Tỉnh táo trước luận điệu “đất nước hòa bình, không cần đầu tư cho quốc phòng, an ninh, chỉ tập trung phát triển kinh tế”

Thứ hai, 22/12/2025 - 05:37

Thiếu tướng, PGS, TS NGUYỄN BÁ DƯƠNG

Thời gian gần đây, một số ý kiến cho rằng, đất nước Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất, hòa bình đã tồn tại trên mảnh đất Việt Nam nửa thế kỷ, do đó không nhất thiết phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh mà cần tập trung phát triển kinh tế thì đất nước mới giàu mạnh, thịnh vượng, phồn vinh. Tuy nhiên, tình hình chính trị quân sự trên thế giới và thực tiễn lịch sử, cách mạng Việt Nam không tương thích với luận điệu phiến diện, sai lầm này.

Quan điểm phiến diện, cực đoan, ẩn chứa âm mưu nguy hại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ diễn ra mạnh mẽ hiện nay, một số người cho rằng, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, xung đột vũ trang và chiến tranh không còn là nguy cơ đe dọa loài người. Quan điểm này dẫn đến nhận thức sai lệch: Nhân dân Việt Nam đang chung sống hòa bình, không có chiến tranh thì không cần phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh; không cần xây dựng Quân đội và Công an mà phải quan tâm đầu tư nguồn lực, ngân sách cho phát triển kinh tế, chăm lo phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Không chỉ vậy, có quan điểm còn cho rằng, đầu tư cho quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội và Công an là lãng phí, là không cần thiết trong thời bình, vì không có lý do để đầu tư, không cần thiết để tồn tại vì nó không sinh lời. Cách tiếp cận này cho rằng, thế giới hiện nay cũng như ở Việt Nam không còn nguy cơ chiến tranh, có chăng chỉ là xung đột vũ trang nhất thời. Theo họ, thời nay, các quốc gia, dân tộc chủ yếu lựa chọn phương pháp đối thoại và thương lượng hòa bình thay cho đối đầu; hợp tác và phát triển thay cho xung đột vũ trang để phòng tránh nguy cơ chiến tranh nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo cơ hội mới để phát triển nên sẽ không có chiến tranh.

Theo quan điểm này, đầu tư cho quốc phòng, an ninh và xây dựng Quân đội, Công an là "rất tốn kém, thậm chí đẩy đất nước vào vòng xoáy của cuộc chạy đua vũ trang mới", trong khi đó, nền kinh tế trong kỷ nguyên số của Việt Nam rất cần đầu tư nhiều nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân sau những “cú sốc” mạnh do đại dịch Covid-19 gây ra. Do vậy, họ cho rằng cần phải tiết kiệm tiền của, sức lực để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống thay vì chi phí cho Quân đội, Công an mua sắm, chế tạo vũ khí trang bị hay hệ thống an ninh rất tốn kém. 

Thoạt nghe quan điểm trên, có người cho là có lý. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của vấn đề, quan điểm nêu trên thể hiện rõ tầm nhìn hạn hẹp, phiến diện, cực đoan khi tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, tuyệt đối hóa sức mạnh của kinh tế và làm giàu bằng mọi giá nhưng lại coi nhẹ quốc phòng, an ninh, phủ nhận vai trò của Quân đội và Công an. Họ đã tách rời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng đất nước luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, thậm chí đối lập nó với nhau. Có thể nói rằng, việc đề cao thái quá vai trò của tăng trưởng kinh tế, làm giàu bằng mọi cách thực chất là hạ thấp, coi thường nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là âm mưu ẩn chứa ý đồ chính trị thâm độc, nguy hại, do đó cần đấu tranh, bác bỏ.

Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng “Bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”

Thế giới hiện nay không hoàn toàn hòa bình như vẻ bề ngoài mà người ta nhìn thấy. Hàng loạt "điểm nóng” do xung đột quân sự vẫn đang tồn tại âm ỉ như Ukraine-Nga, Israel-Palestine, các cuộc nội chiến ở Sudan, Yemen, Syria, hay căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Đài Loan, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, nguy cơ bất ổn chính trị cũng còn tiềm ẩn...

Tỉnh táo trước luận điệu “đất nước hòa bình, không cần đầu tư cho quốc phòng, an ninh, chỉ tập trung phát triển kinh tế”
Lực lượng vũ trang diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9. Ảnh: TRỌNG HẢI  

Bên cạnh đó, các hình thức chiến tranh mới như chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh phi đối xứng, chiến tranh kinh tế... ngày càng phổ biến và rất nguy hiểm. Nguy cơ xung đột vũ trang, bạo loạn lật đổ, “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang không hề biến mất mà chỉ thay đổi hình thức, lúc thì công khai, lúc thì ngấm ngầm. Tình hình trở nên rất khó đoán định bởi nhiều kịch bản có thể diễn ra. Do đó, việc một số người đề xuất không cần đầu tư cho quốc phòng, an ninh, không cần xây dựng Quân đội và Công an là đồng nghĩa với quan điểm “tự sát”, tự làm suy yếu khả năng phòng thủ của quốc gia; là tước bỏ quyền chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Thực tế cho thấy, Iraq và Libya từng có tiềm lực kinh tế đáng kể, dự trữ ngoại tệ của quốc gia khá cao, nhưng do mất cảnh giác và thiếu khả năng tự vệ, trong khi chiến lược và chính sách quốc phòng, an ninh yếu kém, họ đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng kéo dài, nội chiến và bị can thiệp quân sự từ bên ngoài đã “bóp nghẹt” nền độc lập, tự do của họ. Hay như Liên Xô từng là một siêu cường, thành trì của phe xã hội chủ nghĩa nhưng vì quá nóng vội trong cải tổ nên đã mắc mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, bị chệch hướng xã hội chủ nghĩa và sai lầm về đường lối chính trị, kết cục đã bị sụp đổ.

Rõ ràng, một đất nước không có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì mọi thành quả kinh tế, sự giàu có đều có thể bị xóa sạch chỉ trong một thời gian ngắn. Phát triển kinh tế là cần thiết nhưng cũng rất cần một môi trường hòa bình, ổn định để nuôi dưỡng, giữ gìn và phát triển các giá trị, thành quả cách mạng đã giành được. Điều đó nhất thiết cần được bảo đảm bởi một nền quốc phòng, an ninh vững chắc, được Quân đội và Công an bảo vệ, gìn giữ hòa bình cho đất nước.

Sự lầm tưởng giữa "hòa bình tương đối" và "an toàn tuyệt đối" là một sai lầm trong nhận thức, dẫn đến những hành động sai trái trong thực tiễn không thể cứu vãn. Nhìn bề ngoài, không có chiến tranh, không có xung đột vũ trang không có nghĩa là không có nguy cơ đe dọa. Các mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tôn giáo, dân tộc, quyền lợi chiến lược, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc vẫn luôn tiềm ẩn, đe dọa an ninh quốc gia. Khi những mâu thuẫn đó bị kích hoạt, xung đột vũ trang và chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nếu quốc gia không đủ khả năng phòng vệ...

Sai lầm cốt tử của quan điểm coi quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế là hai lĩnh vực đối lập, loại trừ nhau. Thực ra, hai lĩnh vực này có mối quan hệ biện chứng, tác động và quy định lẫn nhau. Quốc phòng, an ninh là cơ sở, nền tảng vững chắc và là tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế-xã hội. Một đất nước không ổn định chính trị, thường xuyên bị đe dọa từ bên ngoài và nguy cơ nổi loạn từ bên trong sẽ không thể thu hút đầu tư, không thể bảo vệ tài sản, nhân lực hay thành quả cách mạng và hòa bình mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi bao xương máu mới giành được.

Trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay, vị trí, vai trò chiến lược của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc lại càng nổi bật và được tăng lên không ngừng, nhất là trong bối cảnh địa-chính trị toàn cầu đang có nhiều biến động khó lường. Trong bối cảnh đó, Việt Nam ý thức rõ rằng, nếu thiếu năng lực tự vệ, sao nhãng quốc phòng, an ninh; Quân đội và Công an suy yếu thì sẽ dễ dàng trở thành mục tiêu bị lấn át hoặc can thiệp, nguy cơ chủ quyền quốc gia bị đe dọa, nền hòa bình đất nước sẽ gặp nguy cơ bị “bốc hơi”.

Hiện nay, các loại hình chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, khủng bố xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh toàn cầu; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia... càng đòi hỏi Việt Nam phải có nền quốc phòng, an ninh vững mạnh, chuyên nghiệp, thiện chiến để ứng phó kịp thời, hiệu quả trước các tình huống. Vì lẽ đó, đầu tư vào an ninh, quốc phòng và xây dựng Quân đội, Công an hiện đại không chỉ là đầu tư cho vũ khí, trang bị kỹ thuật mà còn là đầu tư cho trí tuệ, khoa học-công nghệ, nhất là đầu tư cho con người cầm chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc.

Quốc phòng, an ninh không thể xây dựng ngày một ngày hai hoặc mong muốn là có ngay được. Đây là hai lĩnh vực đòi hỏi phải chuẩn bị trước kỹ càng với quy trình nghiêm ngặt, đầu tư lớn, lâu dài, kiên trì, có tầm nhìn chiến lược cả về con người, thế trận, vũ khí, trang bị và các mối quan hệ liên quan. Khi nguy cơ xung đột, chiến tranh xảy ra, nếu không có sự chuẩn bị từ trước, từ sớm, từ xa, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc. Vì thế, để vững tin bước vào kỷ nguyên mới, nhất thiết và bắt buộc chúng ta phải luôn duy trì năng lực quốc phòng, an ninh đủ mạnh để răn đe, bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng ứng phó với mọi sự bất trắc có thể xảy ra.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, phát triển kinh tế là trung tâm-một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, quyết định việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược an ninh quốc gia được triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nhiều công trình kết hợp quốc phòng, an ninh gắn chặt với phát triển kinh tế như hạ tầng trên đảo, tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa; ở đó không chỉ củng cố an ninh, chủ quyền mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh đang chủ động, tích cực tham gia vào sản xuất dân dụng, đóng góp nhiều sản phẩm hàng hóa lưỡng dụng và tăng nguồn ngân sách cho nền kinh tế quốc dân.

Phát triển kinh tế-xã hội bền vững là rất cần thiết nhưng không thể tách rời việc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, một nền quốc phòng, an ninh vững mạnh luôn là chỗ dựa vững chắc cho mọi nỗ lực phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Vì lẽ đó, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách, gắn chặt với sứ mệnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trước những thách thức ngày càng phức tạp của cả an ninh truyền thống và phi truyền thống, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ phương châm: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, thực hiện hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ để xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh toàn diện là vấn đề sống còn để giữ vững nền hòa bình, ổn định và phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. 

Bác bỏ những đánh giá sai lệch của USCIRF về tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng tại Việt Nam

Thứ Hai, 22/12/2025, 07:00

Thời gian qua, bất chấp những thành quả trong thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta, một số tổ chức quốc tế vẫn đưa ra những nhận định sai lệch về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Mới đây là báo cáo cập nhật ngày 9/12/2025 của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) tiếp tục đưa ra nhiều nhận định sai lệch, cáo buộc sai sự thật về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cũng như phủ nhận nỗ lực hợp tác giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới trên lĩnh vực này.

Những báo cáo, nhận định sai lệch về tình hình tôn giáo tại Việt Nam

Trong bản báo cáo cập nhật của USCIRF, tổ chức này tiếp tục đưa ra những dẫn chứng, số liệu sai sự thật và đánh giá tiêu cực về tình hình tự do tôn giáo, tín  ngưỡng tại Việt Nam. Báo cáo đánh giá tình hình tôn giáo tại Việt Nam “vô cùng tồi tệ”, cáo buộc thiếu căn cứ việc các tổ chức tôn giáo do Nhà nước kiểm soát, hậu thuẫn để “đàn áp các nhóm tôn giáo độc lập”. Có thể thấy, đây là hành động cổ súy cho các hội, nhóm đội lốt tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, xâm hại an ninh của Việt Nam khi tổ chức USCIRF gọi những thành phần này là các “tổ chức tôn giáo độc lập”, “tổ chức tôn giáo gốc”... Thậm chí, Ủy ban này còn lên tiếng bảo vệ cho cả các cá nhân, tổ chức tội phạm, khủng bố như “Người Thượng vì công lý” (MSFJ), “Hỗ trợ người Thượng” (MSGI) thông qua danh sách hơn 80 người mà họ coi là nạn nhân tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng (FoRB) của USCIRF dù các hoạt động vi phạm pháp luật của những cá nhân tổ chức này đã bị các cơ quan chức năng Việt Nam làm rõ với những nhân chứng, bằng chứng rõ ràng, thuyết phục.

Chưa dừng lại ở đó, USCIRF còn đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa Việt Nam vào danh sách cần quan tâm đặc biệt (CPC). Điều này nhằm tạo cớ, gây sức ép lên Việt Nam với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) thông qua việc đưa ra yêu cầu như cho cơ quan và nhân viên LHQ tới Việt Nam, đặc biệt là vùng miền núi Tây Nguyên, Tây Bắc để “giám sát và điều tra các vi phạm tự do tôn giáo” trước cuộc bỏ phiếu vào cuối năm 2025 về tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2026 - 2028. Ngoài ra, tổ chức này còn cho rằng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam gồm “các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội, bóp nghẹt tôn giáo, không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”...

Đây là sự lặp lại sáo mòn khi các kết luận của tổ chức này luôn bộc lộ những hạn chế rõ rệt về tính khách quan, phương pháp tiếp cận. Đồng thời nhiều quan điểm nghi vấn về động cơ đằng sau những đánh giá mang danh nhân quyền khi tổ chức này tiếp tục đưa ra báo cáo sai lệch vào thời điểm Việt Nam sắp tổ chức Đại hội Đảng lần thứ XIV. Lợi dụng báo cáo của USCIR, các thế lực thù địch, các tổ chức và thành phần phản động lưu vong, các cá nhân chống đối đã vào hùa đẩy mạnh các bài viết xuyên tạc về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, lên án Việt Nam “phân biệt đối xử”, “đàn áp tôn giáo, tín ngưỡng”, tìm mọi cách gây sức ép và yêu cầu các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Đây là chiêu trò sáo, cũ nhưng nguy hiểm nhằm làm giảm sút niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc cũng như làm giảm sút lòng tin của quốc tế đối với Việt Nam.

Có thể thấy, tổ chức USCIRF không phải là cơ quan thuộc Chính phủ của Mỹ nhưng có vai trò tư vấn cho Quốc hội đưa ra các quyết định liên quan đến chính sách của Mỹ đối với các nước trên thế giới, đồng thời đây cũng là nguồn thông tin tư vấn của Ngoại trưởng và Tổng thống Mỹ về chính sách đối ngoại, đặc biệt về lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo toàn cầu. Tuy được coi là cơ quan tham vấn độc lập nhưng hoạt động của tổ chức USCIRF từ trước đến nay luôn bị nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế lên án về những hoạt động đánh giá thiếu thiện chí, thiếu chính xác nhằm gây ảnh hưởng xấu đến tình hình nội bộ của nhiều quốc gia.

Minh chứng sinh động về tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam

Tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Cụ thể tại Điều 24, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, Việt Nam cũng đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, và các nghị định, văn bản hướng dẫn cụ thể góp phần tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền này được triển khai thống nhất trên phạm vi cả nước phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia và phù hợp thực tiễn ở Việt Nam.

Kể từ khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đi vào đời sống, số lượng chức sắc, chức việc, cơ sở thờ tự và công dân theo tôn giáo tăng theo thời gian, ở tất cả các tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo đã vận động chức sắc, chức việc, đồng bào theo đạo chấp hành nghiêm các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, các tổ chức tôn giáo là một kênh truyền thông quan trọng góp phần đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào có đạo nhanh và hiệu quả. Từ năm 2011 đến nay đã có gần 2.000 lượt cá nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khóa đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến tôn giáo, gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu, hướng dẫn tại cơ sở thờ tự ở Việt Nam. Điều đó không chỉ thể hiện sự chăm lo toàn diện của Đảng, Nhà nước đối với đời sống tôn giáo mà còn là sự tin tưởng, kỳ vọng của đông đảo chức sắc, tín đồ về đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng qua những giá trị tinh thần cao đẹp của dân tộc. Những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận rộng rãi.

Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như sự kiện Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019), Liên Hội đồng Giám mục Á châu (2023). Trong năm 2024 đã diễn ra những hoạt động đối ngoại, nổi bật là Tổng Giám mục Marek Zalewski bắt đầu đảm nhiệm vai trò đại diện thường trú đầu tiên của Toà thánh ở Việt Nam từ tháng 1/2024. Chương trình Thánh nhạc truyền giảng “Mùa Yêu thương 2024” do Hiệp hội Truyền giáo Billy Graham tổ chức tại Cần Thơ với sự tham gia của mục sư Franklin Graham, với 2 đêm nhạc vào ngày 3-4/12/2024, thu hút khoảng 10.000 người tham dự gồm chức sắc, chức việc, tín đồ Tin lành và khách mời của 13 tỉnh miền Tây. Đặc biệt, Đại lễ Phật đản LHQ năm 2025 tổ chức tại thành phố Hồ Chí Minh, đã có hơn 80 quốc gia cùng hơn 10.000 phật tử tham dự.

Tại Việt Nam, lễ Giáng sinh không chỉ là niềm vui hân hoan chào đón của bà con giáo dân mà hoạt động này đã vượt ra khỏi giáo đường của đạo Công giáo. Lễ Noel đang trở thành một sinh hoạt cộng đồng. Trong đêm Giáng sinh, người theo đạo vẫn thực hành những nghi thức, nghi lễ truyền thống của đạo Công giáo còn người ngoại đạo tập trung đi xem lễ. Cũng trong đêm Noel, trẻ con háo hức chờ đợi để được Ông già Noel tặng quà; nhiều gia đình rủ nhau mở tiệc liên hoan, bạn bè tổ chức gặp mặt uống cà phê, ca hát, đi mua sắm (hầu hết các siêu thị, trung tâm thương mại thường mở các đợt khuyến mãi trong dịp Giáng sinh). Cũng trong dịp lễ Giáng sinh, các cô gái, chàng trai không bỏ lỡ thời cơ thể hiện tình cảm, hẹn hò, tìm những quà tặng độc đáo dành cho người mình yêu…

Ngày 19/12/2025, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước việc Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ công bố Báo cáo cập nhật về Việt Nam, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam bác bỏ những đánh giá không khách quan, không chính xác về tình hình thực tế tại Việt Nam được nêu trong Báo cáo cập nhật về Việt Nam của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) công bố ngày 9/12/2025 vừa qua. Chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Tại Việt Nam, không ai bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng và các hoạt động của các tổ chức tôn giáo được bảo đảm theo đúng các quy định của pháp luật. Điều này được thể hiện rõ trong Hiến pháp 2013, hệ thống pháp luật của Việt Nam và được tôn trọng trên thực tế. Các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng đã được nhiều nước ghi nhận và đánh giá cao. Chúng tôi đã, đang và sẽ tiếp tục trao đổi với phía Hoa Kỳ về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm trên tinh thần thẳng thắn, cởi mở và tôn trọng lẫn nhau, đóng góp vào việc thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.

Hoàng Ly - Bình Nguyên

“Dân sự hóa” Quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình”- Bài 4: Giải pháp làm thất bại mưu đồ “dân sự hóa” Quân đội (Tiếp theo và hết)

Thứ năm, 18/12/2025 - 05:52

HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU


Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội được các thế lực thù địch đẩy mạnh với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, mềm hóa và khó nhận diện. Trước tình hình đó, việc triển khai đồng bộ các giải pháp chính trị, pháp lý, tư tưởng, truyền thông và nghiên cứu chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm bảo vệ bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Củng cố nền tảng chính trị - pháp lý  

Pháp luật là công cụ thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng, đồng thời là nền tảng quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ chế lãnh đạo đối với Quân đội. Bất kỳ sự điều chỉnh nào trong lĩnh vực pháp lý, nếu không được kiểm soát chặt chẽ, đều có thể dẫn tới nguy cơ làm biến dạng tổ chức, suy giảm năng lực chỉ huy và suy yếu cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội. Thực tiễn lịch sử, nhất là bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô cho thấy, “phi chính trị hóa” Quân đội khởi đầu từ những thay đổi tưởng như mang tính kỹ thuật nhưng được lồng ghép có chủ ý trong hệ thống pháp luật và chính sách.

Quá trình xây dựng pháp luật gồm nhiều khâu, nhiều chủ thể tham gia. Mỗi khâu đều có thể trở thành “cửa mở” để các thế lực thù địch cài cắm nội dung sai trái dưới danh nghĩa "dân chủ", "nhân quyền" hoặc “chuẩn mực quốc tế”. Vì vậy, toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật liên quan đến Quân đội và quân sự, quốc phòng phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng. Vai trò của cấp ủy các cấp, nhất là trong Quân đội, cần được phát huy ngay từ khâu đề xuất chủ trương, định hướng chính sách; thực hiện nghiêm cơ chế thẩm tra chính trị đối với các văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thống nhất với Cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng.

Quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng là yêu cầu khách quan của xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, song không đồng nghĩa với “dân sự hóa” hay tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, quản lý nhà nước hiệu quả nhằm bảo đảm Quân đội hoạt động đúng chức năng, phát huy sức mạnh tổng hợp trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đồng thời tôn trọng tính đặc thù của hoạt động quân sự; tránh đánh đồng quản lý quân sự với quản lý hành chính dân sự thuần túy. Việc tham chiếu, tiếp thu tiêu chuẩn và kinh nghiệm quốc tế chỉ có ý nghĩa khi đặt trên nền tảng lợi ích quốc gia-dân tộc và phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Do đó, cần tỉnh táo, thận trọng trước các hoạt động “tư vấn lập pháp”, “hỗ trợ kỹ thuật” từ một số tổ chức nước ngoài, vốn có thể tìm cách lồng ghép các khái niệm, tiêu chuẩn mang màu sắc “xã hội dân sự” hoặc mô hình “kiểm soát dân sự” theo kiểu phương Tây vào các dự thảo luật.

“Dân sự hóa” Quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình”- Bài 4: Giải pháp làm thất bại mưu đồ “dân sự hóa” Quân đội (Tiếp theo và hết)
Hơn 300 chiến sĩ của Trung đoàn 98 và các đơn vị của Sư đoàn 316, Quân khu 2 phối hợp cùng cảnh sát cơ động, biên phòng tỉnh Lào Cai và 5 chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm người mất tích sau lũ quét tại thôn Làng Nủ, xã Phúc Khánh (tháng 9-2024). Ảnh minh họa: qdnd.vn 

Quốc hội, với vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cần thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đồng thời bảo đảm sự thống nhất giữa yêu cầu quản lý nhà nước và nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội; kiên quyết loại bỏ những biểu hiện có nguy cơ dẫn đến “phi chính trị hóa” Quân đội trong quá trình xây dựng luật.  

Minh bạch hóa, chuẩn hóa quy trình xây dựng pháp luật là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế nguy cơ bị thao túng, tác động không minh bạch. Việc đẩy mạnh số hóa quy trình lập pháp, công khai tài liệu dự thảo trong phạm vi phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng tăng cường giám sát, kịp thời phát hiện sai sót, đề xuất sửa đổi các quy định bất cập. Giám sát xã hội giữ vai trò quan trọng trong bảo đảm tính minh bạch, khách quan của quá trình xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, hoạt động góp ý, phản biện cần được thực hiện đúng phạm vi, nguyên tắc, không để ảnh hưởng đến bí mật quân sự, an ninh quốc gia.

Nhân tố con người giữ vai trò quyết định, đặc biệt trong xây dựng pháp luật-lĩnh vực đòi hỏi bản lĩnh chính trị, trí tuệ và độ chính xác cao. Vì vậy, cần xây dựng đội ngũ cán bộ pháp chế vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, tinh thông về chuyên môn. Trọng tâm là tuyển chọn cán bộ giàu kinh nghiệm thực tiễn; tăng cường đào tạo kỹ năng lập pháp, kiến thức quốc phòng, an ninh, năng lực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái; đồng thời đẩy mạnh luân chuyển giữa cơ quan tham mưu và cơ sở để gắn lý luận với thực tiễn.

Xây dựng “lá chắn tư tưởng”, chính quy, kỷ luật vững mạnh từ bên trong  

Âm mưu “dân sự hóa” Quân đội chủ yếu tác động vào nhận thức, quan điểm và lập trường chính trị của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Do đó, đấu tranh tư tưởng là mặt trận quyết định, gắn chặt với phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cần được đổi mới mạnh mẽ theo hướng thiết thực, sinh động, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và đời sống bộ đội; cập nhật kịp thời các biểu hiện mới của chiến tranh thông tin và âm mưu chống phá giúp mỗi quân nhân nâng cao khả năng tự nhận diện, tự bảo vệ mình trước thông tin xấu độc. Để mỗi cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ, rõ ràng, không mơ hồ, ảo tưởng trước các khuynh hướng tư tưởng lệch lạc về xã hội dân sự và xu hướng, âm mưu “dân sự hóa” Quân đội. Giáo dục chính trị phải đi đôi với quản lý tư tưởng, kỷ luật, giữ vững trận địa chính trị tinh thần trong từng cơ quan, đơn vị.  

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin, không gian mạng trở thành mặt trận trọng yếu. Tất cả các cơ quan báo chí, nhất là báo chí Quân đội, cần giữ vai trò nòng cốt trong việc làm rõ bản chất chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam; khẳng định sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi; đồng thời kiên quyết phản bác các luận điệu phi lý về “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị”. Cần nghiên cứu, làm rõ các biểu hiện của “xã hội dân sự” gắn với xu hướng “dân sự hóa” Quân đội, qua đó nhận diện đúng mục tiêu, bản chất và thủ đoạn mà các thế lực thù địch đang theo đuổi. Trên cơ sở đó, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, vạch trần những ý đồ ẩn sau cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội vì dân, chịu sự quản lý của nhân dân, “dân chủ”, “nhân quyền” hay chia sẻ quyền lãnh đạo, quản lý Quân đội. Nắm chắc hoạt động của các tổ chức phản động, tổ chức chính trị đội lốt xã hội dân sự xuyên tạc, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội và kích động tư tưởng “dân sự hóa” Quân đội; triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh cả về lý luận và thực tiễn để ngăn chặn, đẩy lùi những nhận thức sai lệch về xã hội dân sự. Đấu tranh, xử lý nghiêm các hội, nhóm mạo danh xã hội dân sự hoạt động trái phép, xâm hại an ninh quốc gia và làm tổn hại uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Nếu pháp luật và sự lãnh đạo của Đảng là “phòng tuyến chính trị-pháp lý”, thì chính quy, kỷ luật chính là nội lực, là tuyến phòng thủ từ bên trong, giúp cán bộ, chiến sĩ luôn vững vàng, không bị hướng lái bởi các luận điệu sai trái. Các cơ quan, đơn vị cần nâng cao chất lượng xây dựng chính quy; tăng cường quản lý tư tưởng. Mỗi cán bộ, chiến sĩ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, cán bộ chính trị, phải nêu gương về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và tác phong công tác; xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, kỷ cương, dân chủ. Quản lý chặt chẽ nhưng phải gần gũi, nắm bắt kịp thời tâm tư, nguyện vọng của bộ đội để định hướng đúng đắn, không để các thế lực thù địch móc nối chống phá từ bên trong.

Khi cán bộ chính trị làm tốt vai trò “người dẫn đường về tư tưởng”; từng cán bộ, chiến sĩ nêu cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật, Quân đội sẽ trở thành khối thống nhất vững chắc, trận địa chính trị tinh thần được giữ vững, không thế lực nào có thể tác động từ bên ngoài hay chia rẽ từ bên trong.  

Thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, xây dựng kinh tế với phương châm: Phục vụ quốc phòng là mục tiêu hàng đầu, kết hợp chặt chẽ giữa kinh tế và quốc phòng, củng cố tiềm lực đất nước, hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội. Doanh nghiệp Quân đội phải giữ vững kỷ luật, môi trường rèn luyện, bản chất quân sự; không để lợi ích kinh tế chi phối mục tiêu chính trị, quân sự; không để tư duy thị trường thuần túy làm phai nhạt môi trường quân sự đặc thù; kiên quyết xử lý các sai phạm, không để các thế lực thù địch lợi dụng sai phạm cá biệt để quy chụp, xuyên tạc bản chất Quân đội, từ đó kêu gọi “dân sự hóa” các hoạt động quân sự. Đồng thời, đẩy mạnh minh bạch hóa, công khai tài chính trong khuôn khổ quy định bảo mật để nhân dân hiểu và giám sát, không để kẻ xấu lợi dụng sự thiếu thông tin để tung tin đồn thất thiệt.

Phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng “thế trận tư tưởng toàn dân”  

Đấu tranh làm thất bại âm mưu “dân sự hóa” Quân đội trong tình hình mới cần được triển khai một cách bài bản, hệ thống, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trong đó, cơ quan tuyên giáo các cấp, cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị trong Quân đội giữ vai trò nòng cốt trong tham mưu, tổ chức và dẫn dắt đấu tranh. Hệ thống tuyên giáo làm nhiệm vụ định hướng, điều phối, chủ động xây dựng nội dung, phương thức tuyên truyền phù hợp, triển khai giáo dục thống nhất, kịp thời phát hiện và phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc. Đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng xung kích, trực tiếp quản lý, nắm bắt, định hướng tư tưởng bộ đội; kịp thời phát hiện, xử lý các biểu hiện lệch chuẩn.

Quá trình đấu tranh cần được tổ chức chặt chẽ, thống nhất giữa các lực lượng tạo sức mạnh tổng hợp, hình thành “thế trận tư tưởng toàn dân”. Phát huy vai trò của truyền thông đại chúng, báo chí Quân đội làm nòng cốt. Với lợi thế am hiểu sâu sắc lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bám sát thực tiễn hoạt động quân sự và đời sống bộ đội, báo chí Quân đội không chỉ kịp thời phản bác các thông tin sai trái mà còn chủ động định hướng dư luận, lan tỏa hình ảnh, truyền thống, sứ mệnh và đóng góp của Quân đội. Các lực lượng cần phối hợp nhịp nhàng, nâng cao năng lực dự báo, phản ứng thông tin, tổ chức thành một mặt trận thống nhất, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh phản bác và truyền thông tích cực. Tăng cường giáo dục quốc phòng, an ninh cho toàn dân, nhất là thế hệ trẻ; giúp họ hiểu đúng chính nghĩa dân tộc, bản chất, chức năng, tính chất nhiệm vụ của Quân đội, cũng như âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, từ đó không bị tác động bởi các luận điệu xuyên tạc núp bóng “cải cách”, “văn minh” hay “chuẩn mực quốc tế”.

Để đáp ứng yêu cầu đó, cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tuyên truyền; kết hợp giữa thông tin truyền thống và truyền thông hiện đại; khai thác hiệu quả các nền tảng mạng; tăng cường sản phẩm trực quan, dễ tiếp cận; chú trọng đào tạo kỹ năng truyền thông số, nâng cao năng lực phân tích, phản biện cho lực lượng chuyên trách. Khi công tác tuyên giáo, truyền thông đi trước một bước, chủ động dự báo và định hướng, trận địa tư tưởng sẽ được giữ vững, không để khoảng trống thông tin cho các thế lực thù địch lợi dụng chống phá.

Trong bối cảnh chiến tranh thông tin ngày càng phức tạp, các luận điệu cổ xúy “dân sự hóa” Quân đội thường được ngụy trang tinh vi dưới vỏ bọc học thuật, cải cách hay chuẩn mực quốc tế. Điều đó đòi hỏi phải phát huy mạnh mẽ vai trò của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường trong nghiên cứu, dự báo và phản biện khoa học, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Với chức năng nghiên cứu, các cơ quan này có khả năng nhận diện sớm xu hướng mới, sự điều chỉnh chiến lược và thủ đoạn tác động của các thế lực thù địch đối với Quân đội. Kết quả nghiên cứu phải được chuyển hóa thành các luận cứ khoa học và báo cáo tham mưu có giá trị thực tiễn, phục vụ hiệu quả cho việc chủ động phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ từ sớm, từ xa. Trong môi trường thông tin đa chiều, nhiều quan điểm sai trái, thù địch được che đậy dưới hình thức nghiên cứu hay phân tích chính sách, đòi hỏi phải kịp thời bóc tách, chỉ rõ tính phi lý, phản khoa học và nguy hại của chúng. Mặt khác, đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm bảo vệ Quân đội trước nguy cơ thẩm thấu từ bên ngoài, từ hoàn thiện pháp luật, củng cố cơ chế lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, đến tăng cường kỷ luật, xây dựng chính quy và năng lực quản lý nhà nước về quốc phòng. Phát huy vai trò của các cơ quan nghiên cứu chiến lược chính là tăng cường sự gắn kết giữa nghiên cứu-tham mưu-hành động trong đấu tranh chống âm mưu “dân sự hóa” Quân đội./.

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 3: Những biến tướng tinh vi của âm mưu “dân sự hóa” quân đội

Thứ tư, 17/12/2025 - 05:46

HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nếu như trước đây, các thế lực thù địch, phản động thường tấn công trực diện, thô thiển vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, thì nay chúng đã chuyển sang một phương thức mới tinh vi hơn, mềm mỏng hơn nhưng thâm độc gấp bội. Đó là cổ xúy cho trào lưu “dân sự hóa” quân đội. Được tiếp sức bởi “cơn bão” công nghệ số, âm mưu này càng tạo ra những “cái bẫy” nhận thức nguy hiểm.

“Ma trận” công nghệ trong kỷ nguyên số

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt, không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” sớm hơn một nhiệm kỳ so với Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Vậy nhưng, bất chấp thực tiễn lịch sử và những thành tựu to lớn đó, các thế lực thù địch lại cố tình “đi ngược chiều”, ra sức đẩy mạnh truyền bá cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội. Thực chất, đây là một biến tướng nham hiểm, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa”, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Sự nguy hiểm của âm mưu này nằm ở chỗ nó được cộng hưởng bởi sức mạnh của công nghệ trong kỷ nguyên số.

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 3: Những biến tướng tinh vi của âm mưu “dân sự hóa” quân đội
 Ảnh minh họa: qdnd.vn

Mặt trận tấn công đầu tiên chính là công tác tư tưởng trên không gian mạng. Các thế lực thù địch sử dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) để thu thập dữ liệu hành vi của người dùng mạng xã hội, đặc biệt nhắm vào nhóm sĩ quan trẻ, học viên quân sự, thanh thiếu niên và trí thức. Thông qua các thuật toán của Facebook, YouTube, TikTok..., chúng tạo ra các “buồng vang thông tin” (Echo Chamber). Khi một người dùng tiếp cận các nội dung về quân sự, trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tự động điều hướng và hiển thị dày đặc các bài viết, video ca ngợi mô hình quân đội phương Tây. Chúng lặp đi lặp lại thông điệp: Quân đội phương Tây hùng mạnh vì họ “đứng ngoài chính trị”, “trung lập” và có bộ trưởng quốc phòng là dân sự. Sự lặp lại có chủ đích này tạo ra một ảo giác nhận thức, khiến người xem lầm tưởng rằng “dân sự hóa” là xu thế văn minh của nhân loại, từ đó nảy sinh tâm lý so sánh, hoài nghi về cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn tận dụng công nghệ deepfake để tấn công vào niềm tin của bộ đội và nhân dân. Chúng cắt ghép, dàn dựng các video giả mạo về đời sống bộ đội với những hình ảnh tiêu cực, bịa đặt các vụ việc “bê bối”, “tham nhũng” hoặc “bạo lực” trong doanh trại. Mục đích của thủ đoạn này nhằm “giải thiêng”, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín của Quân đội. Từ sự mất niềm tin đó, chúng dẫn dắt dư luận đến yêu sách: Cần phải “dân sự hóa” công tác quản lý, phải để các tổ chức dân sự giám sát Quân đội thì mới minh bạch, công khai...

Lật tẩy những “vỏ bọc” ngôn từ

Một trong những luận điểm cốt lõi mà các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền là: Quân đội chuyên nghiệp phải “trung lập về chính trị”, chỉ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật chứ không phục vụ đảng phái nào. Đây là một sự lừa mị trắng trợn về mặt lý luận và thực tiễn. Thêm nữa, chúng cố tình đồng nhất hai khái niệm hoàn toàn khác nhau: “Hiện đại hóa về vũ khí, trang bị” và “Thay đổi về bản chất chính trị”. Chúng lập luận rằng, trong chiến tranh công nghệ cao, yếu tố quyết định là vũ khí tối tân và trình độ kỹ thuật, do đó, cần giảm bớt hoặc xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị để bộ máy “tinh gọn”, “chuyên nghiệp”. Qua đó, nhằm tước bỏ “linh hồn” của Quân đội ta. Chúng muốn biến QĐND Việt Nam thành một đội quân “robot”, chỉ biết kỹ thuật mà vô cảm về chính trị, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thực chất, cái gọi là “quân đội trung lập”, “quân đội phi chính trị” ở phương Tây lại không bao giờ đứng ngoài chính trị. Ở các nước tư bản phát triển, quân đội tuyệt đối phục tùng quyền lực của giai cấp tư sản cầm quyền. Quân đội của các nước này không chỉ được dùng vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc mà còn tham chiến tại các quốc gia khác nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở nơi đó các chính quyền thân phương Tây, có lợi cho phương Tây. Đơn cử, trong nhiều thập niên trở lại đây, giới tướng lĩnh quân đội các nước phương Tây công khai can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước có độc lập chủ quyền như Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya...

Chiêu trò xuyên tạc các doanh nghiệp Quân đội

Âm mưu “dân sự hóa” của chúng không chỉ dừng lại ở lý luận chung chung mà còn tấn công trực diện vào chức năng cơ bản của QĐND Việt Nam. Với mục đích phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” hòng phá vỡ thế trận quốc phòng, chúng đưa ra lý lẽ: “Quân đội chuyên nghiệp thì chỉ biết cầm súng, không được làm kinh tế”. Chúng lợi dụng một số sai phạm cá biệt của cá nhân trong hoạt động kinh tế (đã bị xử lý nghiêm) để quy chụp thành bản chất, đòi xóa bỏ các doanh nghiệp Quân đội. Chúng cố ý lờ đi sự thật rằng các đơn vị kinh tế-quốc phòng của ta đang đóng quân ở những nơi "đầu sóng ngọn gió”, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Sự hiện diện của Quân đội ở đó không chỉ để làm kinh tế, mà là để bảo vệ dân, giữ đất, bảo vệ biển, đảo, củng cố “thế trận lòng dân”, làm thất bại âm mưu bạo loạn lật đổ. Đòi “dân sự hóa” hoạt động này thực chất là muốn ta bỏ trống các địa bàn chiến lược. Đối với chức năng “đội quân công tác”, chúng xuyên tạc rằng đây là việc của chính quyền, Quân đội làm việc này là “sai chức năng”, “lãng phí nguồn lực huấn luyện”. Thậm chí, khi bộ đội dầm mình trong mưa lũ cứu dân, chúng còn dùng từ ngữ xúc phạm là “diễn”, “làm màu”. Mục đích của chúng là muốn tách rời mối quan hệ máu thịt “cá-nước” giữa Quân đội và nhân dân, biến Quân đội thành một lực lượng biệt lập, quan liêu, xa rời thực tiễn xã hội.

Thẩm thấu tư tưởng "quân đội trung lập"

Tiếp đến, QĐND Việt Nam chủ động mở rộng hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình, giúp Quân đội ta học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng lợi dụng chính quá trình này để “thẩm thấu” tư tưởng “quân đội trung lập”. Chúng tung ra luận điệu rằng việc Quân đội cử sĩ quan học tập, công tác tại nước ngoài, trong đó có các quốc gia áp dụng mô hình “kiểm soát dân sự đối với quân đội”, thì sự “cọ xát” này dần làm phai nhạt nhận thức, gieo mầm tư tưởng “phi chính trị” và “tư bản hóa”; việc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, diễn đàn quân sự, quốc phòng khu vực và quốc tế là “không phù hợp”, “vì lợi ích riêng” hoặc do “sức ép” từ bên ngoài, chứ không phải vì trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Thực tế, Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn. Đồng thời, QĐND Việt Nam cũng tham gia và đóng góp hiệu quả vào các cơ chế của Liên hợp quốc về phát triển, gìn giữ hòa bình (đã cử hơn 1.100 lượt cán bộ, nhân viên tới các phái bộ gìn giữ hòa bình và trụ sở Liên hợp quốc) và ứng phó với an ninh phi truyền thống; cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar...

Âm mưu "chuyển hóa" hệ thống tư pháp quân đội

Mũi tấn công nguy hiểm khác là nhắm vào hệ thống kỷ luật và các mối quan hệ đặc thù trong nội bộ Quân đội, hòng làm tan rã sức mạnh đoàn kết. Thực tế cho thấy, một quân đội muốn mạnh phải có kỷ luật thép. Các thế lực thù địch, phản động hiểu rõ điều này và chúng đang tập trung tấn công vào “thanh bảo kiếm” duy trì kỷ luật của QĐND Việt Nam, đó là hệ thống tư pháp Quân đội (tòa án quân sự, viện kiểm sát quân sự, cơ quan điều tra hình sự). Chúng lợi dụng việc Đảng, Quân đội ta quyết liệt chống tham nhũng, xử lý hàng loạt vụ án lớn, trong đó có nhiều bị cáo là cán bộ mang quân hàm cao cấp, rồi la lối rằng hệ thống tư pháp quân sự là “vùng cấm”, “bao che nội bộ”. Từ đó, chúng đưa ra yêu sách đòi “dân sự hóa” hệ thống tư pháp, tức là xóa bỏ các cơ quan tư pháp đặc thù này, với mục đích là phá vỡ công cụ chuyên biệt để duy trì kỷ luật, xử lý các tội phạm đặc thù trong môi trường quân sự. Vậy nhưng, việc tồn tại hệ thống tư pháp quân sự là thông lệ quốc tế, không phải “vùng cấm”. Ngay cả các nước phương Tây mà chúng ca ngợi, như Mỹ, Anh, Canada... đều duy trì hệ thống tòa án quân sự riêng biệt. Các cải cách gần đây của họ, như Mỹ sửa đổi Bộ luật Thống nhất về Tư pháp Quân sự (UCMJ) vào năm 2022, là để tăng tính độc lập cho công tố viên và quy định rõ hơn các hành vi phạm tội, chứ không hề xóa bỏ hệ thống này. Chính việc các tòa án quân sự của ta công khai, công bằng, nghiêm minh xét xử không có “vùng cấm” là bằng chứng đanh thép nhất chống lại luận điệu “bao che” của các thế lực thù địch.

Luận điệu "quân đội cũng chỉ là một nghề mưu sinh"

Bên cạnh các đòn tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động còn triệt để lợi dụng mặt trái của cơ chế thị trường để thúc đẩy âm mưu “dân sự hóa” quân đội. Chúng gieo rắc tâm lý “làm công ăn lương”, đánh tráo bản chất thiêng liêng của Bộ đội Cụ Hồ thành một mối quan hệ lao động thuần túy, với luận điệu: Quân nhân cũng chỉ là một “nghề” mưu sinh trong xã hội giống như bác sĩ, kỹ sư hay công nhân; từ đó cho rằng, đã là một nghề nghiệp thì phải tuân theo quy luật cung-cầu và được đối xử theo luật lao động dân sự. Từ tiền đề sai lệch đó, chúng cổ xúy cho những tư tưởng cực kỳ nguy hiểm: Đòi hỏi quân nhân phải có “quyền đình công” để đòi quyền lợi, có quyền “từ chối mệnh lệnh” nếu mệnh lệnh đó gây bất lợi cho cá nhân hoặc không tương xứng với thù lao; và yêu cầu mọi hoạt động quân sự phải được “hợp đồng hóa” minh bạch về lợi ích. Mục đích của chúng là tước bỏ tính chất “lực lượng vũ trang nhân dân”, xóa nhòa ranh giới giữa cống hiến, hy sinh và giao dịch thương mại, biến Quân đội thành một tập đoàn cung cấp dịch vụ an ninh đơn thuần. Bản chất của hoạt động quân sự là sự hy sinh, gian khổ, là đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tính mạng cá nhân. Khi tâm lý “làm công ăn lương” xâm nhập vào cán bộ, chiến sĩ, nguy cơ lớn nhất là sự phai nhạt lý tưởng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Nguy hiểm hơn cả, tâm lý này đe dọa phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong QĐND Việt Nam là quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em, gắn kết bằng tình thương yêu giai cấp và mục tiêu, lý tưởng chung. Tuy nhiên, luận điệu “dân sự hóa” muốn biến mối quan hệ thiêng liêng này thành quan hệ giữa “người sử dụng lao động” (cấp ủy, chỉ huy) và “người lao động” (bộ đội). Khi đó, mệnh lệnh của người chỉ huy không còn là “quân lệnh như sơn”, từ đó không chỉ làm xói mòn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cao đẹp mà còn trực tiếp đe dọa đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Những vấn đề trên đều dẫn đến một mục tiêu cuối cùng, nguy hiểm nhất của âm mưu “dân sự hóa” quân đội, đó là làm cho quân đội “tê liệt” khi xảy ra các biến động chính trị, các cuộc bạo loạn lật đổ. Khi quân đội, vốn là công cụ bạo lực mạnh nhất và là “thanh gươm và lá chắn” của một giai cấp, một chế độ đã sinh ra nó, không hành động, thì về bản chất, quân đội bị "tê liệt" về chức năng. Đây chính là điều các thế lực thù địch mong chờ nhất. Chúng biết rằng không thể thắng nếu đối đầu trực diện với một quân đội thống nhất, trung thành. Kế hoạch của chúng chỉ có thể thành công khi quân đội mất phương hướng, nghĩa là “thanh gươm” bảo vệ chế độ đã bị bẻ gãy. Chúng muốn QĐND Việt Nam đi vào vết xe đổ của các bài học lịch sử, trở thành một "quân đội trung lập” hoặc đứng nhìn chế độ sụp đổ.

(còn nữa)

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 2: Vấn đề “dân sự hóa” quân đội trong nước và quốc tế

Thứ ba, 16/12/2025 - 05:37
HỒNG HẢI - VĂN DUYÊN - VĂN HIẾU 

Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

“Dân sự hóa” quân đội - mũi tên độc trong chiến lược “diễn biến hòa bình” - Bài 2: Vấn đề “dân sự hóa” quân đội trong nước và quốc tế
Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80. Ảnh minh họa: qdnd.vn 

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

 Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này.

(còn nữa)