Từ ngộ nhận về “thiên đường phát triển” đến vết nứt niềm tin

Thứ năm, 29/01/2026 - 06:16

 THẢO NGUYÊN

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và không gian số bùng nổ, việc so sánh mô hình phát triển giữa các quốc gia là nhu cầu tự nhiên. Tuy nhiên, khi những so sánh ấy bị giản lược, phiến diện, thậm chí bị dẫn dắt có chủ ý, chúng không còn là công cụ tham khảo khoa học mà trở thành “cái bẫy tư tưởng”, âm thầm khoét sâu vào nền tảng niềm tin chính trị. Thực tiễn cho thấy, không ít biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hiện nay bắt nguồn từ sự ngộ nhận, thần tượng hóa cái gọi là “thiên đường phát triển” ở bên ngoài, trong khi phủ nhận hoặc hoài nghi con đường phát triển mà Đảng, nhân dân ta đã lựa chọn.

Từ nhu cầu so sánh đến nguy cơ lệch chuẩn nhận thức

So sánh là một phương pháp phổ biến trong khoa học xã hội và quản lý phát triển. Đảng ta chưa bao giờ phủ nhận việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Ngược lại, nhiều văn kiện quan trọng khẳng định rõ yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi việc so sánh bị tách rời khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, văn hóa, trình độ phát triển, thậm chí bị giản lược thành những đối chiếu cảm tính: Nước này “giàu hơn”, xã hội kia “tự do hơn”, mô hình nọ “văn minh hơn”. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu cố tình tuyệt đối hóa ưu điểm, che giấu mâu thuẫn nội tại, khiếm khuyết xã hội của các quốc gia đó, từ đó gieo rắc tâm lý tự ti, hoài nghi, dao động trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Từ ngộ nhận về “thiên đường phát triển” đến vết nứt niềm tin
Quang cảnh Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Ảnh: baochinhphu.vn

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, từng nhấn mạnh: “So sánh phát triển nếu không đặt trong chỉnh thể lịch sử-văn hóa-thể chế sẽ rất dễ trở thành công cụ dẫn dắt nhận thức lệch lạc, nhất là trong môi trường truyền thông đa chiều hiện nay”.

Thực tế cho thấy, những biểu hiện “tự diễn biến” về tư tưởng không xuất hiện đột ngột, mà thường bắt đầu từ các vết nứt nhỏ trong nhận thức: Nghi ngờ mô hình phát triển, giảm sút niềm tin vào năng lực lãnh đạo, từ đó dần xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ: Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định đường lối đổi mới của Đảng; đồng thời chỉ ra nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Đặc biệt, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) nhấn mạnh yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trong đó cảnh báo rõ thủ đoạn lợi dụng so sánh mô hình phát triển, thể chế chính trị để gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động niềm tin. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) tiếp tục chỉ rõ: Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị ngày càng tinh vi, thường núp bóng dưới các luận điệu “khách quan”, “so sánh”, “tham khảo mô hình nước ngoài”... Đây là căn cứ lý luận-chính trị quan trọng để nhận diện đúng bản chất của những quan điểm thần tượng hóa cái gọi là "thiên đường phát triển".

“Thiên đường phát triển” - một khái niệm được tô vẽ có chủ ý

Không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị thường xuyên khai thác hình ảnh “thiên đường phát triển” ở một số quốc gia phương Tây hay khu vực khác. Đây là thủ pháp quen thuộc: Lấy một vài chỉ số kinh tế, phúc lợi xã hội hoặc quyền tự do cá nhân được phóng đại, tách khỏi những mặt trái như phân hóa giàu-nghèo, khủng hoảng nhập cư, bạo lực xã hội, bất ổn chính trị... để tạo ra một bức tranh lý tưởng hóa. Trong khi đó, những thành tựu phát triển to lớn, có ý nghĩa lịch sử của Việt Nam sau 40 năm đổi mới lại bị cố tình làm mờ, thậm chí xuyên tạc. Từ một nước nghèo, bị bao vây, cấm vận, Việt Nam đã bước vào nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình cao, kinh tế tăng trưởng thuộc nhóm cao của khu vực, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế và uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội phân tích: “Cái gọi là “thiên đường phát triển” thực chất chỉ tồn tại trong những lát cắt truyền thông có chọn lọc. Không có mô hình nào hoàn hảo, càng không có con đường phát triển chung cho mọi quốc gia. Nguy hiểm là ở chỗ người ta cố tình biến sự khác biệt thành cái cớ để phủ nhận con đường mà một dân tộc đã lựa chọn bằng lịch sử và hy sinh”.

Những luận điệu thần tượng hóa này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước bào mòn niềm tin, tạo ra tâm lý “so bì”, “đứng núi này trông núi nọ”, từ đó dẫn tới "tự diễn biến" trong tư duy chính trị.

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy, không ít biểu hiện dao động về nhận thức chính trị bắt nguồn từ việc tiếp nhận thông tin so sánh quốc tế một chiều, thiếu kiểm chứng, đặc biệt trên không gian mạng. Nhiều nội dung truyền thông cố tình lựa chọn các chỉ số bề nổi về thu nhập, phúc lợi, tự do cá nhân, trong khi né tránh hoặc làm mờ các vấn đề nội tại như phân hóa xã hội, bất ổn chính trị, suy giảm niềm tin công chúng tại chính những quốc gia được ca ngợi. Trong công tác xây dựng Đảng đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ trẻ bộc lộ tâm lý so bì, ngộ nhận, từ đó giảm sút ý chí phấn đấu, ngại va chạm, né tránh đấu tranh bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng. Đây không phải biểu hiện chống đối trực diện, nhưng là những “vết nứt âm thầm” trong niềm tin, nếu không được nhận diện và uốn nắn kịp thời sẽ tiềm ẩn nguy cơ "tự diễn biến" về tư tưởng. Ở chiều ngược lại, chính thực tiễn Việt Nam trong những giai đoạn khó khăn, thách thức lớn đã cho thấy tính đúng đắn của con đường phát triển mà Đảng ta lựa chọn, củng cố niềm tin xã hội và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống.

Một đặc điểm nguy hiểm của “tự diễn biến” hiện nay là tính âm thầm, mềm hóa, phi đối kháng trực diện. Không ít người vẫn khẳng định mình “không chống Đảng, không chống chế độ”, nhưng lại thường xuyên đặt câu hỏi theo hướng phủ định: Vì sao ta không đi theo con đường khác? Vì sao mô hình này không giống mô hình kia? Vì sao nước ngoài làm được mà ta không làm như họ?...

Những câu hỏi ấy nếu xuất phát từ tinh thần xây dựng, nghiên cứu khoa học thì là điều bình thường. Nhưng khi chúng được lặp đi lặp lại trong một hệ quy chiếu lệch chuẩn, thiếu nền tảng lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thiếu hiểu biết về thực tiễn Việt Nam thì rất dễ trở thành mầm mống của "tự diễn biến". Thực tiễn công tác xây dựng Đảng cho thấy, ở một số nơi, một số cán bộ, đảng viên dao động về nhận thức, giảm sút ý chí phấn đấu, ngại bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng, thậm chí né tránh đấu tranh phản bác quan điểm sai trái. Đây chính là hệ quả của quá trình bị tác động lâu dài bởi những so sánh lệch chuẩn và hình ảnh “thiên đường phát triển” được tô vẽ.

Đại tá, PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương nhận định: “Tự diễn biến" nguy hiểm nhất không phải ở lời nói công khai chống đối, mà ở sự thay đổi hệ giá trị bên trong con người. Khi niềm tin bị xói mòn, hành động lệch lạc chỉ còn là vấn đề thời gian”.

Thực tiễn thế giới: Không có mô hình phát triển “vạn năng”

Nhìn ra thế giới một cách khách quan sẽ thấy, nhiều quốc gia từng được coi là “hình mẫu phát triển” cũng đang đối mặt với khủng hoảng sâu sắc: Bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, phân hóa giàu-nghèo gia tăng, niềm tin của người dân vào thể chế suy giảm. Ngay trong lòng các nước phát triển, phong trào phản đối, chia rẽ xã hội, cực đoan hóa chính trị diễn ra ngày càng gay gắt. Trong khi đó, Việt Nam kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, lấy con người làm trung tâm, không đánh đổi tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Đó không phải là con đường dễ dàng, nhưng là con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.

 Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (1944-2024) nhiều lần nhấn mạnh: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình tìm tòi, vừa làm vừa tổng kết, không rập khuôn, không giáo điều, nhưng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đây chính là lời giải đáp thuyết phục nhất cho những luận điệu đòi “đổi hướng”, “đi theo mô hình khác” một cách giản đơn.

GS, TS Tạ Ngọc Tấn, Phó chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng: “Không có mô hình phát triển nào mang tính khuôn mẫu cho mọi quốc gia. Việc so sánh nếu thiếu nền tảng lý luận và hệ quy chiếu khoa học rất dễ dẫn tới ngộ nhận, từ đó làm suy giảm niềm tin chính trị và nảy sinh biểu hiện "tự diễn biến" về tư tưởng”.

TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cũng nhấn mạnh: “Hội nhập quốc tế không đồng nghĩa với sao chép mô hình. Mỗi con đường phát triển phải xuất phát từ điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế cụ thể của từng quốc gia”.

Nhận diện và hóa giải “ảo ảnh thiên đường phát triển”

Để ngăn chặn nguy cơ "tự diễn biến" từ những ngộ nhận về mô hình phát triển, trước hết cần nâng cao năng lực nhận diện trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. So sánh phải dựa trên cơ sở khoa học, toàn diện, đặt trong bối cảnh cụ thể, tuyệt đối tránh tâm lý sùng bái hay phủ định sạch trơn. Bên cạnh đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần tiếp tục được đổi mới theo hướng gắn lý luận với thực tiễn sinh động của đất nước, giúp người học thấy rõ vì sao con đường Đảng và nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn, phù hợp và có tính tất yếu lịch sử. Quan trọng hơn, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự xây dựng cho mình “sức đề kháng tư tưởng”, không dao động trước những luận điệu hào nhoáng, không để những so sánh phiến diện dẫn dắt nhận thức và hành động.

Niềm tin chính trị không phải là khái niệm trừu tượng, mà được xây dựng từ thực tiễn phát triển đất nước, từ sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, từ hiệu quả quản trị quốc gia. Đấu tranh với quan điểm thần tượng hóa “thiên đường phát triển” cũng chính là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ con đường phát triển mà dân tộc Việt Nam đã lựa chọn bằng mồ hôi, xương máu và trí tuệ.

Trong bối cảnh mới, khi thông tin đa chiều vừa là cơ hội vừa là thách thức, việc giữ vững niềm tin càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị, sự tỉnh táo và trách nhiệm xã hội của mỗi người. Nhận diện đúng “ảo ảnh”, bóc tách những so sánh lệch chuẩn chính là cách để vá lại những “vết nứt âm thầm”, củng cố nền tảng tinh thần vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có “thiên đường phát triển” nào được sao chép nguyên xi, chỉ có con đường phù hợp nhất với mỗi dân tộc. Với Việt Nam, đó là con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã, đang và sẽ kiên định lựa chọn.

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Mượn danh dân chủ - những âm mưu thỏa hiệp thời hiện đại

Thứ hai, 26/01/2026 - 05:53

CHU HOÀNG HẢI - LÊ HẢI NINH, Khoa Tâm lý học Quân sự, Học viện Chính trị

Trong bối cảnh thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược gia tăng, không gian thông tin mở rộng chưa từng có, vấn đề dân chủ tiếp tục bị một số thế lực chính trị hóa, công cụ hóa nhằm phục vụ mưu đồ gây sức ép, can thiệp và chuyển hóa thể chế. Đáng chú ý, các thủ đoạn ấy không còn thô sơ, đối đầu trực diện như trước mà được “mềm hóa” bằng những lời lẽ mị dân, những chiến dịch truyền thông tinh vi và các hình thức thỏa hiệp kiểu mới. Mượn danh dân chủ để áp đặt giá trị, tạo cớ can thiệp, kích động bất ổn-đó là bản chất của nhiều luận điệu thời sự đang được tán phát với tần suất dày đặc.

Bản chất của chiêu bài “dân chủ” giả hiệu

Nhìn sâu vào bản chất, chiêu bài “dân chủ” giả hiệu không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những khẩu hiệu mang tính đánh tráo khái niệm mà còn thể hiện ở cách thức vận hành linh hoạt, thích nghi với từng giai đoạn và từng không gian xã hội. Khi những luận điệu công khai, trực diện dần bộc lộ sự khiên cưỡng và mất sức thuyết phục, các thế lực thù địch nhanh chóng chuyển sang phương thức tinh vi hơn: Biến dân chủ thành một quá trình thỏa hiệp về nhận thức, chứ không còn là yêu sách chính trị lộ liễu.

Trong bối cảnh hiện nay, bản chất của “dân chủ” giả hiệu là không yêu cầu sự thay đổi đột ngột, mà từng bước làm “mềm hóa” nền tảng tư tưởng. Họ không đòi phủ nhận ngay vai trò lãnh đạo của Đảng, mà gieo rắc quan điểm cho rằng cần “điều chỉnh”, “cân bằng”, “chia sẻ quyền lực” như một xu thế tất yếu của thời đại. Dân chủ, theo cách diễn giải này, bị biến thành cái cớ để hợp thức hóa sự nhượng bộ về nguyên tắc.

Đáng chú ý, chiêu bài này thường được triển khai bằng ngôn ngữ trung tính, học thuật hoặc mang màu sắc cải cách, tránh đối đầu trực diện. Những khái niệm như “cải cách thể chế”, “chuẩn mực quốc tế”, “quản trị hiện đại”, “xã hội dân sự” được sử dụng như những lớp đệm ngôn từ, che giấu mục tiêu cốt lõi là làm suy yếu niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng và tính chính danh của chế độ. Khi khái niệm dân chủ bị tách khỏi nền tảng lịch sử-cách mạng và điều kiện cụ thể của đất nước, nó dễ dàng bị dẫn dắt theo quỹ đạo áp đặt.

Làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”: Mượn danh dân chủ - những âm mưu thỏa hiệp thời hiện đại
Các chương trình nghệ thuật tại buổi sơ duyệt cấp nhà nước Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 – 30-4-2025). Ảnh minh họa: SGGP.org.vn 

 

Bản chất nguy hiểm của “dân chủ” giả hiệu còn thể hiện ở việc tạo ra tâm lý dung hòa và thỏa hiệp trong xã hội. Thay vì kích động phản kháng quyết liệt, họ khuyến khích thái độ “đứng giữa”, “nghe cả hai phía”, “không cực đoan”, từ đó làm mờ ranh giới giữa đúng và sai, giữa xây dựng và phá hoại. Khi sự kiên định về lập trường bị coi là bảo thủ, còn thỏa hiệp về nguyên tắc được ngụy trang thành cởi mở, thì dân chủ đã bị bóp méo ngay từ trong nhận thức.

Cần thấy rõ rằng, “dân chủ” giả hiệu không nhằm mục tiêu trao quyền thực chất cho nhân dân, mà hướng đến tái cấu trúc quyền lực theo lợi ích của các thế lực bên ngoài. Mọi lời kêu gọi dân chủ nếu đi kèm điều kiện từ bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chấp nhận mô hình ngoại lai, hoặc đánh đổi ổn định chính trị đều không phải là dân chủ, mà là sự áp đặt được bọc trong vỏ ngôn từ mềm mại.

Chính vì vậy, khi chiêu bài “dân chủ” giả hiệu ngày càng được triển khai bằng các hình thức tinh vi, đặc biệt trong không gian số, việc nhận diện bản chất của nó không thể dừng ở nội dung khẩu hiệu, mà phải đi sâu vào cách thức thẩm thấu, cách tạo ra sự thỏa hiệp âm thầm trong tư tưởng. Từ đây, vấn đề đặt ra không chỉ là phản bác luận điệu, mà là bóc tách những hình thái thỏa hiệp mới đang được che giấu dưới danh nghĩa dân chủ trong thời đại số.

Những hình thái thỏa hiệp tinh vi trong thời đại số

Trong thời đại số, khi không gian mạng trở thành môi trường tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội, các thế lực thù địch không còn sử dụng những luận điệu công kích thô ráp, đối đầu trực diện. Thay vào đó, chúng triển khai các hình thái thỏa hiệp tinh vi, mềm hóa nội dung chống phá bằng ngôn ngữ “trung tính”, “khoa học”, “khai phóng”, nhằm từng bước làm xói mòn nền tảng tư tưởng từ bên trong.

Một hình thái phổ biến là thỏa hiệp trong nhận thức về mô hình dân chủ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa bị cố tình đặt ngang hàng với các mô hình dân chủ tư sản, rồi từ đó gieo rắc quan điểm rằng “không có con đường nào là duy nhất”, “mọi mô hình đều cần pha trộn”. Nghe có vẻ khách quan, nhưng thực chất là phủ nhận tính tất yếu lịch sử của con đường mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn, từng bước làm mờ vai trò lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị.

Tinh vi hơn, các đối tượng chống phá lợi dụng không gian học thuật và diễn đàn chính sách để thúc đẩy sự thỏa hiệp về tư tưởng. Dưới danh nghĩa nghiên cứu, phản biện, cải cách thể chế, họ lồng ghép những luận điểm đòi “giảm vai trò chính trị của Đảng”, “phi chính trị hóa bộ máy nhà nước”, “trao quyền cho xã hội dân sự độc lập”. Những khái niệm này được trình bày như giải pháp kỹ thuật, nhưng bản chất là từng bước thay đổi nền tảng quyền lực chính trị.

Trên không gian mạng, thỏa hiệp được ngụy trang bằng cảm xúc và đạo đức. Các câu chuyện cá nhân, vụ việc đơn lẻ được khai thác có chủ ý để tạo cảm giác rằng “dân chủ đang bị hạn chế”, “nhân quyền chưa được tôn trọng”. Từ đó, người tiếp nhận thông tin dễ bị dẫn dắt vào tâm lý hoài nghi, dao động, chấp nhận những đòi hỏi thay đổi thể chế như một lối thoát “nhân văn” và “tiến bộ”.

Một hình thái nguy hiểm khác là thỏa hiệp thông qua việc đánh tráo khái niệm tự do ngôn luận. Tự do được tuyệt đối hóa, tách rời khỏi khuôn khổ pháp luật và lợi ích quốc gia-dân tộc. Mọi sự quản lý thông tin đều bị gán ghép thành “đàn áp”, “bịt miệng”. Khi quan niệm này lan rộng, xã hội dễ chấp nhận việc dung túng cho tin giả, tin xấu, quan điểm cực đoan, từ đó làm suy yếu kỷ cương và niềm tin xã hội.

Đáng chú ý, các thế lực thù địch còn thúc đẩy thỏa hiệp bằng sự mệt mỏi tư tưởng. Chúng gieo rắc tâm lý rằng các vấn đề chính trị là “xa vời”, “không cần thiết quan tâm”, rằng ổn định hay chế độ nào cũng như nhau. Sự thờ ơ ấy chính là mảnh đất màu mỡ để các luận điệu sai trái âm thầm thẩm thấu, khiến một bộ phận xã hội dần xa rời lý tưởng, mất cảnh giác trước âm mưu chống phá.

Tất cả những hình thái thỏa hiệp này đều có điểm chung: Không phủ nhận trực diện mà làm loãng, làm mờ, làm suy yếu niềm tin. Nếu không được nhận diện và đấu tranh kịp thời, sự thỏa hiệp tư tưởng sẽ từng bước chuyển hóa thành thỏa hiệp chính trị, gây hệ lụy lâu dài đối với sự ổn định và phát triển của đất nước.

Chủ động đấu tranh, phản bác và dẫn dắt dư luận trong không gian số

Trước những hình thái thỏa hiệp tinh vi được triển khai ngày càng sâu rộng trong không gian số, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể dừng lại ở việc nhận diện hay cảnh báo, mà phải được nâng lên thành một chiến lược chủ động, toàn diện và lâu dài. Trọng tâm của cuộc đấu tranh hiện nay không chỉ là “chống”, mà là chủ động chiếm lĩnh trận địa tư tưởng, dẫn dắt nhận thức và củng cố niềm tin xã hội.

Trước hết, cần kiên quyết giữ vững nguyên tắc tư tưởng, coi đây là “lằn ranh đỏ” không thể thỏa hiệp. Mọi biểu hiện nhân danh dân chủ để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức học thuật hay cải cách nào, đều phải được nhận diện và phản bác kịp thời. Kiên định không đồng nghĩa với giáo điều, nhưng linh hoạt tuyệt đối không được đánh đổi bằng việc nhượng bộ về nền tảng.

Cùng với đó, đấu tranh trong không gian số đòi hỏi chuyển từ thế bị động sang thế chủ động về thông tin. Không thể chỉ phản ứng khi luận điệu sai trái đã lan rộng, mà phải chủ động cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có sức thuyết phục. Lấy cái đúng để đẩy lùi cái sai, lấy thực tiễn sinh động để bác bỏ những khái niệm trừu tượng, phiến diện. Thực tiễn phát triển của đất nước, đời sống ngày càng được nâng cao của nhân dân chính là luận cứ mạnh mẽ nhất chống lại mọi sự xuyên tạc.

Một giải pháp có ý nghĩa quyết định là nâng cao “sức đề kháng tư tưởng” cho xã hội, đặc biệt là trên môi trường số. Điều này đòi hỏi đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng hiện đại, dễ tiếp cận, phù hợp với từng nhóm đối tượng. Không áp đặt, không sáo mòn, mà trang bị cho người dân-nhất là thế hệ trẻ-khả năng phân tích, phản biện, nhận diện đúng-sai trong “biển thông tin” đa chiều. Khi người dân có bản lĩnh và tri thức, các luận điệu mị dân sẽ khó có chỗ đứng.

Đồng thời, cần phát huy vai trò của lực lượng nòng cốt trên không gian mạng. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhà báo, nhà nghiên cứu, người có ảnh hưởng xã hội phải thực sự trở thành “chiến sĩ tư tưởng” trong thời đại số. Không né tránh tranh luận, không im lặng trước cái sai, nhưng cũng không cực đoan, cảm tính. Phản bác phải sắc bén, có lý lẽ, có căn cứ khoa học và thực tiễn, thể hiện bản lĩnh chính trị và văn hóa tranh luận lành mạnh.

Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức truyền thông chính thống là yêu cầu cấp thiết. Nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng không thể chỉ dừng ở thông báo, tuyên truyền một chiều, mà cần được thể hiện sinh động, gần gũi, phù hợp với logic tiếp nhận của công chúng số. Khi thông tin chính thống chậm, khô cứng, thiếu hấp dẫn, thì khoảng trống ấy sẽ nhanh chóng bị các luồng thông tin sai trái chiếm lĩnh.

Đấu tranh trong không gian số cũng phải gắn liền với hoàn thiện thể chế, pháp luật và kỷ cương thông tin. Tự do ngôn luận không đồng nghĩa với tự do xuyên tạc, bôi nhọ, kích động chống phá. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng là cần thiết để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, đồng thời khẳng định rằng dân chủ phải đi đôi với trách nhiệm và thượng tôn pháp luật.

Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng, dẫn dắt dư luận hiệu quả nhất chính là bằng thực tiễn tốt. Khi dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được mở rộng, khi quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được bảo đảm ngày càng đầy đủ, khi đất nước phát triển ổn định, bền vững, thì mọi chiêu bài “dân chủ” giả hiệu, mọi lời mời gọi thỏa hiệp đều tự mất sức thuyết phục.

Trong kỷ nguyên số, cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra âm thầm nhưng quyết liệt. Chỉ khi giữ vững bản lĩnh, kiên định nguyên tắc, chủ động thông tin và dẫn dắt nhận thức xã hội, chúng ta mới có thể làm chủ không gian số, biến thách thức thành cơ hội và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trước mọi âm mưu núp bóng dân chủ trong thời đại mới.

Âm mưu “mượn danh dân chủ” để thực hiện các cuộc “thỏa hiệp” từng bước là một thách thức lớn trong giai đoạn hiện nay. Nó đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn tỉnh táo, sáng suốt, nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lý luận. Chỉ có đứng vững trên nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng, chúng ta mới có thể nhận diện đúng, đấu tranh hiệu quả, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng và đưa đất nước phát triển vững mạnh. 

Đại hội XIV của Đảng thành công - minh chứng thuyết phục bác bỏ luận điệu sai trái, xuyên tạc

Thứ Hai, 26/01/2026, 17:18

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng đã thành công tốt đẹp và bế mạc trong không khí trang trọng, trách nhiệm, tràn đầy niềm tin. Đại hội không chỉ khép lại một nhiệm kỳ với nhiều dấu ấn nổi bật mà còn mở ra một kỷ nguyên phát triển mới của đất nước – kỷ nguyên vươn lên mạnh mẽ và quyết tâm nâng cao năng lực quản trị quốc gia, nâng cao hình ảnh, vị thế Việt Nam trong thời đại mới. Thành công rực rỡ đó là minh chứng sinh động phản bác các luận điệu sai trái, chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Lật tẩy âm mưu, chiến dịch tuyên truyền chống phá

Thực tiễn cho thấy, mỗi khi Đảng ta tiến hành các kỳ đại hội các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc thì các thế lực thù địch, phản động lại gia tăng các hoạt động xuyên tạc, phá hoại. Đối với Đại hội XIV của Đảng, mức độ và tính chất của các hoạt động chống phá có chiều hướng phức tạp hơn, đặc biệt là trên không gian mạng.

Dưới những vỏ bọc như: “phản biện xã hội”, “góp ý xây dựng”, “lo cho tương lai đất nước”…, nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo bản chất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, xuyên tạc rằng đường lối phát triển đất nước “thiếu thực tế”, “lệch hướng”, hoặc “không theo kịp thời đại”. Mục tiêu của các thế lực thù địch là làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động tâm lý nghi ngờ trong nội bộ, gây chia rẽ giữa Đảng với nhân dân. Một khi niềm tin bị xói mòn, sự đồng thuận xã hội bị phá vỡ thì đó chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực chống phá thúc đẩy những kịch bản chính trị nguy hiểm như đã từng diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, được gọi là “cách mạng màu”. Từ mục tiêu trên, thời gian qua chúng ta có thể thấy các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong tập trung vào những vấn đề sau:

Một là, để hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch tập trung tuyên truyền, xuyên tạc thành tựu, ý nghĩa của công cuộc đổi mới đất nước sau 40 năm. Đồng thời, chúng tập trung khoét sâu, thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và rêu rao rằng, sau 40 năm đổi mới, đất nước vẫn nghèo nàn, lạc hậu, nhân dân “vẫn phải sống trong cảnh bần cùng”, “văn hóa, xã hội xuống cấp, đạo đức suy đồi”... Thông qua các so sánh phiến diện, thiếu cơ sở khoa học, những luận điệu này nhằm gieo rắc tâm lý bi quan, hoài nghi về triển vọng phát triển của đất nước.

Hai là, chúng xuyên tạc, phủ nhận nội dung các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm vóc của đại hội, hạ bệ vị thế của Đảng. Khi văn kiện nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, chúng cố tình quy chụp rằng Đảng “thừa nhận thất bại của đường lối cũ” hoặc “lúng túng, bế tắc trong phát triển”, trong khi đây thực chất là sự kế thừa, bổ sung và phát triển tư duy nhằm thích ứng với tình hình mới. Nguy hiểm hơn, một số luận điệu còn bóp méo các mục tiêu phát triển dài hạn, so sánh phiến diện giữa mục tiêu chiến lược và kết quả ngắn hạn để kết luận rằng văn kiện chỉ mang tính “khẩu hiệu”, “thiếu khả thi”, qua đó gieo rắc tâm lý hoài nghi trong xã hội.

Ba là, các thế lực thù địch, phản động chỉa mũi nhọn vào công tác nhân sự đại hội, chúng cố tình tung ra các thông tin thất thiệt kiểu như “rò rỉ danh sách nhân sự”, “nguồn tin nội bộ”, “hậu trường đại hội”, “lộ diện tứ trụ”… với những lời lẽ úp mở, giật gân. Những thông tin này thường được gắn với các bình luận mang tính suy diễn, quy chụp, cho rằng công tác nhân sự là kết quả của “đấu đá phe phái”, “chia ghế, chia quyền”, “áp đặt”… Từ đó, chúng quy chụp công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng “chỉ làm màu”, “áp đặt từ trước”, “việc bầu cử tại đại hội chỉ là dân chủ hình thức”, “tước bỏ quyền tự do, dân chủ của các đại biểu dự Đại hội XIV trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử”...

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc nói trên tuy không mới nhưng được nhào nặn tinh vi, xảo quyệt, được thực hiện bằng một chiến dịch tuyên truyền tràn ngập trên các nền tảng mạng xã hội, làm phân tán lòng người, suy giảm niềm tin của nhân dân vào thời điểm toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta và bè bạn quốc tế đang hướng về Đại hội XIV của Đảng.

Thành công Đại hội và sự ghi nhận của quốc tế, sự đồng lòng của nhân dân

Những ngày qua, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia (Hà Nội), Đại hội XIV của Đảng được tổ chức trang trọng với tinh thần dân chủ, đoàn kết, đổi mới, tràn đầy niềm tin và sự kỳ vọng lớn lao. 1.586 đại biểu bằng tâm sức và trách nhiệm trước Đảng, trước dân đã phát huy trí tuệ, đề cao trách nhiệm, đóng góp vào thành công của đại hội. Sau 5 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, khoa học với phương châm "Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển" và ý thức trách nhiệm cao trước Đảng, nhân dân và đất nước, Đại hội đã diễn ra thành công rất tốt đẹp và bế mạc vào chiều 23/1, đánh dấu một mốc son mới trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và lịch sử hào hùng của dân tộc.

Trong bối cảnh thế giới biến động, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, Đại hội XIV thể hiện rõ bản lĩnh cầm quyền vững vàng của Đảng: Không dao động trước biến động, không né tránh khó khăn, không thỏa hiệp với những lực cản của sự phát triển. Đại hội nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình đất nước, chỉ rõ cả thành tựu và hạn chế, từ đó hoạch định con đường phát triển của đất nước bằng tư duy tỉnh táo, tinh thần trách nhiệm cao và tầm nhìn cho một kỷ nguyên mới.

Đại hội thành công khi mọi công tác, nhiệm vụ được tiến hành chặt chẽ, chu đáo với tinh thần đổi mới. Các đại biểu cũng như cán bộ, đảng viên và nhân dân cả nước bày tỏ phấn khởi khi văn kiện đại hội được chuẩn bị công phu, có gần 14 triệu ý kiến tham gia, khẳng định sự đồng thuận rất cao giữa ý Đảng và lòng dân. Bước cải cách quan trọng trong chuẩn bị văn kiện đại hội đó là tích hợp 3 báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng) thành một Báo cáo chính trị thống nhất và đồng bộ. Đặc biệt, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV là đột phá so với các đại hội trước đây, đã chỉ rõ những nhiệm vụ, đề án, công trình, dự án quan trọng, có tính chiến lược trong giai đoạn 2026-2030, phân công trách nhiệm cụ thể, rõ nguồn lực, tiến độ, các điều kiện cần thiết để thực hiện. Đây là căn cứ quan trọng để các cấp, các ngành triển khai thực hiện ngay với phương châm: Phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc; lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá.

Thành công của Đại hội không chỉ là niềm tự hào, sự tiếp nối xứng đáng truyền thống vẻ vang của Đảng, củng cố niềm tin vào con đường mà dân tộc đã lựa chọn mà còn thu hút sự sự quan tâm của bè bạn quốc tế cũng như của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Từ phiên khai mạc đến nay, Đại hội đã nhận được tổng số 898 thư, điện mừng, thông điệp từ 167 chính đảng, 17 tổ chức quốc tế, 78 cá nhân, 242 tổ chức chính trị, tổ chức hữu nghị, tổ chức nhân dân và địa phương nước ngoài và 394 hội, đoàn người Việt Nam ở nước ngoài. Các thư, điện mừng thể hiện sự quan tâm sâu sắc và tình cảm nồng ấm đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; đánh giá tích cực, toàn diện, thể hiện mức độ ủng hộ chính trị ngày càng cao đối với vai trò lãnh đạo của Đảng ta và định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đại hội nhận được sự quan tâm sâu rộng của truyền thông quốc tế. Các hãng thông tấn, báo chí lớn trên thế giới dành dung lượng đáng kể để đăng tải, cập nhật những thông tin nhanh, chính xác và chính thống nhất, do vậy nhân dân ở trong và ngoài nước cũng như bè bạn quốc tế có thể nắm bắt các hoạt động của Đại hội. Buổi khai mạc, bế mạc Đại hội được tường thuật trực tiếp đã mang lại cảm xúc đặc biệt trong lòng người dân Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngoài nước, cho thấy Đảng ta tạo mọi điều kiện tốt nhất để người dân cũng như bạn bè quốc tế nắm bắt rõ về chính sách, chiến lược của Đảng. Tại phiên bế mạc Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cả nước, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý thức trách nhiệm công dân, khát vọng phát triển; mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân hãy bắt đầu bằng những công việc cụ thể nhất, góp phần đưa đất nước ta mỗi ngày một phát triển; nhân dân ta mỗi ngày một ấm no, hạnh phúc; Việt Nam ta mỗi ngày một lớn mạnh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ hằng mong muốn.

Đại hội Đảng XIV đã thành công tốt đẹp, từ dấu mốc lịch sử này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế chủ động, tự tin và trách nhiệm. Ý Đảng hòa quyện với lòng dân tạo thành sức mạnh to lớn, biến những quyết tâm chính trị thành hành động cụ thể, thiết thực và hiệu quả. Với niềm tin mới và khí thế mới, các tầng lớp nhân dân trên mọi miền Tổ quốc bày tỏ niềm tin vào kết quả Đại hội cũng như quyết tâm đồng hành cùng Đảng, Nhà nước, biến Nghị quyết Đại hội thành động lực hành động, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên mới. Thực tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ các thông tin sai trái, các luận điệu quy chụp, phủ nhận thành tựu trên các lĩnh vực, làm thất bại ý đồ chính trị hòng hạ thấp hình ảnh, uy tín, danh dự đất nước và con người Việt Nam, chia rẽ đại đoàn kết toàn dân tộc.

Liêm Chính - Bình Nguyên 

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo

Chủ Nhật, 25/01/2026, 07:04

Ngày 22/8/2025, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo (Nghị quyết 71-NQ/TW); Nghị quyết này là cột mốc chiến lược, tạo đột phá về tư duy và thể chế cho giáo dục Việt Nam.

Đây là Nghị quyết tiếp nối và bổ sung mạnh mẽ cho 04 Nghị quyết đột phá là “Bộ tứ trụ cột”, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, mũi đột phá để hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm nhằm xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.  

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc Nghị quyết về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo -0
Nghị quyết 71 được kỳ vọng sẽ tạo sự phát triển đột phá cho giáo dục đào tạo. Ảnh: TTXVN

Thế nhưng, các thế lực thù địch đã lập tức xuyên tạc chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo. Chúng cho rằng: "Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng"; “Giáo dục chạy theo thành tích, bỏ quên đạo đức”, “chưa giải quyết những vấn đề còn tồn đọng là học phí tăng, phân biệt đối xử, bạo lực học đường”… 

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta đang diễn ra trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế diễn ra toàn diện và sâu rộng trên toàn cầu; đòi hỏi đất nước phải phát triển nhanh và bền vững nhằm thực hiện hai mục tiêu chiến lược 100 năm mà Đảng ta đã đặt ra. Trong bối cảnh đó, đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ nhân tài đã trở thành yêu cầu tất yếu, cấp bách, khách quan.

Thời gian qua, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển giáo dục, đào tạo; tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan, việc triển khai thực hiện trong thực tế gặp nhiều vướng mắc, cần điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh mới. Từ tình hình trên, Bộ Chính trị, Ban Bí thư mà trực tiếp là Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo tập trung xây dựng và ban hành Nghị quyết số 71-NQ/TW, trong đó đề ra những chủ trương, quyết sách mạnh mẽ hơn để khai thông điểm nghẽn, tạo đột phá phát triển, hiện đại hóa, chấn hưng nền giáo dục nước nhà, hướng tới thực hiện thành công 2 mục tiêu chiến lược 100 năm.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế tri thức, khoa học công nghệ và chuyển đổi số phát triển mạnh mẽ, với mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước công nghiệp hiện đại, đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; giáo dục và đào tạo càng phải giữ vững vị trí quốc sách hàng đầu, trở thành động lực then chốt để phát triển đất nước, Nghị quyết 71-NQ/TW ra đời đã kế thừa Nghị quyết 29-NQ/TW, ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế và Kết luận 91-KL/TW của Bộ Chính trị tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW; là cơ sở pháp lý để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong giáo dục và đào tạo; thể hiện đột phá về tư duy, nhận thức và quyết tâm, quyết liệt thay đổi mạnh mẽ thể chế trong lĩnh vực này ở nước ta. 

So với Nghị quyết 29-NQ/TW, Nghị quyết 71-NQ/TW chuyển trọng tâm từ “đổi mới căn bản, toàn diện” sang “đột phá chiến lược” trong giáo dục. Tinh thần này thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng ta, đó là coi giáo dục và đào tạo là trọng tâm của Chiến lược phát triển quốc gia trong thời kỳ Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập sâu rộng. Nghị quyết 71-NQ/TW mở rộng không gian phát triển giáo dục ra ngoài phạm vi nhà trường, kết nối chặt chẽ với khoa học, công nghệ, kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

Điểm mới trong Nghị quyết là sự cân bằng giữa giáo dục đại chúng và giáo dục tinh hoa, nhấn mạnh giáo dục toàn diện: đức - trí - thể - mỹ; lấy giá trị con người làm nền tảng. Thành tích chỉ là thước đo một phần, điều cốt yếu là đào tạo những công dân có tài và có đức. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng: Giáo dục vừa phải bảo đảm công bằng xã hội, vừa tạo môi trường cho những cá nhân tài năng phát triển. Đổi mới thể chế với tư duy theo hướng thay vì quản lý, phải kiến tạo, với những cơ chế chính sách đặc thù, vượt trội để các nhà trường, các cơ sở giáo dục và đào tạo thu hút được mọi nguồn lực cho sự phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo và sự tăng trưởng của nhà trường, hội nhập với trình độ và chuẩn mực quốc tế. 

Nghị quyết 71-NQ/TW là văn bản mang tính định hướng, tạo vận hội lịch sử cho giáo dục Việt Nam, đã khẳng định bảo đảm quyền tự chủ đầy đủ và toàn diện cho các cơ sở giáo dục đại học, không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Đó cũng là mong mỏi của các cơ sở giáo dục đại học. Nghị quyết cũng thay đổi căn bản tư duy đầu tư tài chính cho giáo dục đại học tới tầm và vượt trội; thiết thực chăm lo cho đội ngũ giảng viên và hỗ trợ tài chính và tạo cơ hội học tập cho mọi người chứ không phải là: "Việc tự chủ đại học ở Việt Nam đặt dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước đã ảnh hưởng đến giáo dục đa nguyên, tự do, khai phóng" như kẻ địch đã rêu rao.

Điểm nhấn khác biệt từ Nghị quyết 71-NQ/TW là chính sách ưu đãi đặc thù, vượt trội cho đội ngũ nhà giáo; nâng phụ cấp ưu đãi nghề đối với cơ sở giáo dục mầm non và phổ thông lên tối thiểu 70% cho giáo viên, tối thiểu 30% cho nhân viên, 100% cho giáo viên ở khu vực đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là minh chứng rõ ràng rằng Nghị quyết không chỉ hướng đến “đỉnh cao” hội nhập, mà còn chăm lo cho giáo dục từ gốc rễ, bảo đảm công bằng và khích lệ đội ngũ nhà giáo. Nghị quyết quy định chi ngân sách cho giáo dục đạt tối thiểu 20% tổng chi ngân sách Nhà nước, có cơ chế học bổng, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ học sinh nghèo, đây là sự bảo đảm công bằng trên hành trình tiếp nhận tri thức.  

Có thể khẳng định, Nghị quyết 71-NQ/TW đã trở thành "khoán 10" trong ngành Giáo dục, đem lại những phát triển mạnh mẽ và đột phá cho nền giáo dục đào tạo của nước ta, là cơ sở hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam có hệ thống giáo dục quốc dân hiện đại đứng vào nhóm 20 quốc gia hàng đầu thế giới, thể hiện tư duy chiến lược và khát vọng phát triển giáo dục nước ta lên một tầm cao mới.  

Những thành tựu giáo dục, đào tạo của đất nước trong những năm qua là không thể phủ nhận. Và Nghị quyết 71-NQ/TW sẽ mở ra giai đoạn mới, nâng tầm, nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục đào tạo, để phục vụ hiệu quả sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Thực tế đó bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc cũ rích, “cố đấm ăn xôi” và “thọc gậy bánh xe” của các thế lực thù địch chống phá con đường phát triển của Việt Nam.

Hoàng Tân Long

 

Minh chứng phản bác luận điệu xuyên tạc, công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng

Thứ Năm, 22/01/2026, 06:15

Trước khi diễn ra Đại hội XIV của Đảng, trên một số trang mạng xã hội của tổ chức, cá nhân chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn đưa ra những bài viết chế giễu rằng, văn kiện Đại hội “có gì mà đọc”, “chưa đọc đã biết”, “bổn cũ soạn lại”…

Họ cho rằng, việc soạn thảo văn kiện của Đảng người dân không quan tâm, không để ý vì “không có gì mới”, “không phù hợp với xu thế thời đại”, “thiếu tầm nhìn”, “giáo điều, bảo thủ”, “lỗi nhịp thời đại”; đồng thời chỉ trích việc soạn thảo văn kiện dài dòng, thiếu ý tưởng, chỉ là sự lặp lại các nội dung của văn kiện trước đây…

Minh chứng phản bác luận điệu xuyên tạc, công kích dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng -0
Ảnh minh hoạ: Nhân Dân

Một số bài viết tiếp tục phủ nhận nền tảng tư tưởng và con đường phát triển của Việt Nam. Họ công kích việc văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng, quy kết “bảo thủ, giáo điều”, “bám víu vào học thuyết đã lỗi thời”.

Bất chấp những thành tựu vượt bậc trong công cuộc đổi mới, họ chỉ trích việc kiên định con đường XHCN là nguyên nhân khiến Việt Nam ngày càng tụt hậu so với thế giới. Cùng với đó là luồng ý kiến công kích vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng, tách Đảng ra khỏi Nhà nước, phi chính trị hóa bộ máy công quyền, phi chính trị hóa lực lượng vũ trang.

Các đối tượng cố tình gán ghép khái niệm “đảng trị”, “độc tài” nhằm xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng thành sự “độc đoán chuyên quyền”. Thực chất, đây là thủ đoạn quen thuộc khi các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp và nền tảng chính trị của chế độ.

Liên quan các mục tiêu phát triển được đề ra trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội, họ cho rằng đó là “khẩu hiệu”, “phi thực tế”, xuyên tạc mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN là “nửa vời”, “không giống ai”. Một số bài viết cho rằng, việc công nhận kinh tế tư nhân là động lực quan trọng nhất là “chỉ dấu cho thấy tư bản hóa”! Dưới danh nghĩa “xã hội dân sự độc lập”, các đối tượng chống phá cổ xúy việc hình thành các tổ chức, hội nhóm hoạt động ngoài sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng, coi đó là “điều kiện tất yếu của dân chủ”.

Bản chất của thủ đoạn này là từng bước tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, hình thành các “trung tâm quyền lực mềm” nhằm gây sức ép, gây nhiễu loạn đời sống chính trị – xã hội. Một số bài viết cổ xúy quan điểm “xã hội dân sự độc lập”, đòi hỏi việc tạo “cơ chế mở” cho các tổ chức mang danh xã hội dân sự này ra đời mà không chịu sự quản lý của Nhà nước, không tuân thủ luật pháp. Ở đây cần nhấn mạnh rằng, văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định phát huy dân chủ XHCN phải gắn liền với tăng cường kỷ cương, pháp luật, bảo đảm ổn định chính trị – xã hội chứ không phải là sự buông lỏng quản lý hay chấp nhận các mô hình đối lập trá hình.

Thực tế, những người chỉ trích đó chưa hẳn đã đọc, tìm hiểu dự thảo văn kiện. Họ cũng không quan tâm văn kiện được viết thế nào, trình bày ra sao, nội dung có gì mới mà cứ mặc định chỉ trích, phê phán như một thói quen, lập trình sẵn. Trước Đại hội, nhiều bài viết, ý kiến trên báo chí cũng đã phản bác những quan điểm sai trái trên. Song, phải đến khi Đại hội chính thức khai mạc, bằng những văn bản, tài liệu, những báo cáo tại Đại hội, chúng ta thực sự thấy rõ tinh thần đổi mới cả nội dung và hình thức. Đó thực sự là động lực, sức sống mới được khởi truyền từ các văn kiện trình Đại hội, để tin tưởng hiện thực hóa những mục tiêu, kế hoạch đề ra.

Thực tế cho thấy, không hề là “sáo rỗng, hình thức”, không hề “bổn cũ soạn lại” như luận điệu của các thế lực xấu mà dự thảo các văn kiện trình Đại hội được thể hiện một cách hệ thống, khoa học, bao gồm: Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII; Dự thảo Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; Dự thảo Báo cáo tổng kết 15 năm thi hành Điều lệ Đảng (2011-2025) và đề xuất, định hướng sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng. Trong đó, Dự thảo Báo cáo chính trị tích hợp đồng bộ 3 báo cáo (Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng) tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai.

Báo cáo về các văn kiện trình Đại hội, Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ rõ, quá trình chuẩn bị văn kiện được tiến hành công phu, nghiêm túc, chặt chẽ, khoa học, hiện đại; kế thừa tinh hoa của các kỳ Đại hội trước, kiên định các hệ quan điểm mang tính nguyên tắc, đồng thời thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển, bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan; từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều xuất phát từ thực tiễn.

Đặc biệt, văn kiện lần này đặt ra yêu cầu hành động: Nói đi đôi với làm; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp; gắn trách nhiệm với kết quả; gắn đột phá với bền vững; gắn kỷ luật thực thi với sự hài lòng của nhân dân. Trong quá trình hoàn thiện văn kiện, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt coi trọng việc phát huy trí tuệ tập thể, mở rộng dân chủ, lắng nghe sâu sắc tiếng nói của đảng viên, của nhân dân, của đội ngũ trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, đồng bào ta ở trong và ngoài nước.

Trái với các luận điệu xuyên tạc rằng, văn kiện chỉ lấy ý kiến nhân dân “chiếu lệ”, “hình thức” hay “các ý kiến góp ý đều bị bỏ qua”, thực tế dự thảo các văn kiện đã được thảo luận rộng rãi trong toàn Đảng, công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, lấy ý kiến các đại biểu Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức phong phú.

Chỉ trong 1 tháng đã có gần 5 triệu lượt cán bộ, đảng viên, nhân dân đóng góp hơn 14 triệu lượt ý kiến gửi về các tiểu ban văn kiện, được chắt lọc, tiếp thu nghiêm túc, góp phần làm nên một báo cáo chính trị là sự kết tinh trí tuệ, sức mạnh của nhân dân, là sự hoà quyện giữa ý Đảng với lòng dân, thực sự là “ngọn đuốc soi đường”, là “cẩm nang hành động” cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta.

Các thế lực thù địch, phản động rêu rao rằng, văn kiện được trình bày “câu chữ dài dòng”, “lý luận hàn lâm” hay “không có gì mới”, “không có gì đáng đọc”… Đây là kiểu nói lấy được, kiểu mắt mù nhìn đâu cũng không ra ánh sáng. Thực tế, các văn kiện trình Đại hội đã thể hiện rõ 5 giá trị cốt lõi.

Thứ nhất, trung thành tuyệt đối với đường lối, Cương lĩnh của Đảng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến của dân tộc, thành quả, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trên con đường xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thứ hai, văn kiện lần này được xây dựng theo phương châm bám sát thực tiễn, tôn trọng quy luật khách quan, kết tinh trí tuệ tập thể và phản ánh trung thực mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Từng nhận định, từng mục tiêu, từng giải pháp đều được nghiên cứu kỹ, chắt lọc, xuất phát từ thực tiễn; coi hiệu quả và tính khả thi là tiêu chuẩn quan trọng.

Thứ ba, văn kiện thể hiện rõ sự đổi mới mạnh mẽ tư duy về phát triển: Xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm; thể chế hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao là nền tảng.

Thứ tư, văn kiện đặc biệt nhấn mạnh khâu tổ chức thực hiện. Nhiều chủ trương, quyết sách đúng sẽ vẫn "nằm trên giấy" nếu thực thi chậm, thực thi kém hiệu quả hoặc bị "lệch chuẩn" trong quá trình triển khai. Vì vậy, văn kiện đặt trọng tâm vào việc thiết kế chương trình hành động, cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.

Thứ năm, văn kiện đề cao tinh thần nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; nhấn mạnh yêu cầu giữ gìn kỷ luật của Đảng, kỷ cương phép nước...

Từ chủ đề, phương châm đến mục tiêu, giải pháp, nhiệm vụ, tất cả đều được trình bày một cách hệ thống, logic, cô đọng. Các mục tiêu phát triển đến năm 2030, 2045 đã được đề cập từ Đại hội XIII, nay tiếp tục được khẳng định trong văn kiện Đại hội XIV. Đây không phải là những “mục tiêu viển vông”, “chỉ tiêu cho vui” như luận điệu các đối tượng xấu mà được nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn, thể hiện tư duy, tầm nhìn và khát vọng vươn lên của dân tộc. Và để đạt được các mục tiêu đề ra đến năm 2030 và 2045, Đại hội XIV xác định rõ nhiệm vụ: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm.

Để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn tới, văn kiện xác định 5 quan điểm chỉ đạo lớn. Đồng thời, Báo cáo chính trị nêu rõ 12 định hướng lớn, 6 nhiệm vụ trọng tâm và 3 đột phá chiến lược. Chương trình hành động đã cụ thể hoá các nhiệm vụ có thể triển khai thực hiện ngay. Tinh thần cốt lõi được cô đọng trong 8 nội dung quan trọng, thể hiện rõ yêu cầu: Lựa chọn đúng - triển khai nhanh - làm đến nơi đến chốn - đo lường bằng kết quả.

Ba đột phá chiến lược được xác định từ Đại hội XIII có ý nghĩa cho cả giai đoạn 2021-2030, nhưng bước vào nhiệm kỳ Đại hội XIV, yêu cầu đặt ra phải làm thật mạnh, làm thật nhanh, làm đến nơi đến chốn, vì đây là những đòn bẩy quyết định để đất nước bứt phá.

Điểm mới nữa là ở cách hành văn, thể hiện ngay từ ngôn ngữ, câu từ. Không hề nhắc lại bằng những “hàn lâm, triết lý” mà ngôn ngữ thể hiện rất cụ thể, nhiều câu từ người đọc cảm nhận sự gần gũi, dễ hiểu; việc nêu hạn chế, khuyết điểm cũng rất thẳng thắn, cầu thị. Đó thực sự là cách soạn thảo văn kiện với tư duy đổi mới, phù hợp bối cảnh công nghệ số hiện nay. Các văn kiện được kết cấu, bố cục tạo thành một chỉnh thể thống nhất, toàn diện, rõ trọng tâm, trọng điểm, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ triển khai, hoàn toàn không phải như luận điệu công kích của các thế lực xấu.

Nguyễn Thành

Dân là gốc

Thứ năm, 22/01/2026 - 05:42

HỒ QUANG PHƯƠNG

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày tại phiên khai mạc Đại hội XIV của Đảng đã nêu bật tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam: Dân là gốc.

Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Tuy nhiên, trong thực tiễn, vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên còn biểu hiện xa dân, thờ ơ, vô cảm với dân. Những biểu hiện này là lực cản, khiến các nghị quyết, chủ trương của Đảng gặp vướng mắc khi thực thi, chưa mang lại hiệu quả mong muốn, làm suy giảm niềm tin của nhân dân. Đây là hạn chế cần được kiên quyết khắc phục để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng ta.

Dân là gốc
Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Ảnh: TTXVN 

Kể từ khi ra đời tới nay, yếu tố đặc biệt quan trọng để Đảng ta thực hiện thành công sứ mệnh lãnh đạo dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam vượt muôn vàn khó khăn, thử thách để giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và đưa đất nước đạt tới trình độ phát triển như ngày nay là vì Đảng luôn được nhân dân tin yêu, ủng hộ, đồng hành.

Trong kháng chiến, dù có bị tra khảo, đòn roi của kẻ thù, bị đe dọa tính mạng thì nhân dân vùng bị địch tạm chiếm vẫn quyết không khai báo cán bộ, đảng viên, vì họ biết đó là những người một lòng một dạ vì nước, vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta sục sôi khí thế cách mạng với nhiều khẩu hiệu, phong trào như: “Xe chưa qua, nhà không tiếc”, “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”...

Đất nước sau ngày giải phóng khó khăn trăm bề, bị bao vây, cấm vận, kinh tế kiệt quệ vì chiến tranh và những sai lầm trong cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp. Dù đời sống rất khó khăn, nhưng vì hiểu được phẩm chất cách mạng của Đảng nên nhân dân vẫn giữ trọn niềm tin vào Đảng, hết lòng, hết sức ủng hộ Đảng, đồng hành, thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng, từ đó đất nước mới có những kỳ tích đổi mới. Chính sự tin yêu của nhân dân, sự đoàn kết, đồng lòng của cả dân tộc đã tạo nên sức mạnh vô song của Đảng ta, Nhà nước ta, chế độ ta.

Nhưng bước vào thời kỳ kinh tế thị trường với bao cám dỗ, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã đánh mất phẩm chất đạo đức cách mạng, phai nhạt lý tưởng, không còn giữ được tinh thần phụng sự. Không ít cán bộ, đảng viên khi gặp nhân dân thì có thái độ trịch thượng, hách dịch như “quan cách mạng”, gây đủ thứ khó khăn, rồi tìm cách vòi vĩnh.

Việc gì có tư lợi thì những cán bộ, đảng viên này rất xông xáo, nhiệt tình, ngược lại, việc không mang lại nhiều lợi lộc thì họ thờ ơ. Họ vô cảm trước sự vất vả của nhân dân. Họ che giấu thực trạng, che giấu thông tin, lờ đi những tâm tư, nguyện vọng chính đáng, góp ý chân thành của nhân dân. Họ luôn "tô hồng" các báo cáo thành tích, luôn vỗ tay, tung hô quá đà bất chấp thực tế, khiến cán bộ cấp cao không nắm rõ được tình hình. Cùng với đó là những biểu hiện lợi ích nhóm trong xây dựng chính sách, pháp luật.

Chính sách, pháp luật lẽ ra phải xuất phát từ cuộc sống, phục vụ người dân thì không ít chính sách, pháp luật rất thiếu hợp lý, làm mọi thứ trở nên đảo lộn, tắc nghẽn. Kết quả là người dân nhiều khi thấy như bị hành tội ở cơ quan hành chính, không cảm nhận được đây là nơi phải phục vụ mình. Người dân ác cảm với các hành vi nhũng nhiễu, từ đó thiếu tin tưởng vào đội ngũ cán bộ, công chức, không cảm nhận được rằng “cán bộ là đầy tớ của nhân dân”. 

Thời gian qua, Đảng ta đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, các biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nhiều cán bộ cấp cao vì tham nhũng, tiêu cực mà “ngã ngựa”, bị kỷ luật đảng, bị xử lý hình sự. Điều đó cho thấy tính nghiêm minh của kỷ luật đảng, của pháp luật và góp phần củng cố niềm tin của nhân dân.

Tuy nhiên, điều mà nhân dân vẫn luôn mong mỏi là hiệu quả của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí phải được thể hiện qua chất lượng phục vụ người dân của hệ thống hành chính. Người dân phải được phục vụ tốt hơn, dễ chịu hơn, "dễ thở" hơn. Mọi hành vi nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực phải được ngăn chặn và trừng trị thích đáng. Chính sách, pháp luật phải vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn đời sống và văn hóa Việt Nam. Bởi các chính sách, pháp luật cứng nhắc, thiếu sự thấu cảm với khó khăn của nhân dân đều rất khó đi vào đời sống và gây ra phản ứng tiêu cực trong xã hội.     

Vừa qua, các nhiệm vụ tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chuyển đổi số được chỉ đạo thực hiện rất quyết liệt, với mục tiêu phục vụ nhân dân tốt hơn, tiết kiệm nguồn lực, hạn chế lực cản nhằm thúc đẩy đất nước phát triển nhanh hơn.

Tuy nhiên, bộ máy mới, quy trình mới, cán bộ mới đòi hỏi cần có thời gian thích nghi, không thể thông suốt ngay. Do đó, cán bộ, đảng viên nên thẳng thắn, mạnh dạn báo cáo tình hình thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp để công việc trôi chảy hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn. Nguy hiểm nhất là cán bộ, công chức “mũ ni che tai”, cứ một mực báo cáo là “tốt rồi”, “tốt rồi”, trong khi đó vẫn có những khâu, những việc, những nơi gây phiền hà, bức xúc cho nhân dân.  

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm-Chủ tịch Đoàn Chủ tịch đại hội, Trưởng Tiểu ban Văn kiện trình bày đã nêu bật tư tưởng xuyên suốt trong văn kiện và cũng là cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam: Dân là gốc. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tận tâm phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về mọi quyết định của mình.

Báo cáo khẳng định rằng, niềm tin của nhân dân đối với Đảng không đến từ lời nói, mà đến từ việc làm, từ sự công tâm, liêm chính của cán bộ, từ hiệu quả của bộ máy, từ sự công bằng trong thụ hưởng, từ kết quả bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, giải quyết kịp thời, thấu đáo những bức xúc chính đáng của người dân, doanh nghiệp.

Báo cáo phân tích để từ đó thấy rằng: “Chưa bao giờ nguyện ước về một Việt Nam dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc lại gần với chúng ta như hôm nay; nhưng cũng chưa bao giờ chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức, nhiều đòi hỏi gay gắt, nhiều sức ép cạnh tranh như lúc này”. Từ đó, báo cáo nhấn mạnh rằng, bước vào giai đoạn mới, càng phải chăm lo xây dựng "thế trận lòng dân". "Thế trận lòng dân" vững thì quốc phòng, an ninh vững; "thế trận lòng dân" vững thì cải cách mới đi tới cùng. "Thế trận lòng dân" vững thì khó khăn nào cũng vượt qua, thách thức nào cũng được hóa giải, đúng như Bác Hồ đã dạy: "Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Từ đó, báo cáo nhấn mạnh rằng: “Mỗi đại biểu dự đại hội, mỗi cán bộ, đảng viên trên cả nước, khi nghiên cứu văn kiện, hãy tự hỏi: Việc này có lợi gì cho dân? Có làm cho dân tin hơn không? Có làm cho cuộc sống của nhân dân tốt đẹp hơn không? Có làm cho đất nước giàu mạnh hơn không? Nếu câu trả lời chưa rõ, phải tiếp tục hoàn thiện, bởi mọi quyết sách chỉ có ý nghĩa khi được nhân dân đồng tình, ủng hộ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân”.

Báo cáo do đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm trình bày đã thấu được lòng dân, đã thẳng thắn chỉ ra những vấn đề mà toàn Đảng ta cần phải làm tốt hơn nữa trong nhiệm kỳ tới. Nhiệm kỳ tới là nhiệm kỳ mà Đảng cần quan tâm chăm lo hơn nữa việc xây dựng "thế trận lòng dân". Cần phải chấn chỉnh các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, xuôi chiều bất chấp thực tế, bất chấp cảm nhận của người dân.

Cán bộ, đảng viên cần phải nghĩ thật, nói thật, làm thật, có hiệu quả thật để từ đó, người dân được thụ hưởng thật. Có làm được như vậy thì công cuộc cải cách đang được đặt ra mới được thực hiện hiệu quả, các mục tiêu phát triển mới đạt được và đất nước ta, chế độ ta mới vững bền.