Phản bác một số vấn đề “lật sử”

Tháng Ba 31, 2026

phản bác

Lý Trung Nhĩ

Mới đây, trang mạng xã hội Edward Tran, lộng ngôn hỗn xược nêu 10 vấn đề thách đố: “Hỏi Tô Lâm: Đảng đã làm gì trên Việt Nam từ 1954?”. Vừa tung vừa hứng, chẳng khác nào một kẻ “vừa nhổ vừa liếm”, rặt mùi phản quốc, đòi “kể tội” Đảng Cộng sản Việt Nam, phê phán đường lối cách mạng của Đảng, còn phạm thượng nói là Hồ Chí Minh trót dẫn đất nước đi “sai đường” nên mới ra nông nỗi này (???). Ăn theo nói leo trang mạng trên lại nảy nòi mấy đứa có não trạng cặn bã chính trị, viết lời phản trắc, đòi kết tội ĐCSVN.

Cả đời tui sống lương thiện kiếm ăn bằng nghề đánh giầy, có nghe người ta nói ở Hoa Kỳ cũng có một dòng họ phất giàu nhờ vào nghề đánh giầy, tự thấy mình cũng hơi vênh vang. Cụ Nội nhà tui từng đi lính cho chính quyền Cộng hòa miền Nam, sau năm 1975, cụ bị đi cải tạo gần 2 năm, lúc về mới sanh ra Ba tui, quãng đời của cụ Nội nhà tui từ sau khi đi cải tạo tuy âm thầm có mặc cảm, nhưng dần dần ổng cũng hòa nhập với dân làng, vì dân làng chả có ai gây thù chuốc oán với cụ Nội tui. Ba tui lớn lên cũng sống hòa đồng, cùng cắp sách tới trường, lặn lội kiếm con tôm con cá, cần mẫn gieo trồng và thu hoạch hạt lúa; cùng tham gia các hoạt động thiếu niên, thanh niên với những người bạn cùng trang lứa, hổng thấy chia bè, kỳ thị giữa những người từng sống thời nước nhà bị chia cắt.

Dưới đây có mấy lời mạo muội trả lời thay ông Tô, nhằm trát nhựa đường vô mồm bọn ngáo ngơ chánh trị:

Về “Cải cách ruộng đất”: Việc này đã kết thúc vào năm 1956, song vẫn luôn bị nhiều kẻ “lật sử” bâu vào đốt đỏ cả không gian mạng; hòng khoét sâu sai lầm chính trị trong quá khứ, kích động gây chia rẽ hận thù dân tộc. Đánh phong kiến là một nhiệm vụ đúng đắn cần phải tiến hành cùng với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, có thể đi sau một bước sau khi giành độc lập. Nếu ai đó chịu khó đọc sách thì biết, ở châu Âu, tiêu biểu là nước Pháp, khi họ tiến hành cuộc Cách mạng dân chủ Tư sản Pháp ở thế kỷ 18, chính giai cấp Tư sản đã lợi dụng tinh thần cách mạng của quần chúng lao động để đánh đổ chế độ phong kiến. Tới mức, giai cấp Tư sản cho treo cổ vua nước Pháp, rồi tước hết mọi ruộng đất của quí tộc phong kiến. Khi đã giành được quyền thống trị, giai cấp Tư sản lại phản bội quần chúng lao động, dùng bạo lực đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân và nông dân, trí thức có tinh thần cách mạng. Sự kiện Công xã Pari (năm 1871)đã lột mặt nạ của giai cấp Tư sản, khi các nước tư bản châu Âu hùa nhau tấn công bóp chết Công xã Pari, dìm những người có tinh thần vô sản trong bể máu. Bọn Tư sản đã cột các chiến sĩ Công xã Pari vào xe ngựa kéo lê trên đường phố, hòng khủng bố tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản.

Cuộc cải cách ruộng đất ở Việt Nam (từ năm 1953-1956) là nhiệm vụ đấu tranh giai cấp, mang lại lợi quyền chính đáng cho giai cấp nông dân, được ĐCSVN đề ra ngay trong Cương lĩnh đầu tiên, rằng cách mạng vô sản của Việt Nam nhằm đánh đổ thực dân, phong kiến, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tiếp đó sẽ đi lên CNXH, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Sở dĩ phải làm như thế là vì cuộc cách mạng mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn là cuộc cách mạng xã hội triệt để, cách mạng dân chủ kiểu mới, không nửa vời như cách mạng Tư sản kiểu cũ. Trong cải cách ruộng đất đã không may phát sinh ngoài ý muốn, dẫn đến sai lầm, khuyết điểm, gây tang thương (chủ yếu là chịu ảnh hưởng của chuyên gia Trung Quốc về tỷ lệ qui lên địa chủ). Cụ Hồ và Đảng đã kịp thời sửa sai.

Về thực hiện “Hiệp định Giơ ne vơ”: Lịch sử đã phản ánh rất rõ rằng, đế quốc Mỹ và tay sai Ngụy quyền  đã ngăn cản khát vọng non sông thu về một mối của người dân yêu nước Việt Nam. Hiệp định Giơ – ne – vơ không quy định quân Mỹ thay quân Pháp thống trị miền Nam Việt Nam, mà là quy định sau 300 ngày mỗi bên rút lực lượng về 2 bên vĩ tuyến 17, không coi vĩ tuyến 17 là mốc giới chia cắt lãnh thổ; tháng 7 năm 1956 sẽ tổ chức hiệp thương tổng tuyển cử thống nhứt lập ra một chính thể chung cho cả 2 miền. Tháng 10 năm 1955, Mỹ đã dựng trò “Trưng cầu dân ý” bắt dân miền Nam phải bỏ phiếu làm cớ tạo ra một nộm rơm chính trị “Ngô Tổng thống”. Diệm ban hành Luật 10/59 lê máy chém khắp miền Nam, tuyên bố “giết nhầm còn hơn bỏ sót cộng sản”. Dưới sự thống trị của gia đình họ Ngô, được Mỹ tiếp sức vũ khí, mưu mô CIA, cố vấn quân sự, đô la…, thế là nền “đệ nhứt cộng hòa” vừa mạnh tay chém giết đồng bào yêu nước, vừa lập ra ấp chiến lược, đồng thời cải cách điền địa, còn không chừa khủng bố Phật giáo. Đồng bào miền Nam ngột ngạt trong lao tù đế quốc tay sai, dưới ánh sáng của Nghị quyết Trung ương 15 (năm 1959), họ đã vùng lên tranh đấu, mở đầu bằng Phong trào Đồng khởi Bến Tre, rồi lan ngọn lửa căm thù ra khắp miền Nam. Ngọn đuốc tự thiêu của ông Hòa thượng Thích Quảng Đức giữa Sài Gòn (ngày 11/6/1963) như mồi lửa ngút trời, gây náo loạn trong bộ máy thực dân kiểu mới, gây phản loạn trong tướng tá ngụy quyền Sài Gòn. Kết cục bi thảm dành cho kẻ bán nước họ Ngô xảy ra vào ngày 1 và 2/11/1963. Nhắc đến việc này chắc mọi người đều hiểu, bất kỳ kẻ nào bán nước, phản quốc thì đều chịu kết cục bi thảm. Nhân đây, xin nhắc lại nhận xét của Phaolô Cao Văn Luận, người sống và chứng kiến những ngày cuối cùng của anh em họ Ngô, ông này sau đã viết cuốc hồi ký “Bên dòng lịch sử – Hồi ký 1940-1965”, tường thuật chi tiết sự kiện đảo chánh giết chết Diệm – Nhu: “Nhìn lại tấn tuồng đảo chánh những việc trước và sau đó chúng ta không khỏi bùi ngùi cho số phận một dân tộc nhược tiểu, mang tiếng độc lập, nhưng mối dây cai trị đều trong tay một thế lực ngoại quốc”. Ấy thế mà gần đây còn có kẻ dám mở mồm đặt câu hỏi “Hồ Chí Minh – Ngô Đình Diệm, ai là người yêu nước, ai là kẻ bán nước?”.

Về việc có nhiều người “bỏ cộng sản theo Pháp, theo Mỹ”: cũng là do sự sai lầm nhận thức chính trị, lại bị tuyên truyền phản động “Chúa di cư vào Nam”, nên sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, có tới triệu người chen lấn trèo tàu từ Cảng Hải Phòng để vào “miền đất hứa”. Một trong những thảm cảnh lịch sử đến từ hệ lụy chùng chình theo tư bản hay theo cộng sản, theo Chúa hay theo Việt Minh, mơ mộng “trời tự do” hay sống trong trật tự xã hội không còn thực dân, phong kiến, dựng xây chế độ XHCN. Khi những người di cư vào Nam (thế hệ F1, gọi là dân Bắc Kỳ 54) họ đã được những kẻ xâm lăng và bè lũ bán nước ru ngủ bằng miếng pho mát “tự do, dân chủ”, được quây vào những khu tái định cư hoang vắng, tự khai khẩn mưu sinh, còn một bộ phận theo đạo Thiên Chúa hay một số đạo khác thì tự lập lực lượng vũ trang. Dưới thời Ngô Đình Diệm, Phật giáo miền Nam bị coi là thân cộng, nên đã chủ trương bài Phật giáo, tôn Thiên Chúa giáo. Cuộc xung đột tôn giáo đã làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh tôn giáo, kết hợp với đấu tranh yêu nước ở miền Nam. Trong khi đó, đại đa số người dân yêu nước ở cả 2 miền Nam – Bắc đều hướng về Hồ Chí Minh, tôn vinh Cụ Hồ là lãnh tụ duy nhất cho khát vọng thống nhứt, độc lập, tự do. Năm 1975, trước sự sụp đổ không thể cứu vãn, nhằm chuẩn bị “hậu chiến”, bộ máy phản tuyên truyền đã tung tin xuyên tạc rằng “Việt Cộng sẽ tắm máu những người theo chính quyền Cộng hòa”. Cho tới nay, thủ phủ của những kẻ tỵ nạn chính trị ở quận Cam bên Mỹ còn phả hơi chống cộng cho con cháu họ, nhưng hãy nhớ rằng, ngay như ông Nguyễn Văn Thiệu, ông Nguyễn Cao Kỳ về cuối đời đều muốn “cáo chết quay đầu về núi”. Chưa kể có vô số người lính Mỹ từng tham gia chiến trường miền Nam, từng gây tội ác, về cuối đời họ cũng nung nấu mong muốn được quay trở lại miền Nam Việt Nam, được làm một điều gì đó để chuộc tội lỗi. Nhân việc này, tôi nhớ lại câu chuyện về anh Morixơn, đã tự thiêu trước lầu Ngũ Giác để phản đối chiến tranh Việt Nam (ngày 2/11/1965).

Gần đây nhứt, ông Biden và ông Trump đều có những lời nhận xét chân thật về một Việt Nam biết dũng cảm bước qua hố sâu hận thù dân tộc để đứng lên kiêu hãnh, tuyệt vời. Đến nay, không chỉ có Hoa Kỳ trở thành đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam mà còn có tới 193 thành viên của Liên hợp quốc có quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Không hiểu là họ ghét hay cảm phục Việt Nam mà kết giao bè bạn đến 100% như thế.

Về sự kiện “Mậu Thân 1968”: không thể gọi đây là cuộc “thảm sát” do Việt Cộng tiến hành đối với người dân (vì Việt Cộng trà trộn vào dân thường, khiến quân Mỹ – Ngụy không dám nổ súng”; mà đây thực chất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp miền Nam; sự kết hợp sức mạnh giữa quân giải phóng với sức mạnh của người dân yêu nước – đó là thế trận lòng dân. Trước hết là các mục tiêu đầu não cuộc chiến tranh miền Nam của Mỹ – Ngụy trở thành mục tiêu đánh phủ đầu. Trong đó, thành phố Huế là nơi bị quân Cộng đánh chiếm lâu dài hơn cả. Tết Mậu Thân 1968 là cơn ác mộng đánh sập ý chí chiến tranh của những kẻ hiếu chiến ở Nhà trắng và Lầu Năm góc. Buộc đế quốc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược thúc đẩy cảnh “nồi da xáo thịt”, dùng người Việt đánh người Việt bằng súng đạn Mỹ (Việt Nam hóa chiến tranh). Sau Mậu Thân 1968, Mỹ buộc phải ngồi vào bàn đàm phán, tiến hành một cuộc đàm phán mà thế và lực của Bắc Cộng đã hoàn toàn khác với Hội đàm Giơ – ne – vơ. Trong khi đó, Mỹ cố hà hơi tiếp sức cho Ngụy quyền diễu võ dương oai tại Khe Sanh, đường Chín, Nam Lào, Quảng Trị (mùa khô năm 1972); nhưng càng giãy dụa càng bị lún sâu vào vũng lầy thảm bại. Có một sự kiện đóng chốt đinh quan tài cuộc chiến tranh Việt Nam là 12 ngày đêm B52 của Mỹ bị bắn cháy tơi tả trên bầu trời Hà Nội. Điều này đã được Hồ Chủ tịch tiên đoán từ trước (năm 1967), khi Người căn dặn ông Phùng Thế Tài (Tư lệnh phòng không): “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Hiệp định Pari (27/1/1973) là dấu mốc “đánh cho Mỹ cút”; rồi tiếp đó “đánh cho Ngụy nhào”. Ngày 30/4/1975 là sự kết thúc 21 năm leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ tại Việt Nam. Đó là kết cục lịch sử của lòng dân theo Đảng, theo Cụ Hồ, là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Hoàn toàn không đơn thuần là ai theo ai dưới góc độ lợi ích cá nhân. Nhận thức chính trị đúng, đem lại sức mạnh chính nghĩa và sự chiến thắng của lương tri, phẩm giá. Từ sau ngày 30/4/1975, mọi ngả đường cách mạng Việt Nam đều tiếp tục trên lộ trình được hoạch định từ trước khi giành độc lập, được một vị lãnh tụ vĩ đại, một chính đảng vô sản chân chính soi đường dẫn lối. 

Vạch trần luận điệu sai trái về sự đối lập giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước

Thứ hai, 30/03/2026 - 13:58

Đại tá, TS PHÙNG MẠNH CƯỜNG, Phó chủ nhiệm Khoa Kinh​ tế chính trị học Mác-Lênin (Học ​viện Chính trị)

Để phát huy các nguồn lực, tạo đột phá phát triển trong kỷ nguyên mới, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế Nhà nước (gọi tắt là Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79).

Ngay lập tức nhiều quan điểm chống phá, xuyên tạc cho rằng kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân hoàn toàn đối lập nhau; coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất đồng nghĩa với kinh tế nhà nước là thứ yếu, không còn vai trò chủ đạo? Trước hết cần khẳng định: Đảng không đặt các thành phần kinh tế vào quan hệ triệt tiêu lẫn nhau, mà xác lập chúng trong một chỉnh thể thống nhất, cùng phát triển vì mục tiêu chung. Việc nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là yêu cầu cấp thiết trong cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận hiện nay.

Vạch trần luận điệu sai trái về sự đối lập giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước
 Ảnh minh họa: Chinhphu.vn


Khi sự phát triển của tư duy kinh tế trở thành mục tiêu xuyên tạc

Qua bốn thập niên đổi mới, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời không ngừng phát triển tư duy lý luận kinh tế cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Đó là quá trình vừa giữ vững nguyên tắc chiến lược, vừa linh hoạt trong phương thức tổ chức thực hiện nhằm phát huy tối đa mọi nguồn lực cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Cần khẳng định rằng Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai quyết định rời rạc, trái chiều nhau. Đó là biểu hiện sâu sắc của tư duy phát triển thống nhất trên cơ sở phát huy năng lực nội sinh của nền kinh tế theo mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Đại hội XIV xác định: “Phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Đó chính là định vị đúng vị trí của từng thành phần kinh tế, theo đó kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân dù có vai trò, tỷ trọng, mức đóng góp khác nhau trong tổng thể nền kinh tế, nhưng cùng hướng về một mục tiêu chung là phát triển đất nước nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đó cũng là sự nhất quán cả trong nhận thức, tư duy và thực tiễn lãnh đạo của Đảng, tuy nhiên nhiều luận điệu xuyên tạc tìm cách bẻ cong nhận thức. Trên các nền tảng mạng xã hội, trên nhiều diễn đàn núp bóng phân tích chính sách, không ít ý kiến cố tình đặt Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 ở hai cực đối lập không thể dung hợp nhau. Chúng lập luận rằng nếu xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất”, thì nhấn mạnh kinh tế nhà nước “chủ đạo” là “mâu thuẫn”; rằng Đảng đã không “nhất quán” ngay trong tư duy lãnh đạo và “lúng túng trong tư duy phát triển”; rằng Đảng “vừa muốn theo thị trường, vừa không dứt khỏi tư duy bao cấp”…

Thoạt nhìn luận điệu có vẻ như “phản biện chính sách” rất “thiện chí”; rất “công tâm”, rất “khoa học” nhưng bản chất bên trong chính là chúng cố tình tấn công vào nền tảng tư tưởng lý luận của Đảng. Ở đây cũng không quá khó để nhận ra thủ đoạn dẫn dắt chính trị khá tinh vi: Cắt hai mệnh đề khỏi cùng một chỉnh thể đường lối, rồi dẫn dắt dư luận nhìn nhận chúng như hai lựa chọn loại trừ nhau. Đây chính là cách nhanh nhất, ngắn nhất để biến một chủ trương nhất quán thành “lỗi chính sách” nghiêm trọng cần khắc phục. Điều đó sẽ nhanh chóng dẫn tới mâu thuẫn trong cách nhìn, cách nghĩ của công chúng. Nguy hiểm ở chỗ nếu một chủ trương đúng nhưng bị cắt khúc, tách biệt, kéo lệch và lặp lại đủ nhiều cũng sẽ dẫn tới sự hoang mang, hoài nghi, dần dần len lỏi vào tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và người dân. Qua đó tác động tới sự đồng thuận trong nhận thức xã hội về những vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước và hệ lụy là rất lớn nếu không đấu tranh, bác bỏ kịp thời.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, lâu nay thủ đoạn xuyên tạc quen thuộc của các thế lực thù địch vẫn cố tình “đối lập hóa” nhiều vấn đề kinh tế, chính trị của đất nước, nhất là các nghị quyết, các chủ trương, quyết sách lớn của Đảng, Nhà nước để tạo mâu thuẫn, xáo trộn trong tư tưởng, nhận thức của xã hội. Tuy nhiên, đối với Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79, thủ đoạn này không còn “thô ráp” như trước, mà được bọc trong lớp ngôn ngữ có vẻ “khách quan” như: Phản biện; kiến nghị chính sách; so sánh, phân tích; góp ý cải cách... để tạo cảm giác rất “chân thành”, “cầu thị”, “vì dân” nhưng thực chất là để che đậy tinh vi dụng ý chính trị thâm sâu bên trong của các thế lực thù địch.

Thủ đoạn “ru ngủ” này dễ dẫn dắt người đọc, người nghe, người xem tới sự tò mò trong nhận thức, dần dần tới hoài nghi, mâu thuẫn nếu không đủ tỉnh táo để nhận ra trước khi quá muộn. Nói tới Nghị quyết 79, chúng bám vào cụm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, rồi gán ghép rằng đó là “tư duy bao cấp kéo dài”, “ưu ái doanh nghiệp nhà nước”, thậm chí “đi ngược quy luật thị trường”. Nói tới Nghị quyết 68, chúng thổi phồng cụm “một động lực quan trọng nhất”, suy diễn rằng Đảng đã “thừa nhận vai trò quyết định của kinh tế tư nhân”, rồi ngụy biện: Nếu kinh tế tư nhân đã là động lực lớn, thì kinh tế nhà nước còn “chủ đạo” để làm gì? Ở đây điểm đánh tráo nằm ở chỗ chúng cố biến hai khái niệm khác nhau về vai trò, chức năng thành hai lựa chọn đối nghịch, loại trừ nhau. “Chủ đạo” bị kéo thành “bao trùm, lấn át”. “Động lực” bị kéo thành “thay thế, chi phối”.

Quan hệ đúng giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân là quan hệ bổ trợ, phân công và cộng hưởng, một bên giữ nền, bảo đảm các cân đối lớn; bên kia phát huy sức bật thị trường, giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Chúng khác nhau về chức năng, vai trò nhưng không đối lập, loại trừ hay buộc phải lựa chọn giữa có và không. Đại hội XIV đã xác định rất rõ: “Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế. Phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế”. Như vậy, quan điểm của Đảng đã rất rõ ràng, nhất quán, không hề mâu thuẫn trong định vị vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và đặt chúng trong một tổng thể có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau cùng hướng tới mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một chủ trương kinh tế đúng không phải vì nó làm mạnh riêng một khu vực kinh tế nào, mà vì nó làm đất nước phát triển hơn, nhân dân hưởng lợi nhiều hơn, xã hội ổn định, văn minh hơn, tạo sự đồng thuận lớn hơn trong quần chúng nhân dân. Mọi thủ đoạn cố ý đẩy kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân sang hai thái cực đối lập về thực chất là cố tình phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, đi ngược lại lợi ích thiết thực của nhân dân và cơ hội phát triển hùng cường của dân tộc trong kỷ nguyên mới. 

Kinh tế nhà nước - vai trò chủ đạo không thể bị làm lệch nghĩa

Trước hết cần khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo không phải là sự tiếp tục cơ chế quản lý tập trung bao cấp trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, càng không phải ôm đồm, bao sân, lấn át hoặc làm suy giảm vai trò của các thành phần kinh tế khác, nhất là kinh tế tư nhân. Cốt lõi của vai trò chủ đạo là phải bảo đảm sử dụng các nguồn lực kinh tế hiệu quả nhất để thực hiện các chức năng điều tiết, ổn định vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, thực hiện vai trò định hướng chiến lược, giữ vững quốc phòng, an ninh đất nước. Kinh tế nhà nước chủ yếu tập trung ở các lĩnh vực hạ tầng chiến lược và các ngành kinh tế có tính chất nền tảng như năng lượng, dầu khí, tài chính - ngân hàng, viễn thông, hạ tầng số, logistics hoặc những lĩnh vực gắn với quốc phòng - an ninh… Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước cũng là một thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác nhằm đảm bảo hiệu quả sản xuất, kinh doanh. Do vậy, các nguồn lực kinh tế nhà nước nắm giữ không thể phân bổ, sử dụng tùy tiện, ngược lại phải dựa trên tín hiệu thị trường để tính toán hiệu quả đầu tư, tránh lãng phí nguồn lực.

Kinh tế tư nhân - động lực quan trọng nhất, không phải lực lượng đối lập

Xác định kinh tế tư nhân là “một động lực quan trọng nhất” không có nghĩa trao cho khu vực này vai trò thay thế kinh tế nhà nước. Vai trò động lực quan trọng nhất không đồng nghĩa với chi phối kiểm soát toàn bộ nền kinh tế, càng không phải là lực lượng kinh tế đối lập. Nếu kinh tế nhà nước giữ vai trò nền tảng ở những lĩnh vực trọng yếu, cốt lõi, thì kinh tế tư nhân sẽ là nơi thể hiện rõ nhất sức sống của thị trường, khả năng cạnh tranh, tính thích ứng nhanh với đổi mới công nghệ và cải thiện năng suất lao động. Nghị quyết 68 vì thế là kết quả của một quá trình tổng kết thực tiễn đủ dài để đi đến thống nhất nhận thức: “Phát triển kinh tế tư nhân nhanh, bền vững, hiệu quả, chất lượng cao vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài”.

Thực tiễn cũng cho thấy vai trò và đóng góp to lớn của kinh tế tư nhân cho sự phát triển kinh tế, xã hội: “Khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% tổng số lao động vào tăng trưởng kinh tế”. Những con số biết nói đó cho thấy kinh tế tư nhân là nguồn lực rất quan trọng của nền kinh tế, sự phát triển của nó không đe dọa hoặc suy yếu vai trò kinh tế nhà nước mà ngược lại. Khi kinh tế tư nhân được tự do phát triển trong những lĩnh vực pháp luật không cấm sẽ phát huy được vai trò động lực cho phát triển kinh tế, xã hội, sẽ là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia; công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đóng góp to lớn trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường, thịnh vượng.

Nghị quyết 68 và Nghị quyết 79 không phải hai văn bản tách rời, càng không phải hai hướng đi đối lập, loại trừ nhau. Mà là hai bộ phận hữu cơ trong tổng thể đường lối phát triển kinh tế của Đảng trong kỷ nguyên phát triển mới. Trong tổng thể đó, kinh tế nhà nước phải đủ mạnh để giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân phải được giải phóng sức sản xuất để trở thành một động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, đổi mới sáng tạo. Mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá, đối lập giữa kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân cần được vạch trần, bác bỏ. 

Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phủ nhận vai trò động lực quan trọng nhất của kinh tế tư nhân - Bài 1: Thấy đúng vai trò để không ngộ nhận

Thứ hai, 30/03/2026 - 05:47

Đại tá, TS NGUYỄN MẠNH HỔ, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Sau khi Bộ Chính trị (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6-1-2026 về phát triển kinh tế nhà nước (KTNN), xuất hiện những quan điểm sai lệch cho rằng vai trò chủ đạo của KTNN phủ nhận động lực của kinh tế tư nhân (KTTN) theo Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Thực chất, theo tinh thần hai nghị quyết trên, hai khu vực kinh tế không những không đối lập mà bổ sung, thống nhất với nhau, đòi hỏi nhận thức đúng để tránh cực đoan, khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng.

Theo tinh thần Nghị quyết 79 và Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị về vai trò chủ đạo của KTNN và một động lực quan trọng nhất của KTTN thì một bên giữ vai trò định hướng, điều tiết, còn bên kia tạo ra xung lực tăng trưởng. Nhận thức đúng mối quan hệ này là “chìa khóa” vận dụng đúng đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

Tính thống nhất biện chứng giữa KTNN và KTTN 

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, việc xác định đúng vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế luôn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đặc biệt, nhận thức về mối quan hệ giữa KTNN và KTTN vẫn còn tồn tại những cách hiểu chưa đầy đủ, thậm chí sai lệch, bóp méo. Có quan điểm cho rằng việc khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò động lực quan trọng của KTTN. Tuy nhiên, cách nhìn này chưa phản ánh đúng tinh thần trong các văn kiện của Đảng cũng như thực tiễn phát triển kinh tế ở nước ta. 

Theo đó, Nghị quyết 79 xác định KTNN giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng định hướng, điều tiết, ổn định và dẫn dắt nền kinh tế. Vai trò này không chỉ mang ý nghĩa về mặt kinh tế thuần túy mà còn gắn với yêu cầu bảo đảm định hướng XHCN, giữ vững các cân đối lớn, kiểm soát những lĩnh vực then chốt có tính chiến lược của quốc gia. Như vậy, chủ đạo ở đây phải được hiểu là vai trò dẫn dắt vĩ mô, thể hiện ở khả năng chi phối các “điểm nút” quan trọng của nền kinh tế, qua đó tạo nền tảng và môi trường ổn định cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước không phủ nhận vai trò động lực quan trọng nhất của kinh tế tư nhân - Bài 1: Thấy đúng vai trò để không ngộ nhận
Ảnh minh họa: vov.vn 

Trong khi đó, Nghị quyết 68 nhấn mạnh KTTN là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, có vai trò thúc đẩy tăng trưởng, đổi mới sáng tạo, tạo việc làm và nâng cao năng suất, chất lượng hiệu quả kinh tế. Điều này phản ánh thực tế rằng khu vực KTTN, với tính linh hoạt, năng động và khả năng thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, chính là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải vật chất, khai thác hiệu quả các nguồn lực xã hội. Ở đây, động lực quan trọng nhất được hiểu là yếu tố có khả năng tạo ra xung lực phát triển mạnh mẽ, làm gia tăng tốc độ và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế.

Hai cách tiếp cận trên phản ánh hai phương diện khác nhau về bản chất nhưng gắn bó hữu cơ trong một chỉnh thể thống nhất của nền kinh tế. Một bên tạo ra “khung”, “trật tự” và “định hướng” cho nền kinh tế vận hành ổn định, bền vững; bên kia tạo ra “sức sống” và “xung lực” để nền kinh tế phát triển nhanh và hiệu quả. Hai yếu tố này không những không mâu thuẫn mà còn là điều kiện của nhau: Không có sự dẫn dắt, định hướng của KTNN thì động lực từ KTTN có thể phát triển lệch hướng, thiếu bền vững; ngược lại, nếu không có động lực mạnh mẽ từ KTTN thì vai trò chủ đạo của KTNN cũng khó được hiện thực hóa một cách hiệu quả trong thực tiễn. 

Nói cách khác, nếu KTNN là “trục định hướng” của nền kinh tế thì KTTN chính là “động cơ tăng trưởng”. Hai yếu tố không thể thay thế nhau, càng không thể triệt tiêu lẫn nhau và không thể tuyệt đối hóa vai trò của KTNN mà xem nhẹ vai trò động lực của KTTN, hoặc ngược lại, đề cao KTTN một cách cực đoan mà phủ nhận vai trò chủ đạo của KTNN dẫn đến sai lầm về mặt nhận thức đối với bản chất, đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Thể hiện rõ vai trò trong thực tiễn vận hành nền kinh tế 

Theo tinh thần của Nghị quyết 79, vai trò chủ đạo của khu vực KTNN thể hiện rõ nhất ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt, chi phối các cân đối lớn và có ý nghĩa nền tảng của nền kinh tế như: Năng lượng, tài chính-ngân hàng, viễn thông và hạ tầng giao thông. Đây là những lĩnh vực có tác động lan tỏa mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Chẳng hạn, trong hệ thống tài chính-ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối thị phần tín dụng và bảo đảm an toàn hệ thống. Trong lĩnh vực năng lượng, các doanh nghiệp nhà nước đóng vai trò chủ lực trong sản xuất và cung ứng điện, xăng dầu, bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Những yếu tố này không chỉ có ý nghĩa kinh tế mà còn mang tính chính trị-xã hội sâu sắc. 

Vai trò chủ đạo của KTNN còn thể hiện ở chức năng điều tiết vĩ mô. Chẳng hạn, trong giai đoạn 2021-2025, khi nền kinh tế chịu tác động của đại dịch Covid-19, tác động từ sự bất ổn về chính trị, xung đột vũ trang ở một số khu vực trên thế giới và những biến động kinh tế toàn cầu, với khả năng kiểm soát của mình, KTNN đã trở thành công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các chính sách ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh kinh tế, giúp nền kinh tế tránh được những cú sốc lớn từ bên ngoài, đồng thời bảo đảm các mục tiêu phát triển ổn định trong dài hạn.

Việc đẩy mạnh đầu tư công, phát triển kết cấu hạ tầng, hay các gói hỗ trợ kinh tế đều dựa trên nền tảng của KTNN. Riêng năm 2025, Chính phủ đã huy động hàng trăm nghìn tỷ đồng trái phiếu để đầu tư vào các dự án hạ tầng lớn như đường sắt, đường bộ, sân bay, bến cảng, năng lượng, qua đó vừa kích thích tăng trưởng vừa tạo nền tảng dài hạn cho phát triển. Điều này cho thấy chỉ có KTNN mới đủ tiềm lực và khả năng dẫn dắt các chương trình đầu tư quy mô lớn, mang tính chiến lược.

Số liệu thực tiễn cho thấy, mặc dù tỷ trọng đóng góp trực tiếp của khu vực KTNN trong tổng sản phẩm nội địa (GDP) không chiếm đa số, song vẫn duy trì ở mức khoảng 20% trong giai đoạn gần đây. Điều này cho thấy rõ rằng vai trò chủ đạo không được đo bằng tỷ trọng tuyệt đối, mà bằng khả năng kiểm soát các “điểm nút chiến lược”, nắm giữ các “huyết mạch” của nền kinh tế, KTNN đã phát huy vai trò, chức năng bảo đảm cho toàn bộ nền kinh tế vận hành hiệu quả.

Ở chiều ngược lại, theo tinh thần Nghị quyết 68, vai trò của KTTN được thể hiện rõ qua các chỉ số định lượng trong các giai đoạn phát triển. Trước hết, xét về đóng góp vào GDP, giai đoạn 2021-2025, khu vực KTTN chiếm khoảng 50-51% GDP, vượt xa khu vực KTNN và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là minh chứng rõ ràng nhất cho vai trò trung tâm của khu vực tư nhân trong tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Không chỉ vậy, KTTN còn đóng góp hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, cho thấy vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn lực tài chính rất lớn cho Nhà nước. Đồng thời, khu vực này sử dụng khoảng 82-85% lực lượng lao động của cả nước, tương đương hơn 40 triệu người. Điều này khẳng định KTTN chính là khu vực giải quyết việc làm chủ yếu, góp phần quan trọng vào ổn định xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Về đầu tư xã hội, khu vực tư nhân chiếm khoảng 56-60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong những năm gần đây. Đây là nguồn lực rất lớn, thể hiện khả năng huy động vốn trong dân cư và doanh nghiệp, đồng thời phản ánh niềm tin của xã hội vào khu vực tư nhân. Đây là một trong những lý do quan trọng khiến KTTN được xác định là động lực quan trọng nhất.

Ngoài ra, KTTN có vai trò nổi bật trong hoạt động xuất, nhập khẩu, đóng góp khoảng 35% kim ngạch nhập khẩu và 25% kim ngạch xuất khẩu, tham gia ngày càng sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đặc biệt, khu vực này là lực lượng đi đầu trong đổi mới sáng tạo, phát triển sản phẩm, ứng dụng công nghệ mới và nâng cao năng suất lao động. Những yếu tố này tạo ra “xung lực” phát triển mạnh mẽ cho nền kinh tế, giúp duy trì tốc độ tăng trưởng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Điểm đáng chú ý là khu vực KTTN hiện chiếm khoảng 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (theo số liệu thống kê năm 2025, số lượng doanh nghiệp tư nhân là 940.000). Điều này cho thấy sự lan tỏa rộng khắp của khu vực này trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế, từ sản xuất, thương mại đến dịch vụ. Chính sự lan tỏa này tạo ra hiệu ứng dây chuyền, thúc đẩy sự phát triển của các ngành, lĩnh vực khác, qua đó khẳng định vai trò động lực của KTTN không chỉ ở quy mô mà còn ở tính lan tỏa và khả năng kích thích toàn bộ nền kinh tế.

Từ những số liệu trên có thể rút ra nhận định mang tính bản chất: Nếu KTNN giữ vai trò chủ đạo thông qua việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt và điều tiết vĩ mô thì KTTN chính là lực lượng trực tiếp tạo ra tăng trưởng, việc làm và đổi mới sáng tạo. Một bên tạo “nền tảng và trật tự”, bên kia tạo “động lực và sức sống”. Hai vai trò này khác nhau về chức năng nhưng thống nhất trong mục tiêu chung là phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế. Đây chính là mối quan hệ biện chứng, bổ sung lẫn nhau, phản ánh đặc trưng của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

(còn nữa) 

Nâng cao sức đề kháng cho Gen Z, ngăn chặn hoạt động phá hoại tư tưởng

Chủ Nhật, 29/03/2026, 15:40

Thời gian qua, lợi dụng các cuộc biểu tình của giới trẻ (hay còn gọi là thế hệ Gen Z) ở một số quốc gia Trung Đông, Nam Á và Đông Nam Á, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng chống đối đã triệt để sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, hình ảnh, clip nhằm kích động tư tưởng cực đoan, kêu gọi biểu tình, bạo loạn, “cách mạng màu” trong giới trẻ ở Việt Nam.

“Thế hệ Gen Z” trước những âm mưu phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Những năm qua, trên môi trường mạng xã hội thường nhắc đến một thuật ngữ, đó là "Gen Z". Vậy Gen Z là gì?

Theo định nghĩa của Pew Research, Gen Z (Generation Z - thế hệ Z) là cụm từ để nói đến nhóm người được sinh trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến khoảng 2012 - 2015 (một số ý kiến cho rằng Gen Z bắt đầu từ năm 1995). Trong kỷ nguyên thời đại số, công nghệ bùng nổ cùng với sự tiếp cận từ sớm đã tác động đến một phần ý thức của Gen Z, tiêu biểu là xu hướng tự tin thể hiện bản thân, có chính kiến và không ngại khác biệt.

Nâng cao sức đề kháng cho Gen Z, ngăn chặn hoạt động phá hoại tư tưởng  -0
Tăng cường nhận thức, sức đề kháng cho “thế hệ Gen Z” trên không gian mạng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số toàn cầu, thế hệ Gen Z - những người trẻ sinh ra và lớn lên cùng Internet - đang trở thành lực lượng có ảnh hưởng lớn trong đời sống xã hội của nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Năng động, sáng tạo và nhanh nhạy với công nghệ, họ có khả năng lan tỏa mạnh mẽ trên mạng xã hội. Không ít thanh niên rơi vào trạng thái thờ ơ chính trị khi cho rằng các vấn đề tư tưởng, chính sách hay lịch sử chỉ là chuyện của người lớn hay chẳng liên quan đến mình, một bộ phận giới trẻ do thiếu kinh nghiệm, chưa đủ bản lĩnh nhận diện thông tin thật - giả, đúng - sai.

Chính thái độ mơ hồ, non nớt ấy là mảnh đất màu mỡ để các quan điểm sai trái len lỏi, gieo mầm hoài nghi, dẫn đến nhận thức lệch lạc, mất phương hướng lý tưởng, niềm tin tích cực trong một bộ phận giới trẻ, nên dễ bị các thế lực phản động, thù địch và phần tử cơ hội chính trị lợi dụng, lôi kéo vào các hoạt động tuyên truyền sai trái, kích động chống phá.

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự" gắn liền với hoạt động phá hoại tư tưởng trên không gian mạng và đối tượng hướng đến chính là “thế hệ Gen Z” của Việt Nam. Với chiêu trò thâm độc từ “thao túng nhận thức” đến kích động hành động "bất tuân dân sự" thể hiện những tư tưởng cực đoan, vô chính phủ, chống chính quyền, đang được lợi dụng gắn với cái gọi là tổ chức xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “bất tuân dân sự” là nguồn gốc thai nghén các cuộc ly khai, bạo loạn, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền… ở một số quốc gia, tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, khôn lường.

Lợi dụng tình hình biến động của khu vực và thế giới, nhất là các cuộc bạo loạn, lật đổ tại các quốc gia Trung Đông, Nam Á và Đông Nam Á, các đối tượng chống đối đưa các bài viết nhằm kích động lớp trẻ thuộc Gen Z, kiểu như: “Khi Gen Z nổi giận: Lời cảnh tỉnh cho các chế độ độc tài”; “Banglades, Nepal, Indonesia, Iran… thế hệ Gen Z đã lên tiếng, bao giờ đến Việt Nam”?... Các bài viết như trên đều có nội dung đổ lỗi nguyên nhân của sự bất ổn tại một số quốc gia Trung Đông, Nam Á và Đông Nam Á là do sự kiểm soát, độc tài và đàn áp của chính quyền. Từ đó, các tổ chức trên đã khéo léo liên hệ tới tình hình chính trị tại Việt Nam và kích động người dân, nhất là thế hệ Gen Z thực hiện cái gọi là “bất tuân dân sự”, xuống đường biểu tình với các luận điệu như “mọi chế độ xã hội chủ nghĩa đều độc tài”; “thế hệ Gen Z Việt Nam đáp lời kêu gọi của các nước”; “Việt Nam sớm muộn cũng sẽ bất ổn như Nepal, Indonesia”...

Âm mưu sâu xa của các thế lực thù địch là gây khủng hoảng niềm tin trong giới trẻ, làm cho thế hệ Gen Z hoang mang, không nhận thức được đúng sai, làm lung lay bản lĩnh chính trị, nghi ngờ các giá trị truyền thống, từ đó xa rời định hướng cách mạng, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Với vỏ bọc là các hội, nhóm trao đổi thông tin khách quan về tình hình chính trị, xã hội, tung ra những luận điệu về “dân chủ, nhân quyền”, các thông tin xấu độc, tin sai sự thật, đồn đoán nội dung vô căn cứ gây rối loạn thông tin, thậm chí gài ghép chi tiết giả trong sách báo, tài liệu để đánh lừa ngay cả những người có hiểu biết.

Sự nguy hiểm của những âm mưu này không chỉ dừng ở việc kêu gọi “bất tuân dân sự” mà thâm độc hơn ở hoạt đông “phá hoại tư tưởng” thông qua văn hóa ngoại lai, lối sống thực dụng, các thế lực thù địch còn gieo rắc tư tưởng cá nhân cực đoan, tôn sùng vật chất, coi nhẹ giá trị tinh thần.

Khi một bộ phận giới trẻ bị tiêm nhiễm lối sống lệch chuẩn, xa rời truyền thống dân tộc, họ trở thành lực lượng dễ bị lôi kéo nhất. Một khi những người trẻ được tôn vinh như “ngọn cờ tiên phong”, “nhà lãnh đạo cấp tiến” dần dần nhen nhóm từ bên trong hình thành lực lượng chống đối. Đây chính là một phần trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm làm suy yếu nền tảng chính trị và phá hoại sự ổn định, độc lập, chủ quyền của một quốc gia.

Tăng cường sức đề kháng cho “thế hệ Gen Z” trên không gian mạng

Trong suốt tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước, thế hệ trẻ luôn giữ vị trí quan trọng, được ví như rường cột quyết định sự hưng thịnh của dân tộc. Trong mọi thời kỳ cách mạng từ khi có Đảng lãnh đạo đến nay, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, đóng vai trò nòng cốt, từ đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Thanh niên là bộ phận của dân tộc. Dân tộc bị nô lệ thì thanh niên cũng bị nô lệ. Dân tộc được giải phóng, thanh niên mới được tự do. Vì vậy, thanh niên phải hăng hái tham gia cuộc đấu tranh của dân tộc...”.

Hiện nay, đại đa số thanh niên có lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhận thức chính trị tốt, tích cực đóng góp sức mình cho xã hội, vì sự phát triển của đất nước. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận thanh niên bị ảnh hưởng bởi văn hóa ngoại lai, phai nhạt lý tưởng cách mạng, có lối sống thực dụng, dễ bị tác động bởi mặt trái của nền kinh tế thị trường, dễ bị lôi kéo và kích động trước những thông tin, quan điểm sai trái. Vì vậy, giáo dục cho giới trẻ hiểu bản chất của "cách mạng màu" là điều hết sức quan trọng.

Thế hệ trẻ, đặc biệt Gen Z, là tương lai của đất nước. Bảo vệ họ trước sự lợi dụng của các thế lực phản động là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, việc bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và lòng yêu nước cho thanh niên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Để vô hiệu hóa âm mưu “phá hoại tư tưởng” tăng cường sức đề kháng cho giới trẻ, điều quan trọng nhất là xây dựng thế hệ trẻ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có lý tưởng và có trách nhiệm với gia đình, xã hội. Cần trang bị nền tảng kiến thức vững chắc, nuôi dưỡng khát vọng cống hiến, đồng thời rèn luyện đạo đức, giáo dục lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, gắn kết với lịch sử và truyền thống cha ông, tăng sức đề kháng trước các luận điệu xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng tư duy phản biện, khả năng phân tích thông tin, nhận diện ngôn ngữ ngụy biện và hiểu được bản chất sâu xa của vấn đề trên không gian mạng làm “lá chắn” hiệu quả giúp thanh niên không bị cuốn theo những xu hướng, trào lưu lệch chuẩn trên mạng xã hội.

Khi lý trí của giới trẻ được bồi đắp, tôi rèn vững chắc, cảm xúc của họ sẽ không còn là điểm yếu dễ bị dẫn dắt, thao túng bởi những thông tin sai lệch, độc hại. Thế hệ trẻ đã có lý tưởng, có định hướng, sẽ không dễ bị lôi kéo vào những “giấc mơ ảo” về dân chủ, nhân quyền kiểu phương Tây và miễn nhiễm với các âm mưu “phá hoại tư tưởng”, hoạt động “bất tuân dân sự” và góp phần làm thất bại các hoạt động kích động bạo loạn, ly khai của các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong trên không gian mạng.

Việt Nam là một đất nước có dân số trẻ. Theo Cục Thống kê, số người trong độ tuổi thanh niên (từ 16 đến 30 tuổi) là hơn 20 triệu người, chiếm khoảng 20,1% dân số cả nước. Trong khi đó, phần lớn người trẻ đều sử dụng mạng xã hội và coi đây là công cụ trong công việc và đời sống hằng ngày.

Vì vậy, cần phát huy vai trò những người có sức ảnh hưởng trên mạng, đặc biệt là các KOL (người dẫn dắt dư luận) thuộc “thế hệ Gen Z” trong vai trò định hướng dư luận. Thông qua việc lan tỏa thông tin tích cực, họ góp phần làm giảm sức lan tỏa của thông tin xấu độc, cổ vũ giới trẻ tham gia các hoạt động lành mạnh, có ích cho cộng đồng.

Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, thông qua “hàng rào pháp lý” cứng rắn đối với các hành vi phát ngôn, lan truyền thông tin xấu độc, xử lý nghiêm minh các cá nhân, tổ chức tán phát thông tin sai lệch, xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động trên không gian mạng. Sự nghiêm minh của pháp luật để giúp cho thế hệ trẻ, đặc biệt là “thế hệ Gen Z” hiểu rẳng pháp luật không hạn chế tự do ngôn luận mà để bảo vệ chính bản thân họ, bảo vệ lòng tin, bảo vệ tự do chân chính và an ninh tư tưởng của xã hội. Khi luật pháp đồng hành với giáo dục và truyền thông sáng tạo, không gian mạng sẽ trở thành không gian xanh nơi bồi đắp bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước.

Chúng ta tạo môi trường để giới trẻ tham gia tích cực vào các lĩnh vực cần sự năng động, sức trẻ như chuyển đổi số, kinh tế xanh và các dự án lan toả văn hóa, giá trị truyền thống của quốc gia. Thế hệ trẻ cần chủ động học tập, rèn luyện và không ngừng phấn đấu để khẳng định bản thân, tự tin bước ra thế giới, mang theo hành trang là tri thức sâu rộng, thể chất khỏe mạnh và tâm hồn giàu bản sắc văn hóa Việt Nam, đồng thời phải rèn luyện bản thân trở thành những công dân toàn cầu mang hồn Việt, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, “thế hệ Gen Z” không chỉ tiếp thu tinh hoa thế giới mà còn lan tỏa những giá trị văn hóa đặc sắc của Việt Nam ra quốc tế.

Bình Nguyên - Hoàng Ly 

Phải nghiêm khắc với đảng viên chây ỳ

Tháng Ba 29, 2026

chỉnh đốn Đảng

Công Minh

Trên không gian mạng, thế lực thù địch, thế lực xấu xuyên tạc, vu cáo đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn được bao che, bảo vệ dù có phạm sai lầm, khuyết điểm, thậm chí vi phạm pháp luật. Những kẻ xuyên tạc, vu cáo cho rằng vì Đảng “bó tay”, “bất lực”, “o bế”, không đủ dũng khí để “tự hại mình” và nếu có xử lý thì cũng chỉ là “mị dân”, “đóng kịch”, dẫn đến đảng viên của Đảng dù có sai phạm nhưng vẫn cố tình chây ỳ không chịu sửa chữa, khắc phục. Thế lực thù địch, chống phá còn quy kết Chủ tịch Hồ Chí Minh “phải chịu trách nhiệm về tất cả”, vì theo chúng thì “Đảng là từ ông ta mà ra”…

Trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, đối với những cán bộ, đảng viên mắc sai phạm, khuyết điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhấn mạnh yêu cầu phải coi trọng giáo dục, thuyết phục, giúp đỡ những người vi phạm khắc phục, sửa chữa để tiến bộ. Đồng thời, Người cũng thẳng thắn nêu rõ trong Đảng vẫn còn những cán bộ, đảng viên mắc sai phạm, khuyết điểm, mặc dù đã được tổ chức kiên trì giáo dục, phê bình, góp ý, tạo điều kiện để sửa chữa khắc phục, nhưng họ vẫn không có chuyển biến, không tiến bộ. Ngày 14 – 6 – 1958, trong bài báo “Tự phê bình và phê bình” đăng trên Báo Nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết rất cụ thể: “Có một số ít người thì phê bình, giáo dục mấy cũng cứ ỳ ra, không chịu sửa đổi”. Quan điểm, thái độ của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất rõ ràng: phải xử lý nghiêm minh, kiên quyết đối với những đảng viên chây ỳ, không chịu sửa chữa, khắc phục đó. Người nhấn mạnh: đối với hạng người này, chúng ta cần phải nghiêm khắc, phải mời họ ra khỏi Đảng, để tránh “con sâu làm rầu nồi canh”. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, cảnh báo đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những người đã mắc sai phạm, khuyết điểm phải chủ động, tự giác sửa chữa, nếu không sẽ bị tổ chức xử lý, pháp luật trừng phạt. Ngay từ tháng 10 – 1945, Người đã nhấn mạnh: chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã nhận biết sai lầm thì phải ra sức sửa chữa và Người yêu cầu rất rõ ràng:  “Vậy nên, ai không phạm những lầm lỗi trên này, thì nên chú ý tránh đi, và gắng sức cho thêm tiến bộ. Ai đã phạm những lầm lỗi trên này, thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”. Ngày 30 – 10 – 1946, Người cũng từng phát biểu rất đanh thép tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khóa I: “Chính phủ đã hết sức làm gương và nếu làm gương không xong thì sẽ dùng pháp luật mà trị những kẻ ăn hối lộ. Đã trị, đang trị và sẽ trị cho kỳ hết”. Trên thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng, Nhà nước ta đã kiên quyết xử lý nghiêm khắc với hình phạt cao nhất dành cho hai cán bộ cao cấp vì những vi phạm pháp luật đặc biệt nghiêm trọng của họ.

Tư tưởng, việc làm kiên quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần để Đảng ta thêm vững mạnh, trong sạch và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. Trong suốt quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, nhất là trong thời kỳ đổi mới vừa qua, Đảng ta luôn duy trì và triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, thực hiện hài hòa mối quan hệ giáo dục, thuyết phục với xử phạt nghiêm khắc cho phù hợp với mức độ, hành vi sai phạm cũng như thái độ ăn năn, hối cải hay chây ỳ, ngoan cố của người vi phạm. Trong đó việc xử lý nghiêm minh, kiên quyết với những đảng viên chây ỳ, không chịu sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, sai phạm, được Đảng coi trọng, triển khai thực hiện bằng những chủ trương, biện pháp cách làm nghiêm túc, bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả, gắn chặt với cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đảng ta đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm, trong đó chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn. Nhiệm kỳ Đại hội XIII,  Đảng đã ban hành và thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương năm khóa XIII (tháng 6 – 2022) với quyết tâm: “Thường xuyên rà soát, sàng lọc, kiên quyết đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”.  Đảng cũng xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật đảng với kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với các hành vi tham nhũng, tiêu cực theo đúng nguyên tắc: tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, đã có dấu hiệu tội phạm phải khởi tố điều tra và đã kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử.

Trong nhiệm kỳ Đại hội Đảng XIII, Đảng ta đã làm rất nghiêm việc xử lý, kỷ luật cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm, vi phạm pháp luật. Cụ thể đã có hơn 73.000 đảng viên bị kỷ luật, trong đó có 174 cán bộ cấp Trung ương quản lý. Nhiều cán bộ, trong đó có cán bộ cao cấp bị xử lý nghiêm minh bằng pháp luật. Đồng thời, Đảng cũng chủ trương, triển khai thực hiện kịp thời biện pháp kết hợp chặt chẽ giữa việc cùng với xử lý nghiêm minh sai phạm phải kịp thời thay thế những cán bộ bị kỷ luật, năng lực hạn chế, uy tín thấp.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Đảng ta tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng. Chúng ta hãy cùng đoàn kết nhất trí, nỗ lực phấn đấu thực hiện đúng những nội dung mà Đảng ta và Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ : đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải làm thường xuyên, liên tục, không ngừng, không nghỉ, kiên quyết, kiên trì không có vùng cấm, không có ngoại lệ; xử lý một vụ việc để cảnh tỉnh cả một vùng, một lĩnh vực; không chỉ để trừng trị mà còn để giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung; kỷ luật của Đảng phải được thực hiện nghiêm minh, kịp thời, làm tiền đề cho xử lý theo pháp luật của Nhà nước. Chúng ta kiên quyết làm trong sạch đội ngũ cán bộ, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân, để Đảng vững mạnh về phẩm chất, năng lực, uy tín lãnh đạo cách mạng không ngừng phát triển xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, hùng cường, nhân dân Việt Nam hạnh phúc ấm no. 

Cảnh giác sự xuyên tạc hòng đánh đổ hình tượng Cụ Hồ

Tháng Ba 28, 2026

Bác Hồ

Đạt Nhân

Gần đây, trên trang mạng xã hội “Hồi ký thế kỷ”, đưa thông tin vô căn cứ về một số nhân vật không được ghi chép trong tài liệu chính thống, mà chỉ là do “thông tin truyền mồm”. Đáng lưu ý là một số thông tin nói về nhân vật Nông Thị Trưng, Nông Thị Xuân – Nguyễn Tất Trung. Đối với nhân vật Nông Thị Trưng, có thông tin ám chỉ là có mối liên hệ với Cụ Hồ trong những năm tiền khởi nghĩa. Đối với nhân vật Nông Thị Xuân thì có thông tin hướng chỉ đích danh người này đã có con trai (Nguyễn Tất Trung) trong thời gian làm người phục vụ cho Cụ Hồ. Độc địa nhất là trang tin này dẫn đồn đoán từ chỗ này chỗ kia, đặc biệt là từ cái mồm phản động Vũ Thư Hiên trốn chạy, đào tẩu qua Pháp quốc, Thụy Sĩ, rồi qua Hoa Kỳ dựng chuyện ác hiểm rằng Vũ Thư Hiên được cha đẻ (Vũ Đình Huỳnh, từng phục vụ Cụ Hồ cùng thời với Vũ Kỳ) lôi ra hiện trường vụ tai nạn giao thông đổ thừa có kẻ giết chết Nông Thị Xuân (mục đích bảo vệ hình tượng Hồ Chí Minh). Cuốn sách hồi ký tự bêu “Đêm giữa ban ngày” của Vũ Thư Hiên là một âm hồn ma quỉ ngậm máu phun người, khiến cho nhân gian bàn luận hàm hồ về chuyện đời tư Cụ Hồ, đồng thời cũng tạo cớ cho những kẻ chống cộng tìm cách phóng hỏa đốt chế độ.

Đã có nhiều ý kiến nói về việc này, song cho đến nay “Hồi ký thế kỷ” vẫn cứ ham trò bới móc mồ mả chính trị. Cái danh xưng “Hồi ký thế kỷ” tự cao ngạo cho rằng những thông tin từ đó phát ra mang “tầm thời đại”, bởi toàn đụng đến những vấn đề, sự kiện, nhân vật tầm vóc lịch sử ở thế kỷ XX. Song những lời bình luận và hình ảnh minh họa chỉ là mớ giấy lộn cậy nhờ vào công nghệ AI, được thu lượm bởi những kẻ chuyên làm nghề thu mua, nhặt nhạnh ve chai, rác rưởi chính trị, từ cái mồm hoặc trang viết chống cộng. Thế thì lấy đâu ra quang minh chính đại, làm gì có công tâm, khách quan, càng không thể có nhân tâm. Kèm theo đó là những kẻ vô văn hóa thả vài cái tim đen tán thưởng, nhiếc nhủa chế độ cộng sản, xúc phạm hình tượng Hồ Chí Minh, ném đá vào một số lãnh tụ cộng sản quốc tế. Điểm lại các vấn đề, sự kiện, nhân vật mà “Hồi ký thế kỷ” nhắm vào đều rất nhạy cảm chính trị. Trong đó, chĩa mũi dùi thông tin nhiều nhất là đối với Hồ Chí Minh – nhân vật tiêu biểu làm nên chân dung dân tộc Việt Nam ở thế kỷ XX.

Sống trên đời, người ta có thể vì đố kỵ, vì báo oán mà có thể làm điều tồi tệ; song đem chuyện đời tư người khác (ngụy tạo) để làm mồi đàm tiếu cho thiên hạ thì quả nhiên là vô đạo, trời không dung. Cuộc đời Cụ Hồ là một pho sử cao xanh dành trọn kiếp người cho Tổ quốc, Nhân dân, được thế giới tôn vinh, được đồng bào mình đời đời khắc ghi công ơn, đó là lẽ công bằng trời đất và cuộc sống nhân gian. Rất đáng tiếc là cuộc đời cách mạng của Cụ Hồ đã không để lại một khoảnh trời riêng tư; trong sử sách không có, trong hồi ký của những nhân vật sống cùng thời với Cụ Hồ cũng chả thấy nhắc đến. Nhưng đáng buồn và đáng lên án là từng có những người cố tìm cách đồn thổi về một bóng mờ tình riêng nào đó, không phải với động cơ chứng minh lịch sử rằng Cụ Hồ cũng là con người như bao con người đã sống là phải có đời tư tình cảm (có gia đình, có vợ con, có tài sản…), mà là với tâm địa hòng bôi đen hình ảnh lãnh tụ của Việt Nam. Có kẻ nói rằng, Cụ Hồ từng có mối tình với nhân vật Út Huệ trước ngày 5/6/1911; từng có bạn tình là người Trung Quốc trong thời gian hoạt động ở bên Tàu. Có kẻ dựng chuyện Cụ Hồ không phải là Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc, mà đó là một nhân vật đóng thế bởi chế độ Tưởng Giới Thạch. Có kẻ nói rằng xác ướp của Cụ Hồ trong Lăng hiện nay là giả. Có kẻ dám đem so kè Ngô Đình Diệm với Cụ Hồ xem ai thực sự là người yêu nước. Tất tần tật những trò lố bịch như vậy đều không thể bôi đen hình tượng Hồ Chí Minh trong con mắt bạn bè chân chính trên thế giới, chẳng làm thay đổi lòng tin của người dân yêu nước với lãnh tụ của mình.

Trong những tháng năm Hồ Chí Minh sống và lãnh đạo cách mạng từ nơi đầu nguồn Pác pó, vì bận trăm công nghìn việc với Đảng, với nước, với dân, nên Người không thể dành một chút riêng tư cho bản thân. Những trang tư liệu gốc được ghi chép bởi những nhân vật lịch sử cùng thời đó, được thẩm định bởi cơ quan chức năng tại địa phương Cao Bằng đã phản ánh cuộc sống bí mật, dân dã của một ông già bí ẩn hành tung, nhưng rất gần gũi và chân thành với người dân. Lòng dân yêu nước đã trở thành nơi bảo vệ bí mật, an toàn cho Hồ Chí Minh. Cách mạng và Hồ Chí Minh luôn là nhựa sống mới cho người dân yêu nước, trước hết là đối với người dân vùng căn cứ địa khởi nguồn truyền đi chủ trương, đường lối cứu nước đúng đắn. Tất cả mọi tâm tư tình cảm của Hồ Chí Minh đều hướng về giải phóng dân tộc, cứu đồng bào mình thoát khỏi kiếp đời nô lệ. Nhiều trang tư liệu gốc đã ghi lại việc ông già bí ẩn thường quan tâm chăm lo chỉ dạy cho người dân lao động sản xuất, gìn giữ vệ sinh; Người còn nhường cơm cho trẻ nhỏ, tắm rửa và lau chùi cho trẻ. Những đồn thổi về một vài mối quan hệ nào đó liên quan tới một vài nhân vật nào đó, khâu nối liên hệ tới mối quan hệ riêng tư với Hồ Chí Minh chắc chắn chỉ là trò bôi mỡ xúi kiến bâu vào.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ 2, Hồ Chí Minh từng bày tỏ niềm xúc động (cũng là nội tâm con người của vị lãnh tụ) đối với Bác sĩ Vũ Đình Tụng: “Ngài biết rằng tôi không có gia đình, cũng không có con cái. Nước Việt Nam là gia đình của tôi. Tất cả thanh niên Việt Nam là con cháu của tôi. Mất một thanh niên thì hình như tôi đứt một đoạn ruột… Họ chết cho Tổ quốc sống mãi; vật chất họ mất nhưng tinh thần họ vẫn luôn luôn sống với non sông Việt Nam”.

Hòa bình lập lại, Hồ Chí Minh cùng Đảng, Chính phủ trở về Thủ đô Hà Nội, cùng lúc phải lãnh đạo đất nước thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc. Người đã dành trọn tình thương yêu cho đồng bào miền Nam thành đồng Tổ quốc: “Ở miền Nam, mỗi người, mỗi gia đình đều có một nỗi đau khổ riêng. Gộp nỗi đau khổ riêng của mỗi người, mỗi gia đình lại thì thành nỗi đau khổ của tôi.”; “Một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết “Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ/Cho hôm nay và cho cả mai sau”. Hồ Chí Minh không có một khoảng mờ, khoảng tối nào trong suốt 30 năm hành trình tìm đường cứu nước; trong suốt thời gian ở núi rừng Việt Bắc; trong suốt thời gian sống tại Thủ đô Hà Nội cho tới khi ra đi vào cõi vĩnh hằng. Những sự thật lịch sử đều được minh chứng qua hàng ngàn tư liệu gốc được trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Cớ sao những kẻ độc địa lại đang tâm dựng chuyện. Ở đây không phải là bệnh vực cho Hồ Chí Minh, mà là bênh vực cho nhân tâm. Nếu ông Vũ Đình Huỳnh dựng chuyện nói với con trai Vũ Thư Hiên thì đó là một kẻ phản trắc, vì cuộc đời công tác của Vũ Đình Huỳnh luôn có cơ hội ở gần bên Cụ Hồ. Nếu như Vũ Đình Huỳnh ngụy tạo thông tin về chuyện bà Nông Thị Xuân “có con với Cụ Hồ rồi bị giết chết” thì phải “dựng quan tài lên mà kiểm điểm”. Còn giả dụ Vũ Đình Huỳnh không lôi Vũ Thư Hiên ra “hiện trường vụ tai nạn giao thông” để nói chuyện kia thì đích thực là do Vũ Thư Hiên khịa ra tình tiết “đắt giá” hòng đánh vào sự cả tin của những kẻ hồ đồ chính trị. Tội như thế rất đáng “lăng trì”. Sống trong thời đại văn minh, ăn đồ Tây, mặc đồ Tây, lẽ ra phải học được văn minh văn hóa biết tôn trọng quyền riêng tư và danh dự cá nhân. Lẽ ra, với tư cách nhà văn có tâm có đạo thì phải biết học lấy một cút cốt đạo của Nguyễn Đình Chiểu “Thà đui mà giữ đạo nhà/Còn hơn có mắt ông cha không thờ”. Đằng này Vũ Thư Hiên lại cam tâm bán lương tri cho quĩ dữ, quả là trời không dung đất không tha. Xem tội Lý Thông bị xử thế nào, xem tội của mẹ con nhà Cám bị xử ra sao…, quả báo đấy nha.

“Thế gian còn mặt mũi nào

Đã nhổ lại liếm làm sao thành người”.