược nêu 10 vấn đề thách đố: “Hỏi Tô Lâm: Đảng đã làm gì trên Việt Nam từ 1954?”. Vừa tung vừa hứng, chẳng khác nào một kẻ “vừa nhổ vừa liếm”, rặt mùi phản quốc, đòi “kể tội” Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán đường lối cách mạng của Đảng, còn phạm thượng nói là Hồ Chí Minh trót dẫn đất nước đi “sai đường” nên mới ra nông nỗi này (???). Ăn theo nói leo trang mạng trên lại nảy nòi mấy đứa có não trạng cặn bã chính trị, viết lời phản trắc, đòi kết tội ĐCSVN.
Cả đời tui sống lương thiện kiếm ăn bằng nghề đánh giầy, có nghe người ta nói ở Hoa Kỳ cũng có một dòng họ phất giàu nhờ vào nghề đánh giầy, tự thấy mình cũng hơi vênh vang. Cụ Nội nhà tui từng đi lính cho chính quyền Cộng hòa miền Nam, sau năm 1975, cụ bị đi cải tạo gần 2 năm, lúc về mới sanh ra Ba tui, quãng đời của cụ Nội nhà tui từ sau khi đi cải tạo tuy âm thầm có mặc cảm, nhưng dần dần ổng cũng hòa nhập với dân làng, vì dân làng chả có ai gây thù chuốc oán với cụ Nội tui. Ba tui lớn lên cũng sống hòa đồng, cùng cắp sách tới trường, lặn lội kiếm con tôm con cá, cần mẫn gieo trồng và thu hoạch hạt lúa; cùng tham gia các hoạt động thiếu niên, thanh niên với những người bạn cùng trang lứa, hổng thấy chia bè, kỳ thị giữa những người từng sống thời nước nhà bị chia cắt.
Dưới đây có mấy lời mạo muội trả lời thay ông Tô, nhằm trát nhựa đường vô mồm bọn ngáo ngơ chánh trị:
Về “Cải cách ruộng đất”: Việc này đã kết thúc vào năm 1956, song vẫn luôn bị nhiều kẻ “lật sử” bâu vào đốt đỏ cả không gian mạng; hòng khoét sâu sai lầm chính trị trong quá khứ, kích động gây chia rẽ hận thù dân tộc. Đánh phong kiến là một nhiệm vụ đúng đắn cần phải tiến hành cùng với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, có thể đi sau một bước sau khi giành độc lập. Nếu ai đó chịu khó đọc sách thì biết, ở châu Âu, tiêu biểu là nước Pháp, khi họ tiến hành cuộc Cách mạng dân chủ Tư sản Pháp ở thế kỷ 18, chính giai cấp Tư sản đã lợi dụng tinh thần cách mạng của quần chúng lao động để đánh đổ chế độ phong kiến. Tới mức, giai cấp Tư sản cho treo cổ vua nước Pháp, rồi tước hết mọi ruộng đất của quí tộc phong kiến. Khi đã giành được quyền thống trị, giai cấp Tư sản lại phản bội quần chúng lao động, dùng bạo lực đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân, trí thức có tinh thần cách mạng. Sự kiện Công xã Pari (năm 1871)đã lột mặt nạ của giai cấp Tư sản, khi các nước tư bản châu Âu hùa nhau tấn công bóp chết Công xã Pari, dìm những người có tinh thần vô sản trong bể máu. Bọn Tư sản đã cột các chiến sĩ Công xã Pari vào xe ngựa kéo lê trên đường phố, hòng khủng bố tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản.
Cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam (từ năm 1953-1956) là nhiệm vụ đấu tranh giai cấp, mang lại lợi quyền chính đáng cho giai cấp nông dân, được ĐCSVN đề ra ngay trong Cương lĩnh đầu tiên, rằng cách mạng vô sản của Việt Nam nhằm đánh đổ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tiếp đó sẽ đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sở dĩ phải làm như thế là vì cuộc cách mạng mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn là cuộc cách mạng xã hội triệt để, cách mạng dân chủ kiểu mới, không nửa vời như cách mạng Tư sản kiểu cũ. Trong cải cách ruộng đất đã không may phát sinh ngoài ý muốn, dẫn đến sai lầm, khuyết điểm, gây tang thương (chủ yếu là chịu ảnh hưởng của chuyên gia Trung Quốc về tỷ lệ qui lên địa chủ). Cụ Hồ và Đảng đã kịp thời sửa sai.
Về thực hiện “Hiệp định Giơ ne vơ”: Lịch sử đã phản ánh rất rõ rằng, đế quốc Mỹ và tay sai Ngụy quyền đã ngăn cản khát vọng non sông thu về một mối của người dân yêu nước Việt Nam. Hiệp định Giơ – ne – vơ không quy định quân Mỹ thay quân Pháp thống trị miền Nam Việt Nam, mà là quy định sau 300 ngày mỗi bên rút lực lượng về 2 bên vĩ tuyến 17, không coi vĩ tuyến 17 là mốc giới chia cắt lãnh thổ; tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhứt lập ra một chính thể chung cho cả 2 miền. Tháng 10 năm 1955, Mỹ đã dựng trò “Trưng cầu dân ý” bắt dân miền Nam phải bỏ phiếu làm cớ tạo ra một nộm rơm chính trị “Ngô Tổng thống”. Diệm ban hành Luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam, tuyên bố “giết nhầm còn hơn bỏ sót cộng sản”. Dưới sự thống trị của gia đình họ Ngô, được Mỹ tiếp sức vũ khí, mưu mô CIA, cố vấn quân sự, đô la…, thế là nền “đệ nhứt cộng hòa” vừa mạnh tay chém giết đồng bào yêu nước, vừa lập ra ấp chiến lược, đồng thời cải cách điền địa, còn không chừa khủng bố Phật giáo. Đồng bào miền Nam ngột ngạt trong lao tù đế quốc tay sai, dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), họ đã vùng lên tranh đấu, mở đầu bằng Phong trào Đồng khởi Bến Tre, rồi lan ngọn lửa căm thù ra khắp miền Nam. Ngọn đuốc tự thiêu của ông Hòa thượng Thích Quảng Đức giữa Sài Gòn (ngày 11/6/1963) như mồi lửa ngút trời, gây náo loạn trong bộ máy thực dân kiểu mới, gây phản loạn trong tướng tá ngụy quyền Sài Gòn. Kết cục bi thảm dành cho kẻ bán nước họ Ngô xảy ra vào ngày 1 và 2/11/1963. Nhắc đến việc này chắc mọi người đều hiểu, bất kỳ kẻ nào bán nước, phản quốc thì đều chịu kết cục bi thảm. Nhân đây, xin nhắc lại nhận xét của Phaolô Cao Văn Luận, người sống và chứng kiến những ngày cuối cùng của anh em họ Ngô, ông này sau đã viết cuốc hồi ký “Bên dòng lịch sử – Hồi ký 1940-1965”, tường thuật chi tiết sự kiện đảo chánh giết chết Diệm – Nhu: “Nhìn lại tấn tuồng đảo chánh những việc trước và sau đó chúng ta không khỏi bùi ngùi cho số phận một dân tộc nhược tiểu, mang tiếng độc lập, nhưng mối dây cai trị đều trong tay một thế lực ngoại quốc”. Ấy thế mà gần đây còn có kẻ dám mở mồm đặt câu hỏi “Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm, ai là người yêu nước, ai là kẻ bán nước?”.
Về việc có nhiều người “bỏ cộng sản theo Pháp, theo Mỹ”: cũng là do sự sai lầm nhận thức chính trị, lại bị tuyên truyền phản động “Chúa di cư vào Nam”, nên sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, có tới triệu người chen lấn trèo tàu từ Cảng Hải Phòng để vào “miền đất hứa”. Một trong những thảm cảnh lịch sử đến từ hệ lụy chùng chình theo tư bản hay theo cộng sản, theo Chúa hay theo Việt Minh, mơ mộng “trời tự do” hay sống trong trật tự xã hội không còn thực dân, phong kiến, dựng xây chế độ XHCN. Khi những người di cư vào Nam (thế hệ F1, gọi là dân Bắc Kỳ 54) họ đã được những kẻ xâm lăng và bè lũ bán nước ru ngủ bằng miếng pho mát “tự do, dân chủ”, được quây vào những khu tái định cư hoang vắng, tự khai khẩn mưu sinh, còn một bộ phận theo đạo Thiên Chúa hay một số đạo khác thì tự lập lực lượng vũ trang. Dưới thời Ngô Đình Diệm, Phật giáo miền Nam bị coi là thân cộng, nên đã chủ trương bài Phật giáo, tôn Thiên Chúa giáo. Cuộc xung đột tôn giáo đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh tôn giáo, kết hợp với đấu tranh yêu nước ở miền Nam. Trong khi đó, đại đa số người dân yêu nước ở cả 2 miền Nam – Bắc đều hướng về Hồ Chí Minh, tôn vinh Cụ Hồ là lãnh tụ duy nhất cho khát vọng thống nhứt, độc lập, tự do. Năm 1975, trước sự sụp đổ không thể cứu vãn, nhằm chuẩn bị “hậu chiến”, bộ máy phản tuyên truyền đã tung tin xuyên tạc rằng “Việt Cộng sẽ tắm máu những người theo chính quyền Cộng hòa”. Cho tới nay, thủ phủ của những kẻ tỵ nạn chính trị ở quận Cam bên Mỹ còn phả hơi chống cộng cho con cháu họ, nhưng hãy nhớ rằng, ngay như ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Cao Kỳ về cuối đời đều muốn “cáo chết quay đầu về núi”. Chưa kể có vô số người lính Mỹ từng tham gia chiến trường miền Nam, từng gây tội ác, về cuối đời họ cũng nung nấu mong muốn được quay trở lại miền Nam Việt Nam, được làm một điều gì đó để chuộc tội lỗi. Nhân việc này, tôi nhớ lại câu chuyện về anh Morixơn, đã tự thiêu trước lầu Ngũ Giác để phản đối chiến tranh Việt Nam (ngày 2/11/1965).
Gần đây nhứt, ông Biden và ông Trump đều có những lời nhận xét chân thật về một Việt Nam biết dũng cảm bước qua hố sâu hận thù dân tộc để đứng lên kiêu hãnh, tuyệt vời. Đến nay, không chỉ có Hoa Kỳ trở thành đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam mà còn có tới 193 thành viên của Liên hợp quốc có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Không hiểu là họ ghét hay cảm phục Việt Nam mà kết giao bè bạn đến 100% như thế.
Về sự kiện “Mậu Thân 1968”: không thể gọi đây là cuộc “thảm sát” do Việt Cộng tiến hành đối với người dân (vì Việt Cộng trà trộn vào dân thường, khiến quân Mỹ – Ngụy không dám nổ súng”; mà đây thực chất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam; sự kết hợp sức mạnh giữa quân giải phóng với sức mạnh của người dân yêu nước – đó là thế trận lòng dân. Trước hết là các mục tiêu đầu não cuộc chiến tranh miền Nam của Mỹ – Ngụy trở thành mục tiêu đánh phủ đầu. Trong đó, thành phố Huế là nơi bị quân Cộng đánh chiếm lâu dài hơn cả. Tết Mậu Thân 1968 là cơn ác mộng đánh sập ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm góc. Buộc đế quốc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược thúc đẩy cảnh “nồi da xáo thịt”, dùng người Việt đánh người Việt bằng súng đạn Mỹ (Việt Nam hóa chiến tranh). Sau Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, tiến hành một cuộc đàm phán mà thế và lực của Bắc Cộng đã hoàn toàn khác với Hội đàm Giơ – ne – vơ. Trong khi đó, Mỹ cố hà hơi tiếp sức cho Ngụy quyền diễu võ dương oai tại Khe Sanh, đường Chín, Nam Lào, Quảng Trị (mùa khô năm 1972); nhưng càng giãy dụa càng bị lún sâu vào vũng lầy thảm bại. Có một sự kiện đóng chốt đinh quan tài cuộc chiến tranh Việt Nam là 12 ngày đêm B52 của Mỹ bị bắn cháy tơi tả trên bầu trời Hà Nội. Điều này đã được Hồ Chủ tịch tiên đoán từ trước (năm 1967), khi Người căn dặn ông Phùng Thế Tài (Tư lệnh phòng không): “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.
Hiệp định Pari (27/1/1973) là dấu mốc “đánh cho Mỹ cút”; rồi tiếp đó “đánh cho Ngụy nhào”. Ngày 30/4/1975 là sự kết thúc 21 năm leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Đó là kết cục lịch sử của lòng dân theo Đảng, theo Cụ Hồ, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Hoàn toàn không đơn thuần là ai theo ai dưới góc độ lợi ích cá nhân. Nhận thức chính trị đúng, đem lại sức mạnh chính nghĩa và sự chiến thắng của lương tri, phẩm giá. Từ sau ngày 30/4/1975, mọi ngả đường cách mạng Việt Nam đều tiếp tục trên lộ trình được hoạch định từ trước khi giành độc lập, được một vị lãnh tụ vĩ đại, một chính đảng vô sản chân chính soi đường dẫn lối.




