Gần đây, một số đối tượng cố tình xuyên tạc việc lựa chọn, sắp xếp “tứ trụ” lãnh đạo, bóp méo quy trình công tác cán bộ của Đảng bằng những suy diễn chủ quan, áp đặt và thổi phồng yếu tố cá nhân. sử dụng ngôn từ mỉa mai, ám chỉ để dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực. Trong đó điển hình có bài viết của Trần Đức Sơn “Tại sao Trung ương nên “suy tôn” Tô Lâm làm Tổng Bí thư?” Đăng trên Tiếng Dân News ngày 21/12/2025.
Mở đầu bài viết với giọng điệu như sau: “Nếu có một lựa chọn nào vừa nghịch lý vừa hợp logic quyền lực nhất trong thời điểm hiện nay, thì đó chính là việc Trung ương nên tiếp tục để cho Tô Lâm ngồi chiếc ghế Tổng Bí thư”.Giọng điệu mỉa mai, châm chọc trong lập luận nói trên thực chất không nhằm phân tích hay phản biện chính sách, mà hàm chứa ý đồ bôi nhọ cá nhân và xuyên tạc bản chất vấn đề. Việc sử dụng những khái niệm mang tính gợi như “trấn áp”, “kiểm soát”, “im lặng là ổn định” rồi sắp đặt chúng theo lối suy diễn một chiều cho thấy đây không phải là phản biện dựa trên dữ kiện, mà là thủ pháp tu từ nhằm kích thích cảm xúc tiêu cực, gieo nghi ngờ và dẫn dắt người đọc đến kết luận đã được định sẵn. Khi mỉa mai được dùng thay cho lập luận, và ám chỉ được dùng thay cho bằng chứng, thì đó không còn là tranh luận công khai, mà là một cách công kích gián tiếp, làm méo mó nhận thức xã hội và hạ thấp tính nghiêm túc của vấn đề cần bàn luận.
“Tô Lâm – biểu tượng hoàn hảo của “ý Đảng”, nhưng hoàn toàn tách khỏi “lòng dân”. Tô Lâm không cần giấu giếm: Quyền lực ông xây dựng là quyền lực không dựa trên đồng thuận xã hội, mà dựa trên sợ hãi, kiểm soát và trấn áp. Đó không phải sai lầm cá nhân. Đó là sự lựa chọn mô hình. Khi Trung ương đặt ông lên ghế cao nhất, tức là thừa nhận rằng thể chế không còn bất kỳ năng lực cải cách tự thân nào nữa. Nó chọn con đường đơn giản: Siết chặt hơn, mạnh tay hơn, và hy vọng xã hội im lặng lâu hơn…
Cần phải nhìn đúng bản chất công tác lãnh đạo, quản trị trong bối cảnh hiện nay, Thừa nhận một điều rằng: gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội xuất hiện quan điểm cho rằng việc lựa chọn nhân sự lãnh đạo cấp cao hiện nay là biểu hiện của “quyền lực dựa trên sợ hãi”, đồng thời suy diễn rằng thể chế đã “mất khả năng cải cách tự thân”. Những lập luận này nghe qua có vẻ sắc sảo, nhưng thực chất lại mang tính quy chụp, phiến diện và thiếu cơ sở thực tiễn.
Trước hết, cần khẳng định rằng tăng cường kỷ luật, kỷ cương và hiệu lực quản lý nhà nước không đồng nghĩa với trấn áp xã hội. Trong bất kỳ quốc gia nào, nhất là trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động, việc giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Những nỗ lực phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; siết chặt kỷ cương hành chính; ứng dụng công nghệ trong quản lý dân cư, an ninh… là xu thế quản trị hiện đại, không phải là biểu hiện của “nỗi sợ” như cách một số ý kiến cố tình gán ghép.
Bên cạnh đó, việc cho rằng xã hội “im lặng” đồng nghĩa với sự áp đặt là cách nhìn đơn giản hóa khái niệm đồng thuận xã hội. Thực tế cho thấy, sự đồng thuận được hình thành từ những kết quả cụ thể: kinh tế tăng trưởng, đời sống người dân được cải thiện, an sinh xã hội được bảo đảm, đất nước giữ được ổn định trong bối cảnh thế giới đầy bất trắc. Việc người dân yên tâm lao động, sản xuất, đầu tư cho tương lai chính là biểu hiện sinh động của niềm tin xã hội, chứ không phải sự cam chịu hay bị kiểm soát như một số luận điệu xuyên tạc.
Đặc biệt, việc suy diễn công tác nhân sự cấp cao là dấu hiệu “từ bỏ cải cách” càng thiếu căn cứ. Trên thực tế, cải cách chỉ có thể diễn ra hiệu quả khi được đặt trong khuôn khổ kỷ cương, pháp quyền và ổn định chính trị. Việc lựa chọn những cán bộ có kinh nghiệm, bản lĩnh, dám làm, dám chịu trách nhiệm không phải là bước lùi, mà là yêu cầu khách quan nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản trị quốc gia trong giai đoạn mới.
Đối với việc ứng dụng công nghệ, dữ liệu số trong quản lý xã hội, cần nhìn nhận một cách tỉnh táo và khách quan. Công nghệ tự thân không tạo ra đối đầu; ngược lại, nếu được sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, đó là công cụ quan trọng giúp Nhà nước phục vụ người dân tốt hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn. Việc cố tình thổi phồng mặt tiêu cực, gieo rắc lo ngại về “kiểm soát toàn diện” chỉ làm nhiễu loạn nhận thức, không góp phần giải quyết các vấn đề thực chất của xã hội.
Có thể thấy, những quan điểm cực đoan, đối lập hóa giữa kỷ cương và đồng thuận, giữa ổn định và phát triển không phản ánh đúng thực tiễn đất nước. Điều xã hội cần là cái nhìn khách quan, xây dựng và trách nhiệm; còn việc bóp méo, suy diễn nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ chỉ phục vụ những mục đích không lành mạnh.
Tựu trung lại, những luận điệu xuyên tạc này không nhằm đóng góp cho đối thoại xây dựng, mà chủ yếu hướng tới định hướng dư luận theo chiều hướng xấu, kích động nghi ngờ, chia rẽ nhận thức xã hội và làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với công tác lãnh đạo, sắp xếp nhân sự của Đảng. Vì vậy, mỗi người dân cần hết sức thận trọng, tỉnh táo trước các thông tin mang tính suy diễn, xuyên tạc, chủ động kiểm chứng từ nguồn chính thống, không chia sẻ hay tiếp tay cho những luận điệu sai trái, góp phần giữ vững niềm tin xã hội và sự ổn định chung.
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược cho sự phát triển nhanh và bền vững của Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Chính vì vậy, ngay từ khi Đảng ta triển khai công tác chuẩn bị Đại hội, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã xúm vào, cùng nhau bàn mưu, tính kế, sử dụng mọi thủ đoạn, kể cả mưu hèn, kế bẩn nhằm chống phá Đại hội bằng mọi thủ đoạn với các chiêu trò tinh vi, nham hiểmcốt chia rẽ nội bộ, đe dọa trực tiếp nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Nhận diện rõ bản chất, âm mưu và thủ đoạn chống phá ấy là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, góp phần giữ vững thành quả cách mạng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và Nhân dân, bảo đảm cho Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp.
1. Chống phá Đại hội XIV – biểu hiện trực tiếp của âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thủ tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Chống phá Đại hội XIV của Đảng không phải là hiện tượng nhất thời, càng không phải là những “ý kiến phản biện” đơn thuần như các thế lực thù địch ngụy biện, tán phát. Thực chất, đây là biểu hiện tập trung, trực diện của âm mưu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài là xóa bỏ vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam; từng bước phủ nhận và tiến tới thủ tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Có làm như vậy, chúng mới xóa bỏ được chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; mới xóa bỏ được những chiến công vang dội, những chiến thắng vẻ vang, từ Điện Biên Phủ, đến Đại thắng mùa Xuân 1975 và nỗi nhục của quân cướp nước và bán nước; từ đó xóa bỏ thành tự to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Các thế lực thù địch hiểu rõ rằng: Đại hội Đảng XIV là nơi kết tinh trí tuệ, ý chí, bản lĩnh và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; là cột mốc son định hình đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ tới. Vì vậy, nếu làm suy giảm uy tín, vị thế của Đại hội XIV, là làm lung lay niềm tin sắt son của Nhân dân ta vào Đảng trước thềm Đại hội XIV, chúng sẽ tạo ra những “vết rạn” về tư tưởng, chính trị, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Sư thâm thù và mục tiêu sâu xa của chúng là tìm mọi cách phủ nhận bằng được chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng; từ đó cố tình xuyên tạc bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Dưới các chiêu bài “đổi mới mô hình phát triển”, “thoát khỏi ý thức hệ”, “đa nguyên, đa đảng”, chúng tìm cách lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa phụ thuộc, xa rời độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và sự ảnh hưởng to lớn của Đảng.
Chống phá Đại hội XIV vì thế không chỉ là chống phá một sự kiện chính trị, mà là chống phá tương lai, tiền đồ của nước nhà, phủ nhận con đường phát triển và vận mệnh của quốc gia – dân tộc Việt Nam, “đốn từ gốc” triết lý nhân sinh của Nhân dân ta, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng.
2. Tập trung chống phá Văn kiện và nhân sự Đại hội XIV – mũi nhọn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng
Để hiện thực hóa âm mưu thâm độc ấy, các thế lực thù địch tập trung chống phá Đại hội XIV trên hai vấn đề cốt lõi: Văn kiện Đại hội và công tác nhân sự Đại hội, để từ đó chống phá các vấn đề khác.
Đối với Văn kiện Đại hội XIV, chúng ra sức xuyên tạc, bóp méo các quan điểm, mục tiêu, định hướng lớn mà Đảng dự thảo; cố tình tách rời nội dung Văn kiện khỏi bối cảnh thực tiễn đất nước và quốc tế. Chúng vu cáo Đảng “bảo thủ”, “giáo điều”, “thiếu tầm nhìn”, “không theo kịp thế giới”, từ đó gieo rắc hoài nghi, bi quan về tính đúng đắn của đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Tinh vi hơn, chúng cố tình đối lập giữa phát triển kinh tế thị trường với giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ; xuyên tạc rằng Văn kiện Đại hội XIV là “sự tiếp nối lối mòn”, “vết xe đổ của Liên Xô”, nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo chiến lược của Đảng.
Đối với công tác nhân sự Đại hội XIV, đây là mũi tiến công hiểm độc nhất. Chúng tìm mọi cách bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách là đảng cầm quyền; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII – những cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng giữa hai kỳ Đại hội, tập trung xoáy vào chức danh Tổng Bí thư – người đứng đầu của Đảng với việc nêu nhiều tin đồn về các loại kịch bản, làm rối loạn nhận thức của người dân.
Bằng cách thổi phồng khuyết điểm cá nhân, xuyên tạc công tác cán bộ, chúng nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, mất niềm tin vào sự công tâm, trong sạch và chặt chẽ của Đảng trong chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV. Mục tiêu cuối cùng của chúng là làm suy yếu sự thống nhất ý chí và hành động trong nội bộ Đảng.
3. Những thủ đoạn thâm độc, nham hiểm trong chống phá Đại hội XIV của Đảng cần tỉnh táo nhận diện, cảnh giác cao
Để tăng hiệu quả chống phá, các thế lực thù địch sử dụng hàng loạt thủ đoạn thấp hèn, phản khoa học và phản đạo đức.
Một là, dàn dựng, vẽ nên các kịch bản “đấu đá nội bộ”, chia rẽ Đảng theo các “phe” theo cách tưởng tượng, hư cấu văn học, như: phe quân đội, phe công an, phe miền Trung, phe miền Nam… Chúng cố tình khoét sâu sự khác biệt giữa các vùng miền, lĩnh vực công tác nhằm tạo ấn tượng sai lầm rằng, trong Đảng tồn tại những cuộc tranh giành bất tận về quyền lực, ghế ngồi, lợi ích nhóm. Đây là thủ đoạn cực kỳ nguy hiểm, trực tiếp phá hoại nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất – cội nguồn sức mạnh của Đảng.
Hai là, xuyên tạc kết quả Hội nghị Trung ương 14, 15 và toàn bộ công tác chuẩn bị Đại hội XIV. Chúng cắt ghép, sao chép, tán phát thông tin xấu độc, suy diễn tùy tiện, thậm chí bịa đặt trắng trợn nội dung các hội nghị Trung ương, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch rằng Trung ương “bất đồng”, “chia rẽ”, “không thống nhất”.
Ba là, tán phát tin đồn, tin giả về sự “thắng thế” của phe cánh này, sự “thất thế” của phe cánh khác; sử dụng mạng xã hội, blog phản động, kênh truyền thông nước ngoài để lan truyền thông tin độc hại với tốc độ nhanh, phạm vi rộng. Mục tiêu của chúng là gây nhiễu loạn thông tin, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thực tiễn cho thấy, tất cả những luận điệu ấy đều là sản phẩm của tư duy thù địch, phản động, hoàn toàn không có cơ sở khoa học, phản ánh sai bản chất, truyền thống và thực tiễn sinh động, hiệu quả hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đại hội XIV của Đảng là sự kiện trọng đại, là kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá Đại hội, dù tinh vi đến đâu, cũng không thể che giấu được bản chất phản động, chống đối Đảng, chống lại lợi ích quốc gia – dân tộc, các chiêu trò mỵ dân. Nhận diện đúng, vạch trần kịp thời và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chính là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân yêu nước, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà dân tộc ta đã lựa chọn.
Kết luận
Thực tiễn cho thấy, chống phá Đại hội XIV của Đảng là một mặt trận nóng bỏng trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và người dân yêu nước cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị. Cảnh giác không phải để nghi ngờ lẫn nhau, mà để củng cố niềm tin, tăng cường đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.
Kiên quyết không để tin giả, thông tin xấu độc dẫn dắt nhận thức, làm nhiễu loạn tư tưởng, ô nhiễm cái đầu; đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái bằng lập luận sắc bén, bằng thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới; uy tín, vị thế củ Đảng. Đó chính là cách thiết thực nhất, hiệu quả nhất để bảo vệ thành công Đại hội XIV, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và tiền đồ của dân tộc, tương lai của các thế hệ con cháu chúng ta./.
Trước thềm đại hội, tình hình xuyên tạc trên không gian mạng có xu hướng gia tăng rõ rệt cả về tần suất, mức độ và thủ đoạn. Trên trang Tiếng Dân news có một bài viết giật title rằng: “Biết, bàn, làm, kiểm tra, giám sát, thụ hưởng kiểu ‘dân chủ… XHCN’” của Trân Văn là một trong những bài viết lợi dụng kiểu góp ý, phản biện mượn chuyện để cố tình nói xấu lãnh đạo như thế. Hiện nay các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị và một số đối tượng bất mãn triệt để lợi dụng mạng xã hội để phát tán thông tin sai lệch, bóp méo sự thật, gieo rắc nghi ngờ, gây nhiễu loạn dư luận và từng bước làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
Đáng chú ý, các luận điệu xuyên tạc hiện nay không còn mang tính công kích trực diện mà thường núp bóng dưới danh nghĩa “phản biện”, “góp ý xây dựng”. Chúng cố tình khai thác những hạn chế, khuyết điểm hoặc sai phạm cá biệt trong quá trình thực thi chính sách – đặc biệt ở các lĩnh vực nhạy cảm, được xã hội quan tâm như phòng, chống tham nhũng, quản lý tài chính công, tinh gọn bộ máy và công tác nhân sự – rồi cắt ghép, thổi phồng để quy kết bản chất của cả hệ thống chính trị. Thủ đoạn phổ biến là sử dụng những suy đoán mập mờ, thiếu căn cứ, đánh vào tâm lý lo lắng và kỳ vọng của xã hội trước các sự kiện chính trị quan trọng.
Song song với đó, các đối tượng này còn lợi dụng sự quan tâm của dư luận đối với công tác nhân sự đại hội để tung tin đồn thất thiệt, suy diễn về “đấu đá nội bộ”, “lợi ích nhóm”, qua đó hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ, gây chia rẽ và làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Việc sử dụng các tài khoản ẩn danh, các kênh mạng xã hội núp bóng “bình luận thời sự” khiến việc phân biệt đúng – sai của một bộ phận người dân gặp nhiều khó khăn.
Cần nhìn nhận một cách khách quan rằng trong bất kỳ xã hội nào cũng không tồn tại một mô hình quản trị tuyệt đối hoàn hảo, miễn nhiễm trước sai sót hay bất cập. Sự khác biệt căn bản giữa một nền quản trị có trách nhiệm và sự hỗn loạn không nằm ở việc che giấu khuyết điểm, mà ở khả năng nhận diện, đối thoại, điều chỉnh và khắc phục các vấn đề trên cơ sở pháp luật và minh bạch. Việc thổi phồng những hiện tượng cá biệt, đánh tráo khái niệm và quy chụp toàn bộ hệ thống từ một vài sai sót cụ thể không phải là phản biện xây dựng, mà là cách tiếp cận nguy hiểm, làm xói mòn niềm tin xã hội.
Bài viết “Biết, bàn, làm, kiểm tra, giám sát, thụ hưởng kiểu ‘dân chủ… XHCN’” của Trân Văn là một ví dụ điển hình cho lối lập luận đó. Xuất phát từ phản ánh của sinh viên liên quan đến việc chi trả tiền hỗ trợ khi tham gia các hoạt động phục vụ lễ kỷ niệm 80 năm Quốc khánh (A80), tác giả không tập trung phân tích nguyên nhân, trách nhiệm hay đề xuất giải pháp, mà nhanh chóng suy diễn, quy kết rằng “dân chủ XHCN” chỉ là khẩu hiệu hình thức, thậm chí gợi ý về tham nhũng mà không đưa ra bất kỳ bằng chứng cụ thể nào. Đây là kiểu lập luận cảm tính, đánh đồng sai phạm trong khâu thực thi với bản chất của thể chế và đường lối.
Cần khẳng định rõ rằng việc sinh viên lên tiếng thắc mắc, phản ánh về mức chi trả hay sự chậm trễ là hoàn toàn chính đáng. Đáng chú ý hơn, chính việc các cơ sở giáo dục phải đối thoại, giải trình và điều chỉnh cho thấy các cơ chế “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát” không hề vô hiệu như cách tác giả cố tình mô tả. Nếu thực sự tồn tại sự bưng bít toàn diện, những vấn đề này đã không thể được đưa ra công khai, càng không thể dẫn tới việc các đơn vị liên quan phải chịu trách nhiệm trước dư luận.
Việc sử dụng các phép ước đoán mơ hồ, những con số “tạm tính”, “dao động” để suy diễn tổng chi cho các sự kiện lớn rồi so sánh cảm tính với các lĩnh vực an sinh xã hội là sự vi phạm các chuẩn mực tối thiểu của phản biện nghiêm túc. Ngay cả ở những quốc gia có nền quản trị phát triển, các sự kiện chính trị – lịch sử lớn vẫn luôn phát sinh tranh luận về chi phí, nhưng không vì thế mà người ta phủ định toàn bộ mô hình dân chủ hay pháp quyền. Các sự kiện kỷ niệm quốc gia không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, mà còn góp phần củng cố bản sắc, giáo dục truyền thống và tăng cường sự gắn kết xã hội.
Thực tế cho thấy, việc các cơ quan chức năng đã vào cuộc, xử lý sai phạm liên quan đến vụ việc tại Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội là minh chứng rõ ràng cho sự vận hành của pháp luật và cơ chế giám sát, chứ không phải bằng chứng cho sự “mục ruỗng” của cả hệ thống như những luận điệu xuyên tạc cố tình áp đặt. Tôi tin rằng với tinh thần thượng tôn pháp luật, sai phạm đến đâu sẽ được xử lý đến đó, mang lại sự công bằng cho sinh viên, học sinh và toàn bộ người dân sinh sống, học tập và làm việc tốt nhất có thể./.
TS ĐẶNG VIẾT ĐẠT, Học viện Chính trị khu vực IV, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì mà thế lực thù địch bịa đặt, mà là tấm khiên cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.
Thời gian qua, lợi dụng các vụ án liên quan đến đối tượng có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), những phần tử cơ hội chính trị, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã quy chụp, xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Họ cho rằng quy định đó là công cụ để “đàn áp tiếng nói phản biện”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”.
Các luận điệu này được ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ tự do ngôn luận” nhằm phủ nhận tính chính danh, tính hợp hiến, hợp pháp và sự cần thiết của quy định pháp luật quan trọng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và thể chế chính trị. Những thủ đoạn, chiêu trò “đánh lận con đen” này vẫn thường được các đối tượng sử dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất lợi cho Việt Nam trong đối ngoại.
Ảnh minh họa: vov.vn
Bản chất pháp lý ưu việt của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế
Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14).
Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này một mặt nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con người, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.
Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, trong đó mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam là thành viên từ năm 1982) quy định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “có thể bị giới hạn bởi pháp luật” vì các lý do như tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.
Chính vì thế, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế và hợp hiến, hợp pháp ở Việt Nam.
Tội danh này quy định người phạm tội cố ý thực hiện các hành vi thể hiện dưới các phương thức, thủ đoạn lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền khác với mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, như: Viết, biên tập, đăng tải các bài đả kích, lăng mạ, bôi nhọ, nói xấu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet và các phương tiện truyền thông khác làm ảnh hưởng, thiệt hại đến uy tín của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thanh danh của Đảng, Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong xã hội.
Các chế tài đối với người phạm tội này (bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm) là các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm này đối với xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể và lợi ích quốc gia-dân tộc.
Thực tế pháp luật hầu hết các quốc gia dân chủ đều có quy định hình sự tương tự để xử lý các hành vi lạm dụng tự do ngôn luận gây hại nghiêm trọng, như: Tội phỉ báng, vu khống (Anh, Mỹ, Australia...); tội kích động thù hận (nhiều nước châu Âu); tội tán phát thông tin sai lệch gây hoang mang dân chúng (Pháp, Đức...); tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy (Mỹ, Ấn Độ...). Do vậy, Nhà nước quy định “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành là phù hợp thông lệ pháp luật thế giới và thực tiễn đất nước.
Việc quy định “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam nhằm: 1) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bao gồm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Những lợi ích này là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của quốc gia, dân tộc; 2) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, gồm uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật kinh doanh, tài sản... của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gồm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư, bí mật cá nhân, gia đình, tài sản... của mỗi công dân; 4) Bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, gồm chống lại sự lan truyền thông tin giả mạo, độc hại, gây hoang mang, chia rẽ xã hội, phá hoại niềm tin.
Như vậy, việc quy định tội danh này không nhằm hạn chế tự do phát biểu chính kiến hay phản biện xã hội, mà nhằm ngăn chặn sự lạm dụng, sử dụng các quyền tự do đó như một công cụ để gây hại một cách có chủ đích và nghiêm trọng đến các giá trị được pháp luật bảo vệ.
Thực tế, không phải mọi phát biểu trái chiều của cá nhân đều bị coi là phạm tội. Những hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi nó thực sự xâm phạm đến một trong các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ (lợi ích Nhà nước, quyền lợi tổ chức, cá nhân) do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện.
Vạch trần các luận điệu xuyên tạc Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành
Thứ nhất, luận điệu cho rằng “Điều 331 dùng để đàn áp tiếng nói phản biện, chỉ trích chính quyền” là sự suy diễn ác ý và sai lầm của thế lực thù địch.
Phản biện xã hội đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung, lành mạnh, xây dựng, dựa trên sự thật và động cơ trong sáng luôn được khuyến khích và bảo vệ tại Việt Nam. Hàng nghìn ý kiến phản biện trên báo chí, diễn đàn Quốc hội, hội thảo khoa học, qua các kênh tiếp công dân... là minh chứng rõ ràng cho điều này. Vừa qua, kết quả góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tham gia tích cực của người dân với hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước, trong đó có gần 36,6 triệu ý kiến từ cá nhân, và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% cho thấy sự đồng thuận cao của xã hội đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi.
Thực tiễn đó cho thấy, Việt Nam không hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền trưng cầu ý dân, phản biện xã hội. Ngược lại, việc thực hiện các quyền này đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung luôn được tôn trọng, bảo đảm và khuyến khích thực hiện đầy đủ trong thực tế. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ áp dụng đối với hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xuyên tạc, phỉ báng, tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, luận điệu cho rằng “Điều 331 được sử dụng để bịt miệng blogger, nhà báo độc lập” là sự đánh tráo khái niệm và ngụy biện của thế lực thù địch.
Nhà báo, blogger hoạt động hợp pháp, tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, cung cấp thông tin chính xác, chính thống, có trách nhiệm luôn được tôn trọng. Hệ thống báo chí chính thống và nhiều blogger tuân thủ pháp luật vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam.
Việc một số cá nhân tự nhận là “nhà báo”, “blogger” nhưng lợi dụng danh nghĩa này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (như cố ý đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tán phát thông tin chống phá Nhà nước) thì có thể bị xử lý theo Điều 331 hoặc các điều luật khác (như "Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông"-Điều 288 của Bộ luật Hình sự).
Việc xử lý họ là vì hành vi phạm tội, không phải vì danh nghĩa hay nghề nghiệp của họ. Luật Báo chí năm 2016 phân biệt rõ nhà báo hoạt động trong cơ quan báo chí được cấp phép với người hoạt động thông tin trên mạng (không phải là nhà báo theo luật định). Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, nhưng đều phải tuân thủ pháp luật.
Thứ ba, luận điệu cho rằng “Việt Nam vi phạm cam kết quốc tế về tự do ngôn luận khi có Điều 331” là sự vu khống của thế lực thù địch.
Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành phù hợp với giới hạn quyền được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Quy định này cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp giới hạn quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, quyền hoặc uy tín của người khác. Việc thực thi Điều 331 chính là để bảo vệ các giá trị đó. Các báo cáo quốc gia định kỳ của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều giải trình rõ quan điểm và thực tiễn này.
Tựu trung lại, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì thế lực thù địch bịa đặt, mà là “tấm khiên” cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất, có trật tự và an toàn. Quy định đó nhằm bảo vệ xã hội khỏi những hành vi lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích chung, quyền lợi chính đáng của người khác. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.
Với bản chất xảo trá, lật lọng, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và những đối tượng cơ hội chính trị lại đưa ra những thông tin xuyên tạc, bôi nhọ “Chiến dịch Quang Trung”, đả kích ý nghĩa nhân văn và vai trò của Đảng, Nhà nước trong công tác khắc phục hậu quả mưa lũ, ổn định đời sống nhân dân.
Bôi nhọ, bẻ lái mục đích, ý nghĩa nhân văn của chiến dịch
Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát động, chỉ đạo triển khai “Chiến dịch Quang Trung” thần tốc sửa chữa, xây dựng lại nhà ở cho các gia đình có nhà bị thiệt hại do các đợt thiên tai vừa qua thì ngay lập tức, các thế lực thù địch, phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị đã lợi dụng hoạt động trên nhằm xuyên tạc, đả kích. Chúng tung ra các bài viết với giọng điệu khiêu khích, mỉa mai, quy chụp như: “Cán bộ giúp dân: Ân huệ hay trách nhiệm”; “tại sao phải mang tên một hoạt động quân sự, chết chóc gắn với việc dựng nhà”; “liệu có kịp làm hay chỉ hô hào, bệnh thành tích rồi bỏ mặc dân không nhà cửa”…
Các đối tượng còn xuyên tạc chủ trương, mục đích xây dựng, kiến thiết nhà ở, cho rằng Đảng “vì cá nhân chứ không vì dân”; việc dựng nhà “chỉ là làm màu, khoe mẽ, đánh bóng hình ảnh”! Một số luận điệu phủ nhận các thành tựu đạt được, thổi phồng những tồn tại, hạn chế để quy do Đảng lãnh đạo nên đất nước bị tụt hậu, không phát triển, vì Đảng mà người dân phải gánh chịu nhiều thiên tai; thiên tai do nhân tai, do đường lối của Đảng tạo ra khiến cho nhân dân phải chịu cảnh lầm than, không có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Nhiều bài viết tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật như “chính quyền thờ ơ”, “cán bộ vô cảm”, vu cáo khi thiên tai đi qua, chỉ thấy dân livestream, không thấy chính quyền hành động, dọn dẹp giúp dân… Có đối tượng lấy danh nghĩa nhà nghiên cứu, phản biện xã hội để đưa ra những luận điệu phê phán, ngụy biện dưới chiêu bài “hợp lòng dân”, “hợp bối cảnh”! Thủ đoạn nguy hiểm ở chỗ, các đối tượng không công kích trực diện mà thường đội lốt “góp ý xây dựng”, “phản biện xã hội”, “tiếng nói nhân dân”, tổ chức kiểu toạ đàm, hội luận, hội thảo, trả lời phỏng vấn… khiến một bộ phận người đọc thiếu lập trường có thể bị cả tin, lôi kéo.
Khi mà cơn lũ thiên tai vừa đi qua còn để lại nhiều hậu quả nặng nề thì “cơn lũ” xuyên tạc, chống phá trên không gian mạng đã tạo ra những luồng thông tin sai trái, nguy hiểm nhằm làm rạn nứt tinh thần đoàn kết - giá trị cốt lõi giúp người Việt vượt qua thiên tai suốt bao đời nay. Mục đích của các đối tượng là kích động sự mâu thuẫn giữa Trung ương với địa phương, giữa các khu vực, vùng miền với nhau, phá vỡ khối đoàn kết toàn dân tộc. Tất cả những hành động đó đều nằm trong âm mưu “diễn biến hòa bình”, sử dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào chính sách của Đảng và Nhà nước, nhất là khi chúng ta đang tập trung mọi nguồn lực để khắc phục hậu quả do mưa lũ gây ra, sớm ổn định lại đời sống người dân. Kích động tâm lý hoảng loạn, gieo rắc sự hoang mang, sợ hãi trong quần chúng nhân dân, chĩa mũi nhọn vào chính quyền và các lực lượng chức năng đang gồng mình hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân. Từ đó, các đối tượng còn hướng lái đến các khái niệm về dân chủ, nhân quyền, về “đa nguyên, đa đảng” để so sánh, quy chụp rằng mô hình lãnh đạo của Đảng Cộng sản là lỗi thời, cản trở phát triển, đi ngược lại lợi ích của nhân dân, mỉa mai Đảng chỉ đạo chống bão lũ còn không xong nên “không cần phải tổ chức đại hội Đảng”!
Điều nguy hiểm trên không gian mạng là đối tượng mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong nhắm đến là một bộ phận giới trẻ thiếu bản lĩnh chính trị và những đối tượng có tư tưởng chống đối trong nước, những người có định kiến với Đảng, Nhà nước, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Hậu quả không chỉ đánh vào lòng tin của người dân mà còn tác động đến niềm tin của cộng đồng quốc tế, ảnh hưởng đến sự ủng hộ của các quốc gia, tổ chức quốc tế trong việc giúp đỡ Việt Nam khắc phục hậu quả thiên tai; gây hiểu lầm, chia rẽ giữa cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc.
Cán bộ, chiến sĩ Phòng Cảnh sát cơ động Công an TP Đà Nẵng thực hiện “Chiến dịch Quang Trung” tại thôn Atêếp, xã Avương.
Khẳng định quyết tâm không để ai bị bỏ lại phía sau
Cuối năm 2025, miền Trung lại một lần nữa trở thành tâm điểm của thiên tai. Hơn 900 ngôi nhà sập đổ, hơn 3.300 căn hư hỏng cùng những thiệt hại lớn về hoa màu, tài sản. Trước thiệt hại to lớn đó, Đảng, Nhà nước đã nhanh chóng hành động bằng sự quyết liệt và nhân văn: Ngày 30/11, Thủ tướng Chính phủ phát động “Chiến dịch Quang Trung” - một chiến dịch mang tinh thần thần tốc của vị anh hùng dân tộc trong lịch sử, nhưng cũng đầy ắp hơi ấm của tình người hôm nay.
"Chiến dịch Quang Trung" không chỉ là một phản ứng khẩn cấp trước thiên tai mà là điểm nhấn sinh động trong một chủ trương lớn, nhất quán của Đảng và Nhà nước về bảo đảm an sinh xã hội; được đẩy nhanh bằng những mệnh lệnh hành động cụ thể, rõ việc, rõ tiến độ, rõ trách nhiệm, lan tỏa từ Trung ương đến từng địa phương. Vượt xa giới hạn của một chiến dịch cứu trợ, cứu hộ thiên tai, "Chiến dịch Quang Trung" là lời khẳng định của năng lực và ý chí Việt Nam, của tinh thần chính trị vì nhân dân phục vụ. Trong chiến dịch này, các lực lượng vũ trang từ nhân dân mà ra, đã sát cánh cùng người dân xây dựng lại nhà cửa, quân với dân một ý chí.
Trong chiến dịch đó, lực lượng Công an, Quân đội đóng vai trò nòng cốt, phối hợp cùng các lực lượng khác ở địa phương vào cuộc với tinh thần khẩn trương nhất, quyết liệt nhất, hiệu quả nhất. Những đôi vai của chiến sĩ Công an, Quân đội, Thanh niên tình nguyện vác từng bao xi măng, kéo từng tấm tôn giữa con đường còn lầy lội nước lũ, những bàn tay của các anh không quản khó khăn cùng dựng lại từng cây cột, từng mái nhà cho người dân. Thần tốc và quyết liệt, mạnh mẽ và khẩn trương. Đó là những bước chân nối tiếp tinh thần Tây Sơn thần tốc của cha ông xưa đánh đuổi ngoại xâm, nhưng giờ đây là sự hồi sinh của niềm tin và cuộc sống cho đồng bào sau bão lũ.
Có thể thấy, “Chiến dịch Quang Trung” không phải là một phản ứng ngắn hạn, tức thời của Đảng, Nhà nước trước những thiệt hại to lớn bởi thiên tai. Chiến dịch đã được thể hiện trên một nền tảng của chính sách chiến lược đã được Đảng và Nhà nước triển khai là Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, trong đó đặt ra mục tiêu đến năm 2030 sẽ xóa bỏ hoàn toàn tình trạng nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, biến đổi khí hậu. Chỉ trong hơn một năm qua, 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát được xây dựng lại với tổng kinh phí gần 50.000 tỷ đồng, huy động nguồn lực kết hợp giữa Trung ương, địa phương, doanh nghiệp, Mặt trận Tổ quốc. Cùng với đó là chương trình nhà ở xã hội với hơn 132.000 căn đang được triển khai, hàng chục nghìn căn đã bàn giao cho người lao động ở các thành phố lớn.
Từ tinh thần "Chiến dịch Quang Trung", các địa phương miền Trung và Tây Nguyên đã và đang triển khai tái thiết với tinh thần “vừa chạy đua với thời gian, vừa đảm bảo an toàn tuyệt đối”. Mỗi căn nhà dựng mới đều được xây theo tiêu chuẩn “3 cứng”, có gác lửng và khung chịu lực vững vàng. Nhiều nơi như Đắk Lắk, Quảng Trị, Huế… đã khởi công hàng trăm căn nhà chỉ trong ít ngày. Sự khẩn trương ấy không chỉ nhằm kịp tiến độ mà để giữ lời hứa “không ai đón Tết trong cảnh không có nhà”. Những ngày này, khi gió lạnh cuối năm thổi về không ngớt, dấu tích mưa lũ vẫn in hằn khắp thôn xóm thì khắp nơi đang bừng lên một nhịp sống mới.
Tinh thần khẩn trương, thần tốc của “Chiến dịch Quang Trung” đang hiện hữu rõ ràng, mạnh mẽ như một lời hồi đáp đầy trách nhiệm và nghĩa tình trước những mất mát mà nhân dân nơi đây đã phải gánh chịu. Tính đến ngày 17/12, đã có 1.622 căn được khởi công xây dựng, chiếm 98,1% tổng số nhà xây mới; 32.259/32.259 nhà được sửa chữa, chiếm tỷ lệ 90,3%.
Thực tiễn cho thấy, trong những khoảnh khắc tưởng như bi thương nhất, người ta lại thấy một đất nước Việt Nam giàu tình người. Đó là Việt Nam của tình thương, của sự sẻ chia, của lòng nhân ái. Sức mạnh của quốc gia, sự đoàn kết của một dân tộc hiện ra không phải ở các con số GDP, những đô thị sầm uất mà trong khoảnh khắc Đảng, Nhà nước và đồng bào cả nước chung tay, hướng về giúp đỡ người dân dựng lại mái nhà, yên tâm an cư, định cư sau đổ nát để không một ai bị bỏ lại phía sau, bởi trong tâm thức người Việt, giúp người khác chính là giúp chính mình. Tình dân tộc, nghĩa đồng bào, tinh thần tương thân, tương ái không chỉ là đạo lý, mà là sức mạnh nội sinh của quốc gia là chất keo gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khi cả dân tộc biết sẻ chia, mọi tổn thương sẽ được hàn gắn; khi mỗi người dân biết mở lòng, đất nước sẽ mạnh mẽ hơn.
Những kết quả trên không chỉ thể hiện quyết tâm chính trị cao, sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ mà còn lan tỏa sâu sắc tinh thần, trách nhiệm và nghĩa tình của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội cũng như tạo chất keo gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi viên gạch được đặt xuống không chỉ là mái ấm cho từng gia đình, mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ của Đảng, Nhà nước luôn hành động vì dân, đặt quyền được sống an toàn và an cư của nhân dân lên hàng đầu.
“Chiến dịch Quang Trung” không chỉ là cuộc chạy đua với thời gian để khắc phục hậu quả thiên tai, mà còn là minh chứng sinh động cho sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, để người dân sớm ổn định cuộc sống, yên tâm đón Tết, tự tin cho cuộc sống mai sau. Thực tiễn sinh động đó là minh chứng phản bác các luận điệu xảo trá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động đối với chủ trương đầy tính nhân văn, nhân ái của Đảng, Nhà nước ta.
Việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài (các đối tượng đều có quốc tịch Việt Nam) là quyết định đúng đắn, đúng mong đợi của nhân dân; đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật Việt Nam; phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế và phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là biểu hiện của một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, một quốc gia có chủ quyền, và một dân tộc không bao giờ chấp nhận bị xúc phạm, bị chia rẽ hay bị dẫn dắt bởi những luận điệu sai trái.
Đối tượng lợi dụng tự do để làm điều sai trái sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin, tự do ngôn luận và tự do báo chí là những giá trị được mọi quốc gia tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, những quyền này không bao giờ là quyền tuyệt đối. Lịch sử lập pháp quốc tế cũng như thực tiễn pháp luật các nước phát triển đều khẳng định rằng, không một quốc gia văn minh nào cho phép lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lãnh tụ, kích động thù hằn, phá hoại trật tự xã hội hay chống lại Nhà nước.
Đối tượng Nguyễn Văn Đài và Lê Trung Khoa.
Từ quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam cần nhận thức rõ bản chất của hành vi mà các đối tượng Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài thực hiện hoàn toàn không thuộc phạm vi bảo hộ của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Quyền này được quy định trong Điều 25 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam và Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1988. Nhưng chính Công ước ICCPR - chuẩn mực nhân quyền cao nhất thế giới - cũng khẳng định tại khoản 3, Điều 19 rằng quyền tự do biểu đạt phải bị giới hạn khi cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội, cũng như quyền và uy tín của người khác.
Điều đó có nghĩa, mọi hành vi bịa đặt, bóp méo, vu khống lãnh đạo; mọi luận điệu kích động, cổ súy chống chính quyền; mọi hành động tổ chức, tiếp tay hoặc kêu gọi lực lượng bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đều nằm ngoài phạm vi bảo hộ của quyền tự do ngôn luận và đương nhiên phải bị chế tài. Các đối tượng như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đã tán phát thông tin sai lệch, gây hoang mang dư luận và hạ thấp uy tín Nhà nước, đã vượt qua lằn ranh, giới hạn của tự do ngôn luận và tự do báo chí.
Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 của Việt Nam cho thấy, tội phạm “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tội phạm này xâm phạm an ninh quốc gia, sự thống nhất về tư tưởng, niềm tin của nhân dân đối với chế độ, cũng như làm lung lay niềm tin của quần chúng nhân dân với chính quyền.
Tất cả các nhu cầu chính đáng trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, trong đó có bảo đảm an ninh, trật tự, ổn định, hòa bình để phục vụ phát triển đất nước. Quy định này thiết lập ranh giới rõ ràng giữa hành vi (hành vi khách quan của tội phạm) thực hiện quyền tự do, dân chủ và hành vi vi phạm pháp luật bị coi là tội phạm (tuyên truyền thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, phỉ báng chính quyền,...) và không ngăn cản việc sử dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền con người khác.
Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm và thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy và phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bên cạnh đó, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của tất cả các quốc gia trên thế giới để thực hiện ngày càng tốt hơn nữa các giá trị tự do ngôn luận, tự do báo chí cho mọi công dân.
Tuy nhiên, các quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận đều phải có giới hạn nhất định, phù hợp với văn hóa, thuần phong, mỹ tục và pháp luật Việt Nam, không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích của công dân Việt Nam. Việt Nam kiên quyết không cho phép bất kỳ tổ chức, cá nhân nào lợi dụng quyền tự do để xâm phạm chủ quyền, phá hoại Nhà nước, xúc phạm lãnh đạo hoặc gây mất đoàn kết dân tộc. Tự do không bao giờ là cái cớ để phá hoại quốc gia, xúc phạm lãnh đạo hoặc gieo rắc sự thù hằn. Những đối tượng lợi dụng tự do để làm điều sai trái sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đây là thông điệp kiên quyết của Nhà nước Việt Nam: bảo đảm quyền tự do, nhưng đồng thời bảo vệ nghiêm khắc trật tự, kỷ cương và chủ quyền quốc gia.
Thời gian qua, một số đối tượng như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đã cố tình vượt qua giới hạn pháp luật, sử dụng không gian mạng làm công cụ tán phát thông tin độc hại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị và trật tự xã hội, gây bức xúc dư luận xã hội. Nhân dân cả trong và ngoài nước đã nhận thấy rõ bộ mặt thật của các đối tượng: không phải phản biện, không phải đóng góp xây dựng, mà là cố tình xuyên tạc, bịa đặt, gây nhiễu loạn thông tin, xúc phạm Nhà nước và kích động chống phá. Quần chúng vô cùng bức xúc trước việc các đối tượng lợi dụng không gian mạng để gieo rắc thù hằn, làm hoang mang dư luận và gây tổn hại đến uy tín quốc gia. Dư luận yêu cầu chính quyền phải có biện pháp mạnh tay, kiên quyết và nghiêm minh, xử lý đúng người đúng tội để bảo vệ sự thật, bảo vệ kỷ cương pháp luật và bảo vệ sự bình yên của nhân dân. Đây là mong muốn chính đáng, thể hiện tinh thần cảnh giác và ý thức trách nhiệm của toàn xã hội.
Nhiều cựu cộng tác viên, những người từng nghe theo chúng cũng đã tỉnh ngộ, mạnh dạn lên tiếng tố cáo, vạch trần thủ đoạn và âm mưu thật sự của các đối tượng. Ngay như bản thân đối tượng Đỗ Văn Ngà, đồng phạm với Lê Trung Khoa, quá trình làm việc với cơ quan chức năng cũng đã thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân, đã viết đơn tố cáo hành vi viết bài có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Lê Trung Khoa, mong muốn người dân nâng cao cảnh giác khi tiếp xúc với những bài viết có nội dung sai sự thật trên trang “Thoibao.de”.
Do đó, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt đối với Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài (các đối tượng đều có quốc tịch Việt Nam) là quyết định đúng đắn, đúng mong đợi của nhân dân; đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật Việt Nam; phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế và phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc. Đó là biểu hiện của một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, một quốc gia có chủ quyền, và một dân tộc không bao giờ chấp nhận bị xúc phạm, bị chia rẽ hay bị dẫn dắt bởi những luận điệu sai trái. Các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Việc điều tra dựa trên chứng cứ rõ ràng, khách quan và phù hợp với các quy định pháp lý trong nước và quốc tế.
Không chỉ tại Việt Nam, mọi quốc gia trên thế giới không cho phép bất cứ một tổ chức, cá nhân nào lợi dụng các quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nếu cá nhân nào đó lợi dụng các quyền tự do, dân chủ của mình để phá hoại, gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến các quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì sẽ bị pháp luật nghiêm trị, bất kể người đó là ai. Đây là việc thực thi pháp luật và là công việc nội bộ của Việt Nam, bất kỳ sự can thiệp của quốc gia, tổ chức, cá nhân nào vào công tác điều tra, xử lý các đối tượng nêu trên đều không phù hợp với nguyên tắc, nội dung của luật pháp quốc tế.
Là công dân Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ, chăm lo và tạo mọi điều kiện để học hành, làm việc, trưởng thành; dù người thân, gia đình, họ hàng của các đối tượng vẫn đang cư trú trong nước và luôn được chính quyền các cấp quan tâm, bảo đảm an ninh, an sinh và quyền lợi hợp pháp như mọi công dân khác; nhưng các đối tượng lại chọn con đường phản bội. Họ quay lưng với quê hương, phủ nhận những giá trị đã nuôi dưỡng mình, lợi dụng môi trường ở nước ngoài và không gian mạng để xuyên tạc, bịa đặt, công kích Nhà nước, xúc phạm lãnh đạo và gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt.
Sự vô ơn ấy không chỉ phản ánh sự suy đồi về đạo đức cá nhân, mà còn là hành vi phản trắc đối với chính đất mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng họ trở thành con người. Việc lợi dụng cư trú ở địa bàn nước ngoài để vọng về những luận điệu chống phá Tổ quốc, phản bội đồng bào, trốn tránh trách nhiệm là việc làm của những kẻ vô lại. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an Việt Nam kêu gọi các đối tượng sớm ăn năn, hối cải, quay trở về nước đầu thú để được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
Tự do ngôn luận, tự do báo chí không phải “cái cớ” để phá hoại quốc gia, gieo rắc thù hận
Từ quy định của pháp luật quốc tế, việc các quốc gia dung túng, bao che cho các cá nhân là công dân nước ngoài (Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đều còn quốc tịch Việt Nam) lợi dụng các quyền tự do dân chủ, tự do báo chí, tự do ngôn luận để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm chủ quyền an ninh mạng của Việt Nam là không đảm bảo các quy định của pháp luật quốc tế, ảnh hưởng đến quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Việt Nam kiên quyết bảo vệ quyền tài phán của mình và không chấp nhận bất kỳ hành vi can thiệp nào vào quá trình thực thi pháp luật.
Các quốc gia có liên quan cần thực hiện trách nhiệm chung trong đấu tranh với các đối tượng lợi dụng không gian mạng để phá hoại hòa bình và ổn định của Việt Nam. Trong thời đại số, tội phạm mạng và hoạt động tuyên truyền chống Nhà nước có tính chất xuyên biên giới, đòi hỏi sự hợp tác quốc tế chặt chẽ. Việc xử lý các đối tượng không chỉ là trách nhiệm của Việt Nam mà còn là yêu cầu khách quan đối với những nước đang chứa chấp đối tượng cư trú.
Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Đức có quan hệ Đối tác chiến lược. Các hoạt động đối ngoại, hợp tác thời gian qua được tăng cường dựa trên sự tin cậy lẫn nhau và thúc đẩy lợi ích chung cho hòa bình, phát triển của hai nước.
Là những thành viên tích cực của Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm năm 2025, Công ước của Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm có tổ chức, các cơ quan chức năng phía Cộng hòa Liên bang Đức cần có biện pháp không để các cá nhân Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài lợi dụng lãnh thổ, tài nguyên của Đức để chống phá Việt Nam; hợp tác dẫn độ, trục xuất các đối tượng về Việt Nam để xử lý theo quy định của pháp luật.
Thời gian qua, một số đối tượng như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đã sử dụng không gian mạng làm công cụ tán phát thông tin độc hại, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh chính trị và trật tự xã hội, gây bức xúc dư luận xã hội. Dư luận trong và ngoài nước đã nhận thấy rõ bộ mặt thật của các đối tượng: không phải phản biện, không phải đóng góp xây dựng mà là cố tình xuyên tạc, bịa đặt, gây nhiễu loạn thông tin, xúc phạm Nhà nước và kích động chống phá.
Là công dân Việt Nam, sinh ra và lớn lên trên đất nước Việt Nam, được Nhà nước bảo hộ, chăm lo và tạo mọi điều kiện để học hành, làm việc, trưởng thành; dù người thân, gia đình, họ hàng của các đối tượng vẫn đang cư trú trong nước và luôn được chính quyền các cấp quan tâm, bảo đảm an ninh, an sinh và quyền lợi hợp pháp như mọi công dân khác nhưng Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài lại chọn con đường phản bội…
Các đối tượng Nguyễn Văn Đài và Lê Trung Khoa.
Được Nhà nước khoan hồng nhưng tiếp tục chống phá
Lê Trung Khoa (SN 1971 tại tỉnh Thanh Hóa), quốc tịch Việt Nam, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh sang Cộng hòa Liên bang Đức tại số 1, ngõ 81 đường Láng, phường Đống Đa, TP Hà Nội. Từ năm 1971 đến năm 1988 ở với gia đình, học hết cấp III tại trường Phổ thông Trung học Nguyễn Huệ (nay là trường Phổ thông Trung học Quang Trung, TP Hà Nội). Từ năm 1988 là sinh viên của trường Đại học Mỹ thuật công nghiệp, đến năm 1994 bị cho thôi học. Từ tháng 1/2016, Lê Trung Khoa xuất cảnh sang Cộng hòa Liên bang Đức.
Tại Đức, Lê Trung Khoa đã sử dụng trang thoibao.de (do Lê Trung Khoa thành lập và làm Tổng biên tập, có trụ sở tại Berlin, Cộng hòa Liên bang Đức) để đăng tải nhiều bài viết có nội dung công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước; trả lời phỏng vấn BBC, VOA, RFA,... tổ chức thảo luận bàn tròn, hội luận trực tuyến để xuyên tạc tình hình “tự do báo chí, tự do ngôn luận” ở Việt Nam; lợi dụng danh nghĩa chống Trung Quốc để biểu tình chống Việt Nam tại Berlin... Ngoài ra, Lê Trung Khoa có quan hệ với số đối tượng phản động như Vũ Quốc Phương (đài BBC), Vũ Quốc Dụng - cầm đầu “mạng lưới những người bảo vệ nhân quyền - VETO” tại Đức...
Theo tài liệu điều tra thời gian gần đây, Lê Trung Khoa sử dụng các kênh truyền thông, trang mạng xã hội để đăng tải hàng nghìn bài viết, video xuyên tạc tình hình chính trị, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam; đặc biệt là rất nhiều bài viết có nội dung bôi nhọ, hạ thấp uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xuyên tạc tình hình nội bộ gây hoang mang dư luận trong quần chúng nhân dân. Móc nối, câu kết với nhiều đối tượng phản động khác như: Vũ Quốc Phương, Vũ Quốc Dụng, Nguyễn Văn Đài... công khai tiến hành các hoạt động chống Việt Nam.
Có thể thấy, bản thân Lê Trung Khoa có xuất thân hoàn toàn từ Việt Nam nhưng định cư lâu năm tại nước ngoài. Việc sử dụng danh nghĩa “nhà báo” để điều hành trang “thoibao.de” thực chất là hành vi lập “điểm đen tuyên truyền”, phát tán thông tin bịa đặt, thổi phồng, giật gân, tấn công trực diện vào sự ổn định chính trị và uy tín Nhà nước Việt Nam, vì lợi ích kinh tế, động cơ vụ lợi. Bản chất của hành vi ấy không phải làm báo mà là thực hiện truyền thông thù địch. Trước các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của Lê Trung Khoa, ngày 17/11/2025, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Trung Khoa về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015.
Nguyễn Văn Đài (SN 1969 tại Hưng Yên, quốc tịch Việt Nam, có hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh sang Đức tại P302, Z8 khu tập thể Bách Khoa, phường Bạch Mai, TP Hà Nội). Nguyễn Văn Đài từng đi xuất khẩu lao động tại Đức, sau đó về nước học tại trường Đại học Luật Hà Nội và hành nghề luật sư. Năm 2002, Nguyễn Văn Đài chuyển về Đoàn Luật sư Hà Nội; sau đó thành lập và làm Giám đốc Công ty TNHH Dịch thuật và Tư vấn Việt Luật; đồng thời là Trưởng Văn phòng Luật sư Thiên Ân. Tháng 4/2004, Đài lập nhóm “Luật sư Vì Công lý”.
Năm 2006, Nguyễn Văn Đài tham gia tổ chức khủng bố Việt Tân và thực hiện kế hoạch câu móc các hệ phái Tin lành ở Việt Nam; đồng thời, trở thành một “khâu trung gian” giữa các tổ chức phản động lưu vong và các đối tượng chống đối ở trong nước. Với vỏ bọc “tín đồ đạo Tin lành”, Nguyễn Văn Đài đã thường xuyên ra nước ngoài tham gia các buổi điều trần nhằm xuyên tạc, vu cáo Việt Nam về “dân chủ”, “nhân quyền”. Cũng trong thời gian này, Nguyễn Văn Đài đã soạn thảo nhiều tài liệu tuyên truyền, chống phá Việt Nam như: “Quyền tự do thành lập đảng”, “Dân trí và dân chủ”, “Xã hội dân sự ở Việt Nam”; đồng thời, xây dựng mối quan hệ khăng khít với nhiều tổ chức phản động, như: Việt Tân; Họp mặt Dân chủ; Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam; khối 8406; đảng Dân chủ Việt Nam; Ủy ban Bảo vệ Người Lao động Việt Nam...
Ngày 3/3/2007, Nguyễn Văn Đài bị bắt và sau đó bị kết án 4 năm tù, 4 năm quản chế về tội “Tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo Điều 88, Bộ luật Hình sự năm 1999.
Sau khi được ra tù vào ngày 5/3/2011, Nguyễn Văn Đài đã khởi xướng thành lập “Hội Anh em Dân chủ” (HAEDC) để nối tiếp các phương thức hoạt động chống phá trước đó.
Ngày 5/4/2018, Nguyễn Văn Đài cùng các đối tượng thành viên cốt cán của HAEDC là Phạm Văn Trội, Nguyễn Trung Tôn, Nguyễn Bắc Truyền cùng các đối tượng Trương Minh Đức, Lê Thu Hà đã bị TAND TP Hà Nội xét xử về hành vi “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo quy định tại Điều 79, Bộ luật Hình sự năm 1999. Trong đó, Nguyễn Văn Đài lĩnh án cao nhất là 15 năm tù và bị phạt quản chế 5 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt.
Với chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước ta, ngày 7/6/2018, Nguyễn Văn Đài được tạm đình chỉ thi hành án hình sự để cùng vợ xuất cảnh định cư tại Đức vì lý do chữa bệnh. Trước khi xuất cảnh, Nguyễn Văn Đài đã viết bản cam đoan có nội dung “Khi được sang CHLB Đức, tôi sẽ không hoạt động chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
Tuy nhiên, thời gian sinh sống tại Đức, cho rằng các cơ quan chức năng Việt Nam không thể điều tra, xử lý, Nguyễn Văn Đài đã “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục thể hiện thái độ thù địch, lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tuyên truyền, kích động nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam; tiếp tục thực hiện nhiều hoạt động chống Đảng, Nhà nước thông qua các tài khoản mạng xã hội như: Facebook “Nguyễn Văn Đài”, kênh Youtube “Luật sư Nguyễn Văn Đài” công khai ý đồ hoạt động chống phá Việt Nam như: Phục hồi tổ chức phản động “Hội anh em dân chủ”, móc nối với các tổ chức phản động, khủng bố Việt Tân, mạng lưới người bảo vệ nhân quyền... công khai tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam.
Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, kêu gọi, vận động nước ngoài can thiệp, gây sức ép đòi trả tự do cho số thành viên “Hội anh em dân chủ” đang chấp hành án phạt tù. Tham gia các diễn đàn, hội nhóm chống đối, phản động trên không gian mạng nhằm móc nối, tạo dựng lực lượng chống đối trong, ngoài nước. Tháng 9/2022, Nguyễn Văn Đài được bầu làm “ủy viên trung ương” của tổ chức khủng bố “Việt Tân”; tháng 9/2025, Đài tiếp tục được bầu giữ vị trí “ủy viên trung ương” nhưng không công khai.
Từ đầu năm 2025 đến nay, Nguyễn Văn Đài đã tán phát hơn 3.500 bài viết, video có nội dung bịa đặt, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; lợi dụng các vấn đề chính trị, xã hội để xuyên tạc, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành của Chính phủ; xuyên tạc kết quả điều tra các vụ án như: AIC, Việt Á, chuyến bay giải cứu...; xuyên tạc công tác nhân sự gây hoang mang dư luận, chia rẽ nội bộ. Đặc biệt, Nguyễn Văn Đài còn sử dụng trí tuệ nhân tạo AI để sản xuất các video clip có tạo hình ảnh, nội dung xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Có thể thấy, dù từng được Nhà nước khoan hồng, nhiều lần xử lý nhân văn và tạo điều kiện để cải tạo, nhưng bản chất xấu xa của Nguyễn Văn Đài không thay đổi, cố tình tái phạm, tiếp tục chống phá với mức độ ngày càng nguy hiểm hơn. Trước các hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của Nguyễn Văn Đài, ngày 18/11/2025, Cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an đã ra quyết định khởi tố bị can, lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Văn Đài về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phát tán thông tin xuyên tạc để kêu gọi quyên góp, ủng hộ nhằm trục lợi cá nhân
Theo cơ quan chức năng, Lê Trung Khoa trục lợi số tiền rất lớn từ lượng truy cập, lượt xem của người dùng, 90% đến từ Việt Nam. Đây cũng là nguồn tiền đối tượng sử dụng trả cho các đối tượng chống phá, thúc đẩy các đối tượng gia tăng sản xuất nội dung xuyên tạc, bịa đặt nhằm thu hút lượt xem, sự theo dõi của dư luận. Lượt xem càng cao thì số tiền đối tượng trục lợi càng lớn.
Bên cạnh phát tán thông tin xuyên tạc, bịa đặt, Lê Trung Khoa đưa ra lời kêu gọi quyên góp, ủng hộ dưới danh nghĩa “đấu tranh” nhưng thực chất là để trục lợi cá nhân. Thủ đoạn cụ thể như cắt ghép, giật tít gây sốc để thu hút dư luận. Đánh vào tâm lý bức xúc và thương cảm, giả danh “người đấu tranh” hay “nạn nhân” để tạo uy tín; kêu gọi quyên góp, ủng hộ tài chính qua tài khoản, ví điện tử nhưng không minh bạch, thực chất là trục lợi cá nhân. Mục tiêu của Khoa là hạ uy tín tổ chức, gây hoang mang dư luận và kiếm lợi bất chính.