Thức tỉnh giới trẻ trước "ma trận" thông tin, ngôn từ độc hại trên không gian mạng

Thứ năm, 25/09/2025 - 06:18

Không gian mạng không vô hình, cũng không vô chủ, không phải là nơi ai muốn nói gì cũng được, càng không thể trở thành "vùng xám tư tưởng" để các phần tử xấu lợi dụng gieo rắc hoài nghi, xuyên tạc, kích động. Trước "ma trận" thông tin, ngôn từ ngày càng hỗn tạp, mỗi người dân, nhất là người trẻ cần tỉnh táo nhận diện đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu, kiên trì giữ vững lập trường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng và dân tộc.

Âm mưu phá hoại bằng vỏ bọc trung lập, ngụy biện 

Với sức lan tỏa tức thì, tốc độ cập nhật liên tục và khả năng tiếp cận sâu rộng, đặc biệt trong giới trẻ-những người chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số gần 80 triệu người dùng internet tại Việt Nam-mạng xã hội không chỉ đơn thuần là công cụ trao đổi thông tin mà còn là nơi hình thành, củng cố hoặc lung lay tư tưởng, nhận thức, thái độ, niềm tin và quan điểm chính trị-xã hội.

Do tính chất mở cùng khả năng ẩn danh và cơ chế thuật toán của các nền tảng số, không gian mạng đang trở thành môi trường thuận lợi để các thế lực thù địch, phản động âm thầm, lén lút gieo rắc thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật và kích động tâm lý chống đối. Một trong những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch trên không gian mạng là sự ngụy trang dưới những “vỏ bọc trung lập”, khoác áo “trí thức độc lập”, “phản biện xã hội” để tung ra nội dung mang tính chống phá, xuyên tạc bản chất của chế độ XHCN. Những bài viết tưởng như mang tính học thuật, trung dung nhưng lại được cài cắm những luận điểm lắt léo, ngôn ngữ ngụy biện, lập lờ nhằm gieo rắc hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của người dân vào Đảng, Nhà nước.

Nguy hiểm hơn, các đối tượng thù địch còn tận dụng hiệu ứng lan truyền mạnh mẽ của văn hóa mạng như hành vi châm biếm, video hài, ảnh chế để biến các luận điệu phản động thành “trò đùa giải trí”, dễ tiếp cận, dễ chia sẻ, đặc biệt với giới trẻ-những người thường bị cuốn hút bởi sự mới lạ, hài hước mà ít khi đề phòng tính chất chính trị ẩn chứa trong đó. Cũng không hiếm những clip giả danh “khoa học lịch sử”, “phân tích chính trị” nhưng thực chất là sản phẩm của thuyết âm mưu, bóp méo sự kiện, gây nhiễu loạn nhận thức, đánh vào tâm lý phản kháng, hoài nghi và bất mãn-điều này càng nguy hại đối với những người trẻ đang trong quá trình hình thành thế giới quan, nhân sinh quan.

Thức tỉnh giới trẻ trước "ma trận" thông tin, ngôn từ độc hại trên không gian mạng
 Ảnh minh hoạ.

Sự nguy hại không chỉ nằm ở những lời lẽ công khai đối đầu mà còn là thứ ngôn từ "mập mờ đánh lận con đen", kiểu như “tôi không chống ai, tôi chỉ đặt câu hỏi”, “tôi yêu nước theo cách riêng của tôi”, hay “yêu nước không có nghĩa phải theo đảng”. Những ngụy biện kiểu này, nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, sẽ từng bước làm xói mòn niềm tin, gây ra sự hoài nghi chính trị âm ỉ trong một bộ phận quần chúng, nhất là thanh niên. Đây chính là những “liều thuốc tẩy não mềm” mà nếu không cảnh giác, dễ khiến người tiếp nhận trở nên mơ hồ về lịch sử, rơi vào trạng thái vô cảm chính trị và từng bước bị dẫn dắt đến tư tưởng lệch lạc.

Vì sao giới trẻ dễ rơi vào “ma trận” thông tin, ngôn từ hỗn loạn?

Giới trẻ với đặc trưng năng động, sáng tạo, khát khao khám phá và luôn đi đầu trong tiếp cận cái mới, đồng thời cũng là nhóm dễ bị tác động nhất bởi những xu hướng tư tưởng lệch chuẩn trên không gian mạng. Ở độ tuổi đang hình thành thế giới quan và hệ giá trị cá nhân, nhiều người trẻ có xu hướng đề cao sự “độc lập tư tưởng”, thích thể hiện bản sắc riêng nhưng lại thiếu nền tảng tri thức lý luận chính trị vững chắc để làm “la bàn định hướng” nhận thức, thái độ và hành vi.  Thêm vào đó, thói quen đọc lướt, chia sẻ nhanh, bình luận vội đang trở thành biểu hiện khá phổ biến trong cách người trẻ tiêu thụ thông tin ngày nay.

Một đoạn clip ngắn, một hình ảnh gây sốc hay vài dòng status giật gân, cảm tính có thể nhanh chóng đánh động cảm xúc, khiến người xem vội vàng chia sẻ mà không quan tâm đến tính chính xác hay mục đích phía sau là gì. Những thủ đoạn như cắt ghép video, trích dẫn rời rạc, bóp méo ngữ cảnh... dễ dàng tạo ra hiệu ứng tưởng là thật, khiến người tiếp cận bị dẫn dụ mà không nhận ra mình đang rơi vào cái bẫy ngôn từ đã được giăng sẵn.

Đáng lo hơn, trong bối cảnh hiện nay, không ít thanh niên rơi vào trạng thái thờ ơ chính trị khi cho rằng các vấn đề tư tưởng, chính sách, hay lịch sử chỉ là chuyện của người lớn hay chẳng liên quan đến mình. Chính thái độ mơ hồ, non nớt ấy là mảnh đất màu mỡ để các quan điểm sai trái len lỏi, gieo mầm hoài nghi, dẫn đến nhận thức lệch lạc, mất phương hướng lý tưởng, niềm tin tích cực trong một bộ phận giới trẻ. Nếu không có sự quan tâm, định hướng và đồng hành kịp thời từ gia đình, nhà trường và xã hội thì “ma trận" ngôn từ, thông tin trên không gian mạng sẽ tiếp tục là cái bẫy tai hại, ảnh hưởng tiêu cực đối với thế hệ tương lai.

Chủ động phòng ngừa, tỉnh táo đấu tranh, vững vàng định hướng

Giữa làn sóng thông tin hỗn loạn trên không gian mạng, việc trang bị cho thanh niên một “hệ miễn dịch tư tưởng số” không chỉ là yêu cầu nhất thời mà còn là trách nhiệm lâu dài, gắn chặt với tương lai của mỗi cá nhân người trẻ và sự ổn định an ninh chính trị của quốc gia. Muốn vậy, cần có các giải pháp định hướng, phòng ngừa và đấu tranh linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với tâm lý và hành vi truyền thông của giới trẻ; từ đó không chỉ chống "nhiễm độc” mà còn tạo "kháng thể" nhận thức vững vàng, giúp thế hệ trẻ có đủ sức đề kháng trước những "cám dỗ" ngôn từ, hình ảnh lệch chuẩn và cạm bẫy thông tin độc hại.

Để nâng cao năng lực “miễn dịch" thông tin xấu độc cho giới trẻ-đối tượng nhạy bén nhưng cũng dễ tổn thương trước các luồng quan điểm xa lạ, tư tưởng đối lập-việc giáo dục bồi đắp tri thức lý luận chính trị vững chắc phải được đặt lên hàng đầu. Tư duy phản biện, khả năng phân tích thông tin, nhận diện ngôn ngữ ngụy biện và hiểu được bản chất sâu xa của vấn đề là “lá chắn” hiệu quả giúp thanh niên không bị cuốn theo những xu hướng, trào lưu lệch chuẩn trên mạng xã hội. Khi lý trí của giới trẻ được bồi đắp, tôi rèn vững chắc, cảm xúc của họ sẽ không còn là điểm yếu dễ bị dẫn dắt, thao túng bởi những thông tin sai lệch, độc hại.

Muốn chạm tới trái tim và khối óc người trẻ, cần làm mới nội dung giáo dục chính luận bằng hình thức sáng tạo, gần gũi mà vẫn sâu sắc. Những video ngắn giàu thông tin, infographic trực quan, podcast phân tích chuyên sâu dưới góc nhìn trẻ trung, sinh động sẽ là “vũ khí mềm” hiệu quả để đấu tranh bằng lý lẽ thuyết phục và truyền cảm hứng tích cực cho người trẻ. 

Bên cạnh đó, gia đình, nhà trường, các tổ chức đoàn thể cần phối hợp chặt chẽ để tạo thành một “tam giác phòng tuyến” ngăn chặn từ gốc sự xâm nhập của các luồng tư tưởng lệch lạc. Thanh thiếu niên không thể lớn lên vững vàng trong lý tưởng tốt đẹp nếu cha mẹ thờ ơ, nhà trường hời hợt và tổ chức đoàn thể thiếu sức hấp dẫn. Cần tích cực chống tư tưởng độc hại từ gốc rễ bằng cách chủ động, tích cực đồng hành, hướng dẫn và tiếp sức để thanh niên không rơi vào trạng thái xa rời hoài bão, lý tưởng, bị "dắt mũi" bởi những thông tin, luận điệu sai trái trên không gian mạng.

Ngoài ra, cần thiết lập “hàng rào pháp lý” cứng rắn đối với các hành vi phát ngôn, lan truyền thông tin xấu độc. Nhà nước cần xây dựng cơ chế giám sát hiệu quả, xử lý nghiêm minh các cá nhân, tổ chức tán phát thông tin sai lệch, xuyên tạc, gây chia rẽ, kích động trên không gian mạng. Sự nghiêm khắc của pháp luật không phải để hạn chế tự do ngôn luận mà để bảo vệ tự do chân chính, bảo vệ lòng tin và an ninh tư tưởng của xã hội. Khi luật pháp đồng hành với giáo dục và truyền thông sáng tạo, không gian mạng sẽ trở thành nơi bồi đắp bản lĩnh, nhân cách và trách nhiệm công dân đối với thế hệ trẻ.

Không gian mạng không vô hình, cũng không vô chủ, không phải là nơi ai muốn nói gì cũng được, càng không thể trở thành vùng xám tư tưởng để kẻ xấu lợi dụng gieo rắc hoài nghi, xuyên tạc, kích động. Trước "ma trận" thông tin, ngôn từ ngày càng hỗn tạp, mỗi người dân, nhất là người trẻ cần tỉnh táo nhận diện đúng-sai, phải-trái, tốt-xấu, kiên trì giữ vững lập trường, kiên định với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng và dân tộc.

Khi người trẻ hành động bằng lý trí sắc bén, trái tim yêu nước và trách nhiệm công dân thì không gian mạng sẽ không còn là “bãi chiến trường” của thông tin, ngôn từ độc hại mà là vùng đất lan tỏa ánh sáng tư tưởng đúng đắn, góp phần củng cố niềm tin xã hội, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời đại số.

Đại tá, TS NGUYỄN THANH HẢI, Khoa Chỉ huy-Tham mưu, Học viện Quốc phòng 

Lại mượn danh vấn đề nhân quyền để thông tin, đánh giá sai lệch

Thứ Hai, 22/09/2025, 05:31

Thời gian qua, lực lượng Công an đã bắt giữ một số đối tượng lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân để xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Song vẫn với chiêu bài cũ, các thế lực thù địch lại lu loa xuyên tạc, cho rằng Việt Nam vi phạm “tự do, dân chủ, nhân quyền”.

Trên trang tin của các tổ chức phản động đưa nhiều thông tin về việc tổ chức nhân quyền Liên hợp quốc đưa ra công bố báo cáo về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Có thể thấy, đây là đánh giá dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Những đánh giá thiếu khách quan, sai lệch về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

Trang BBC tiếng Việt đưa tin với tiêu đề “Chuyên gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc quan ngại về báo cáo Việt Nam đàn áp người Khmer Krom”, nội dung nói về nhóm công tác đặc biệt thuộc Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc “bày tỏ quan ngại sâu sắc trước các báo cáo về tình trạng đàn áp ngày càng gia tăng đối với người Khmer Krom bản địa ở Việt Nam”. Đi liền với đó là trang tin của các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân, Chân trời mới… liên tục đưa ra những bài viết xuyên tạc thông qua các tiêu đề giật gân như “Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc lên án Việt Nam đàn áp người Khmer Krom”! Nếu đọc các thông tin trên có thể thấy, nội dung nêu ra xoay quanh một số đối tượng phạm tội và đang chấp hành bản án tại Việt Nam, đó là Thạch Chanh Đa Ra, Thạch Chóp và Thạch Nha, Kim Khiêm...

Lại mượn danh vấn đề nhân quyền để thông tin, đánh giá sai lệch -0

Những thông tin sai lệch, bịa đặt, vu cáo rằng Đảng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền của đồng bào dân tộc thiểu số

Từ đó, các tổ chức phản động lưu vong đã đưa ra những bài viết nhắc lại về việc cơ quan chức năng bắt giữ, xử lý những đối tượng phạm tội ở trong nước trước đây. Đồng thời ra yêu sách “yêu cầu trả tự do ngay cho nhà sư Thạch Chanh Đa Ra, Kim Khiêm, Thạch Vệ Sanal và bác bỏ mọi cáo buộc đối với họ”…

Ngoài ra, các tổ chức bất hợp pháp là Liên đoàn Khmer Krom (KKF) và Tổ chức Đoàn kết Công giáo toàn cầu (CSW)… có trụ sở ở nước ngoài thường xuyên đưa ra các thông tin xuyên tạc, sai trái về tình hình nhân quyền tại Việt Nam trong nhiều năm qua, nay tiếp tục vu cáo rằng, cơ quan chức năng Việt Nam đã bắt giữ và buộc tội “với một tội danh mà ông không hề phạm tội”. Đồng thời các tổ chức trên còn lật lọng, đòi “tẩy trắng” cho các đối tượng phạm tội, trong đó có đối tượng Thạch Chanh Đa Ra khi ngụy biện “chỉ đơn thuần thực hiện quyền tự do vận động cho quyền thực hành Phật giáo nguyên thủy cho cộng đồng người Khmer Krom bản địa của mình”!

Việc các tổ chức phản động lưu vong lợi dụng những báo cáo, nhận định của một số cá nhân, tổ chức đối với vấn đề nhân quyền để tuyên truyền, kích động chống phá là một vấn đề không mới trên thế giới cũng như ở Việt Nam. Lợi dụng vấn đề dân tộc là thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động thực hiện với âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kích động bạo loạn, lật đổ chính quyền nhân dân.

Chúng thực hiện các việc cụ thể như: xuyên tạc lịch sử vùng đất nơi có đông đồng bào dân tộc sinh sống, xuyên tạc một số vấn đề lịch sử, văn hóa, con người; xuyên tạc, bóp méo các chính sách của Đảng và Nhà nước về vùng đồng bào dân tộc; gây mâu thuẫn, bức xúc trong đồng bào dân tộc, kích động tư tưởng dân tộc cực đoan…

Lợi dụng vấn đề này, một số tổ chức phản động của người Khmer như: “Hội Ái hữu Khmer Campuchia Krôm” (AKKK), “Hội sư sãi Khmer Campuchia Krôm”... kích động, lôi kéo sư tăng, nhất là những đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam. Đồng thời các tổ chức phản động lưu vong trên còn lợi dụng những thiếu sót trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo ở cơ sở, trình độ dân trí và những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số để kích động, xuyên tạc, bóp méo đường lối, chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, gây sự hoài nghi, bất bình nhằm khoét sâu mâu thuẫn giữa người Kinh với ngưòi Khmer.

Chúng kích động đồng bào tụ tập đấu tranh, gây rối, biểu tình, đặc biệt triệt để lợi dụng và xoáy sâu vào vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, xem đây là những “ngòi nổ” để kích động tư tưởng ly khai, tự trị, “bài Kinh”… gây mất ổn định xã hội.

Các tổ chức phản động lưu vong thường lấy những hạn chế, thiếu sót trong triển khai chính sách dân tộc ở cơ sở làm cái cớ, lý do để xuyên tạc, vu cáo chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, tạo “ngòi nổ” mở đường cho nước ngoài can thiệp vào chính trị nội bộ, tạo sức ép và mặc cả trong các quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế của Việt Nam. Đây là chiêu bài quen thuộc của các thế lực thù địch, các cá nhân, tổ chức chống đối, kiếm cớ đưa ra những nhận định sai lệch, thiếu khách quan về tình hình nhân quyền. Những nhận định này đã làm ảnh hưởng đến uy tín và hình ảnh của Việt Nam đối với quốc tế cũng như phủ nhận về những thành tựu về nhân quyền mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua. Những lời quy kết kiểu “quan ngại”, “lên án”… phi lý, vô căn cứ của các cá nhân, tổ chức phản động mạo danh tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để thực thi mưu đồ chính trị chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam đều vô giá trị, không thể phủ mờ sự thật khách quan.

Không thể lấy danh nghĩa nhân quyền để dung túng cho những hành vi phạm pháp

Đồng bào Khmer là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng 54 dân tộc trên đất nước Việt Nam, chung sống bình đẳng và hòa hợp, cùng đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt chiều dài lịch sử của đất nước. Các dân tộc Việt Nam đều được đối xử bình đẳng. Nhà nước Việt Nam bảo đảm và tạo điều kiện phát triển về mọi mặt nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc. Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc ta, đồng bào Khmer luôn phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước, cùng đồng bào cả nước thực hiện công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, nhờ sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, đời sống đồng bào Khmer Nam Bộ không ngừng cải thiện, phát triển toàn diện. Thành quả này góp phần củng cố niềm tin của đồng bào vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, thi đua lao động sản xuất, làm giàu chính đáng. Nhờ sự quan tâm đó, kinh tế-xã hội và đời sống của đồng bào dân tộc Khmer đã được nâng lên một bước đáng kể. Bộ mặt nông thôn vùng đồng bào dân tộc Khmer không ngừng đổi mới và phát triển. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh, khá bền vững, số hộ nghèo giảm từ 3-5%/năm; trên 99% hộ có phương tiện nghe nhìn, 97% hộ được sử dụng điện lưới, 80% hộ được sử dụng nước hợp vệ sinh. Công tác bảo vệ, chăm sóc, nâng cao sức khỏe nhân dân được đẩy mạnh. Giáo dục, đào tạo vùng dân tộc không ngừng được đổi mới, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.

Các tỉnh, thành phố có đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống đều có trường dân tộc nội trú. Cùng với đó, việc dạy và học tiếng Khmer cũng được thực hiện tốt. Chính sách về đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc cũng được các cấp, ngành, địa phương quan tâm, tạo điều kiện, tạo việc làm...

Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận nhỏ vì nghe theo lời vu khống, bịa đặt, xuyên tạc của các tổ chức phản động lưu vong mà thực hiện hoạt động vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền. Trong đó có Thạch Chanh Đa Ra - một trong những đối tượng thường được các tổ chức phản động lưu vong cổ súy, tung hô. Trước đây, trong thời gian làm tu sĩ tại địa phương, Thạch Chanh Đa Ra luôn được chính quyền các cấp tạo điều kiện trong việc sinh hoạt và tổ chức các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Tuy nhiên, từ năm 2020 đến nay, vì những ảo vọng và lời hứa đến từ các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài, Thạch Chanh Đa Ra và Kim Khiêm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ bài viết, video và livestream nhiều thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân.

Đặc biệt, vào chiều 22/11/2023, tổ công tác của UBND huyện Tam Bình và UBND xã Loan Mỹ cùng 2 phật tử đại diện người dân địa phương đến chùa Đại Thọ liên hệ làm việc. Khi tổ công tác vào trong khuôn viên chùa thì bị khóa cổng. Thạch Chanh Đa Ra đã trực tiếp chỉ đạo nhóm quá khích khống chế các thành viên trong tổ công tác, hành hung gây thương tích, đưa các thành viên trong tổ công tác vào chánh điện, khóa cửa, canh giữ không cho ra ngoài. Đây là hành động hung hãn, ngang nhiên bắt giữ người trái pháp luật lại còn xuyên tạc, vu khống chính quyền gây mất an ninh trật tự địa phương và an toàn xã hội. Những hành vi trên đã vi phạm pháp luật, không xứng đáng là thành viên của Tăng đoàn và Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Do đó, Hội đồng Yết ma đã biểu quyết 100% đồng ý khai trừ, không công nhận Thạch Chanh Đa Ra là thành viên Tăng đoàn và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Ngày 26/11/2024, TAND tỉnh Vĩnh Long (cũ) tuyên án các bị cáo trong vụ án “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” quy định tại Khoản 2, Điều 331, Bộ luật Hình sự và tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” quy định tại Khoản 2, Điều 157, Bộ luật Hình sự. Việc xét xử khẳng định sự công minh của pháp luật với các bản án thấu tình, đạt lý. Do đó, không thể viện dẫn vụ việc để vu cáo rằng, cơ quan chức năng Việt Nam đã bắt giữ và buộc tội Thạch Chanh Đa Ra “với một tội danh mà ông không hề phạm tội”!

Từ thực tế đó đòi hỏi người dân cần phải cảnh giác, tỉnh táo, không tin vào những lợi bịa đặt của các thế lực thù địch, phản động. Đồng thời tích cực lên án âm mưu, thủ đoạn chống phá của những đối tượng xấu, qua đó góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng, phát triển quê hương đất nước.

Liêm Chính - Bình Nguyên 

Không thể xuyên tạc tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam - Cuba

Thứ hai, 22/09/2025 - 06:00

Khi Việt Nam phát động chương trình quyên góp ủng hộ Cuba nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lập tức xuyên tạc, phủ nhận bản chất của hoạt động nhân văn, nghĩa tình này. Không dừng lại ở đó, chúng còn lợi dụng để chống phá đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Vạch trần mưu đồ của các thế lực thù địch không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là tình cảm, lương tâm của mỗi người trong gìn giữ, phát triển tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Cuba, bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới.

Đòn thâm hiểm vào nghĩa cử nhân văn

Hướng tới kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Cuba (1960-2025), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị tổ chức Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba với chủ đề “65 năm nghĩa tình Việt Nam-Cuba”. Chương trình mang ý nghĩa chính trị, đối ngoại nhân văn sâu sắc, thể hiện nghĩa tình thủy chung son sắt, trước sau như một của Việt Nam đối với đất nước Cuba anh em, nhất là trong bối cảnh nhân dân Cuba đang đối diện với nhiều khó khăn do cấm vận, thiên tai, dịch bệnh...

Không chỉ dừng lại ở hoạt động ủng hộ vật chất, chương trình còn mang thông điệp chính trị-ngoại giao: Việt Nam trước sau kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, gắn bó thủy chung với bạn bè truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sức sống của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Cuba, một mối quan hệ hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp.

Thế nhưng, ngay sau khi chương trình vận động cấp quốc gia được phát động và trong suốt những ngày qua, nghĩa cử cao đẹp ấy trở thành mục tiêu công kích của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị. Chúng bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bản chất nhân văn của chương trình vận động, từ đó hướng tới phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, nhân văn của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân Việt Nam. 

Cần thấy rõ rằng, không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động lại chọn chính những chương trình nhân văn, nhân đạo để chống phá. Như một thuộc tính cố hữu, với chúng, các chương trình, hành động của Việt Nam càng nhân văn, nhân đạo bao nhiêu thì càng bị chúng tìm cách bôi nhọ bấy nhiêu. Chúng biết rõ mối quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Vì thế, nếu làm xói mòn niềm tin vào biểu tượng ấy, chúng sẽ đạt mục tiêu kép: Vừa chia rẽ nhân dân với Đảng, vừa làm suy yếu, tổn hại đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Trong các chiến dịch chống phá gần đây, chúng sử dụng những thủ đoạn quen thuộc nhưng tinh vi hơn: Cắt ghép hình ảnh buổi quyên góp để rêu rao “ép buộc, hình thức”; dựng số liệu giả rồi so sánh ác ý với một số khó khăn trong nước để gieo rắc tâm lý bất mãn, hoài nghi; đánh tráo khái niệm, biến quyên góp tự nguyện thành “bắt buộc”; nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng không gian mạng, tạo “bầy đàn số”, khiến dư luận hiểu nhầm rằng đa số nhân dân phản đối chương trình quyên góp. Tất cả đều nhằm gieo mầm hoài nghi, cổ xúy chủ nghĩa vị kỷ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Không thể xuyên tạc tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam - Cuba

Lễ phát động chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba. Ảnh: VGP 

Từ việc công kích một hoạt động quyên góp cụ thể, chúng mở rộng sang phủ nhận bản chất của quan hệ Việt Nam-Cuba, coi đó là “di sản không cần duy trì”. Bằng lời lẽ quy chụp “phô trương, mua danh”, mưu đồ chúng hướng tới là phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và nhân văn của Đảng ta. Qua đó, hòng làm xói mòn tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng. Từ xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Cuba, các thế lực chống đối phủ nhận vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cô lập Việt Nam với các đối tác và bạn bè truyền thống. Rõ ràng, âm mưu sâu xa của chúng là tạo ra “khoảng trống niềm tin”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội, từng bước phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Lá chắn thép” chống luận điệu xuyên tạc

Để nhìn thấu bản chất phản động trong những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị, chúng ta cần nắm chắc, hiểu sâu mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Cuba trong suốt chiều dài 65 năm lịch sử. Được hình thành từ sớm, xuất phát từ lương tâm, tình cảm quốc tế trong sáng và truyền thống hữu nghị, nhân văn của hai dân tộc, quan hệ ấy đã vượt qua thử thách của chiến tranh, khoảng cách địa lý và sự khắc nghiệt của chính sách bao vây cấm vận, trở thành biểu tượng bất diệt của tình đồng chí.

Trong quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc căn bản, thể hiện ở việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả. Tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển thành phương châm xuyên suốt: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Người khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà”(*), cùng chung khát vọng độc lập, tự do và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ trong khói lửa chiến tranh đến xây dựng hòa bình, từ những chuyến thăm lịch sử đến những công trình, dự án cụ thể, tinh thần quốc tế trong sáng ấy đã trở thành nền móng vững chắc của mối quan hệ thủy chung son sắt. Chính nhờ vậy, mỗi hoạt động quyên góp hôm nay không phải là sự kiện đơn lẻ mà là gạch nối giữa lịch sử và hiện tại, giữa hôm qua và hôm nay của một dòng chảy lớn-dòng chảy của tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba.

Thực tiễn lịch sử cũng đã khẳng định, quan hệ Việt Nam-Cuba là tài sản vô giá, là di sản thiêng liêng cần được bảo vệ, gìn giữ và truyền tiếp cho mai sau. Ngay từ tháng 12-1960, Cuba là quốc gia Tây bán cầu đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Chỉ 3 năm sau, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam ra đời (1963), thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ, kịp thời trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ Quảng trường La Habana đến từng nhà máy, trường học, tinh thần “tất cả vì Việt Nam” lan tỏa khắp đảo quốc Caribe, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân hai nước.

Đặc biệt, ngày 2-1-1966, trong cuộc mít tinh tại Quảng trường cách mạng José Martí ở La Habana, nhân kỷ niệm 7 năm Ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 / 1-1-1966) và chào mừng Hội nghị đoàn kết Á-Phi-Mỹ Latin, lãnh tụ Fidel Castro khẳng định: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!”. Lời bất hủ này thể hiện tình cảm ruột thịt, tinh thần sẵn sàng hy sinh, sẻ chia của nhân dân Cuba đối với người đồng chí, anh em Việt Nam, mãi mãi tạc vào thời gian và không gian về một tình bạn lớn trong lịch sử nhân loại.

Không chỉ là tinh thần, đỉnh cao của tình đoàn kết ấy chính là chuyến thăm lịch sử tháng 9-1973, khi Tổng tư lệnh Fidel Castro đến Quảng Trị. Hình ảnh một nguyên thủ quốc gia không quản hiểm nguy, đến tận nơi chiến trường ác liệt động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là ký ức không thể phai mờ về người đồng chí, anh em Cuba trong lòng người Việt Nam. 

Trong những năm tháng gian khổ, chuyên gia và công nhân Cuba có mặt tại nhiều công trình trọng điểm, từ đường Trường Sơn, Bệnh viện Hữu nghị Đồng Hới, khách sạn Thắng Lợi cho đến các nhà máy, hạ tầng thiết yếu trên khắp đất nước Việt Nam. Những giọt mồ hôi, công sức ấy đã góp phần quan trọng giúp nước ta nhanh chóng hồi phục sau chiến tranh. Đồng thời, chính Cuba là quốc gia đi đầu trong vận động các quốc gia Mỹ Latin ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977. Ngược lại, Việt Nam cũng luôn sẻ chia khó khăn với Cuba, từ lương thực đến thiết bị y tế, từ công nghệ đến chuyển giao kỹ thuật, thể hiện nghĩa tình anh em son sắt thủy chung.

Ngày nay, quan hệ hai nước tiếp tục được củng cố, nâng tầm, mở rộng toàn diện trên nhiều lĩnh vực, như: Quốc phòng, an ninh, tư pháp, khoa học-công nghệ, xây dựng, văn hóa, thể thao và giao lưu nhân dân; thúc đẩy các chương trình hợp tác trong từng ngành, lĩnh vực, cũng như giữa các tổ chức chính trị-xã hội của hai nước. Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel khẳng định: “Quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí, tình bạn thủy chung”. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh: Quan hệ hữu nghị thủy chung, hợp tác đặc biệt giữa hai nước là tài sản vô giá mà hai nước cần giữ gìn, phát huy và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi đoàn kết, ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối đầy kiêu hãnh và tự hào của mối quan hệ đặc biệt, hiếm có trên thế giới.

Vì thế, chúng ta càng phải nhìn rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch. Những luận điệu như “Việt Nam còn nghèo, không nên giúp Cuba” là phi lý, bởi lẽ chương trình quyên góp là hoàn toàn tự nguyện, không hề ảnh hưởng đến ngân sách an sinh xã hội. Ngược lại, từ nghĩa cử cao đẹp này, Việt Nam trở thành hình mẫu về người bạn thủy chung son sắt với bạn bè truyền thống.

Việc bóp méo, xuyên tạc cho rằng hoạt động quyên góp “để phô trương”, “để phục vụ lợi ích nhóm”... là những luận điệu phá hoại và thiếu căn cứ, bởi toàn bộ chương trình vận động quyên góp đều được công khai, minh bạch, có sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng.

Cho rằng quyên góp, ủng hộ Cuba là “mua danh đối ngoại” còn là sự vu khống trắng trợn. Bởi quan hệ Việt Nam-Cuba không phải là mối quan hệ hình thức mà là kết quả của 65 năm đồng cam cộng khổ, gắn bó máu thịt, chia ngọt sẻ bùi. Kết quả bước đầu cho thấy, tính đến ngày 5-9, chưa đầy một tháng sau lễ phát động, đã có gần 2 triệu lượt tham gia với giá trị ủng hộ hơn 400 tỷ đồng. Đây là minh chứng sinh động về tình cảm của nhân dân Việt Nam hướng về những người bạn ở đảo quốc Caribe.

Càng bóc tách, chúng ta càng thấy các luận điệu kia chỉ là những tiếng vọng yếu ớt, vô căn cứ, tự phủ định mình trước sự thật lịch sử và hiện tại. Âm mưu chống phá, thủ đoạn xuyên tạc không thể xóa nhòa tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba bởi nó được hun đúc bằng máu, mồ hôi, nước mắt, bằng tình cảm thủy chung son sắt của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc. Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc hoạt động quyên góp nói riêng, mối quan hệ Việt Nam-Cuba nói chung không chỉ là yêu cầu cơ bản, cấp thiết mà còn là trách nhiệm, tình cảm, lương tâm của mỗi người dân Việt Nam và Cuba.

NGUYỄN HUY - THANH DUY

 

(*) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.179 

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn tin đồn, tin giả - Bài 3: “Cắt mạch sống” tin đồn, tin giả - trách nhiệm không của riêng ai (Tiếp theo và hết)

Thứ bảy, 20/09/2025 - 05:14

Ngăn chặn tin đồn, tin giả không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước hay báo chí chính thống, mà còn là yêu cầu cấp thiết trong quản trị xã hội thời đại số. Cần một chiến lược toàn diện, bài bản, có sự phối hợp đa ngành và sự vào cuộc của từng cá nhân, tổ chức để “cắt đứt mạch sống” của tin đồn, tin giả, bảo vệ sự thật, giữ vững ổn định xã hội. Đó là nhấn mạnh của ông Lê Quang Tự Do, Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Phóng viên (PV): Đề nghị ông cho biết thực trạng việc quản lý, giám sát và xử lý tin đồn, tin giả trên mạng xã hội thời gian qua?

Ông Lê Quang Tự Do: Khoảng 10 năm gần đây, tin đồn, tin giả, tin xấu độc chủ yếu xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới như Facebook, YouTube, sau này thêm TikTok. Đặc điểm chung là ẩn danh hoặc do các tổ chức, cá nhân phản động chủ ý tung ra. Một số trường hợp người dân tung tin thất thiệt để "câu view", nhưng ngày càng ít.

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn tin đồn, tin giả - Bài 3: “Cắt mạch sống” tin đồn, tin giả - trách nhiệm không của riêng ai (Tiếp theo và hết)
Ông Lê Quang Tự Do. Ảnh: THÀNH AN

Quản lý các nền tảng xuyên biên giới rất khó vì họ không có pháp nhân tại Việt Nam, chủ yếu theo tiêu chuẩn cộng đồng của họ, ít tuân thủ pháp luật nước sở tại. Trong khi đó, nhiều quy định của ta chưa kịp cập nhật với tốc độ phát triển internet. Ví dụ, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng đã trở nên lạc hậu. Thủ tục sửa đổi cũng gặp cản trở từ các tập đoàn xuyên biên giới và cả chính phủ các nước sở hữu nền tảng.

Ngoài ra, ý thức trách nhiệm của một bộ phận người dân còn hạn chế. Có người tung tin thất thiệt như máy bay rơi, vỡ đập, phong tỏa, tử vong hàng loạt trong dịch Covid-19 chỉ để gây chú ý. Trước năm 2018, các cơ quan quản lý chưa thật sự quan tâm và thiếu lực lượng chuyên trách, khiến tin giả mặc sức tung hoành. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt, ban hành nhiều biện pháp để khắc phục bất cập, tăng cường quản lý.

PV: Hệ thống pháp luật và chế tài hiện hành đã đủ mạnh để xử lý tin đồn, tin giả chưa, thưa ông?

Ông Lê Quang Tự Do: Chúng ta đã từng bước lấp các khoảng trống pháp lý. Hiện có 4 nhóm giải pháp tổng thể: Xây dựng lực lượng chuyên trách; bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật; buộc các nền tảng xuyên biên giới tuân thủ pháp luật Việt Nam; tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân và xử lý nghiêm vi phạm.

Về hệ thống pháp luật và chế tài hiện hành, chúng ta có Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 27/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 9-11-2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Đồng thời, Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14-11-2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo, trong đó chỉ tập trung về quảng cáo xuyên biên giới. Mới nhất, Quốc hội thông qua Luật số 75/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo, trong đó bổ sung Điều 23 về quảng cáo trên mạng.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã xây dựng quy định về thương mại điện tử. Bộ Tài chính xây dựng quy định về thu thuế điện tử và đặc biệt là thu thuế xuyên biên giới. Nhờ vậy, quản lý không gian mạng chặt chẽ, đồng bộ hơn trước.

Về chế tài, xử phạt được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3-2-2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29-3-2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Bộ Công an tăng cường xử lý hình sự đối với những trường hợp tung tin đồn sai sự thật, tin giả hoặc là xúc phạm danh dự dân tộc, tổ chức, cá nhân ở trên mạng... Qua đó, gửi một thông điệp rõ ràng: Lên mạng không còn là vô danh, mỗi người đều phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.

PV: Theo ông, các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới có trách nhiệm như thế nào trong việc gỡ bỏ, xử lý tin đồn, tin giả; kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này như thế nào?

Ông Lê Quang Tự Do: Hiện 3 nền tảng chính là Facebook, YouTube, TikTok đều cam kết tuân thủ và đã phối hợp tốt hơn với cơ quan chức năng Việt Nam. Trên thế giới, khoảng 5-7 năm gần đây, nhiều nước bắt đầu siết chặt quản lý. Mỹ, EU ban hành luật xử lý tin giả; Singapore xử phạt rất nặng cả nền tảng lẫn cá nhân tung tin giả.

Điều này cho thấy Việt Nam không phải ngoại lệ, mà là xu thế toàn cầu. Khi đời sống con người dịch chuyển mạnh lên môi trường mạng thì quản lý, điều chỉnh hành vi là tất yếu. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tăng cường quản lý mạng, hạn chế tự do là hoàn toàn sai trái. Thực chất, thanh lọc không gian mạng để tạo môi trường an toàn, hữu ích chính là bảo vệ tự do và quyền lợi chính đáng của người dân.

PV: Làm thế nào để vừa xử lý nghiêm tin đồn, tin giả, vừa bảo đảm quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin chính đáng của người dân, thưa ông?

Ông Lê Quang Tự Do: Phải khẳng định, Chính phủ và các cơ quan chức năng ở Việt Nam chỉ tập trung xử lý thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin chính đáng của người dân.

Chúng ta chống tin đồn thất thiệt, tin giả, chống tin xấu độc để xây dựng một không gian mạng lành mạnh, an toàn và hữu ích cho người dân, điều đó là cần thiết. Chính phủ phát triển internet, tạo mọi điều kiện phát triển các ứng dụng để người dân chuyển đổi số, thậm chí Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn nhưng vẫn đẩy mạnh các ứng dụng, đầu tư vào việc triển khai 5G trên toàn quốc. Điều đó làm cho tốc độ internet tốt lên, cao hơn để người dân sử dụng; đầu tư vào các chuyển đổi số, dịch vụ công để người dân lên mạng sử dụng.

Như vậy, chúng ta bài trừ những cái xấu để xây dựng một môi trường mạng lành mạnh mà không hạn chế quyền tự do ngôn luận, không hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân.

PV: Ông có thể chia sẻ một số giải pháp trọng tâm trong thời gian tới để kiểm soát, giảm và ngăn chặn tin đồn, tin giả?

Ông Lê Quang Tự Do: Giải pháp trọng tâm đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện các văn bản, quy định pháp luật. Vì sự phát triển của internet giờ đây tính theo tháng, theo ngày, không phải theo năm nữa nên cần cập nhật, bổ sung ngay những quy định mới.

Thứ hai, củng cố lực lượng chuyên trách và xây dựng một thế trận rộng khắp gọi là “thế trận trên không gian mạng”. Cần kết hợp giữa “thế trận quản lý” với các lực lượng chuyên trách của hệ thống chính trị, các cơ quan thông tấn, báo chí và "tai mắt" của nhân dân. Tất cả cùng giám sát trên không gian mạng, như vậy mới kịp thời phát hiện được những nội dung vi phạm để ngăn chặn, bóc gỡ, cảnh tỉnh, xử lý răn đe. Những năm gần đây, chúng ta thực hiện rất hiệu quả sự phối hợp này.

Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử đã tham mưu để xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh của người dân về những nội dung xấu độc trên không gian mạng, thiết lập đường dây nóng, xây dựng website phòng, chống tin giả, thông tin xấu độc. Chúng ta kết hợp cả 3 lực lượng báo chí, nhân dân và các cơ quan chủ lực mới đủ sức giám sát không gian mạng.

Chúng ta phải phân định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong quản lý không gian mạng. Vì bây giờ tất cả hoạt động của người dân và cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị đều dịch chuyển lên không gian mạng nên tất cả đều phải có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đầu tư các phương tiện công cụ kỹ thuật để giám sát không gian mạng được kịp thời và hiệu quả hơn. Việc này, nhiều nước đầu tư rất mạnh vì họ xem đó là an ninh quốc gia. Chúng ta muốn giữ được chủ quyền trên không gian mạng thì bắt buộc phải có các công cụ và phương tiện kỹ thuật để giám sát và xử lý.

Một giải pháp hết sức quan trọng là tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, tạo sức đề kháng. Trong đó, cần thay đổi nhận thức của người dân về trách nhiệm của mình với những hành vi và nội dung đăng tải trên không gian mạng. Nâng cao nhận thức cho người dân để tự lọc những nội dung sai sự thật hoặc lừa đảo.

Chúng ta tiếp tục duy trì áp lực đấu tranh để các nền tảng xuyên biên giới phải tuân thủ pháp luật Việt Nam ở mức ngày càng cao hơn, để không gian mạng trong sạch hơn.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Nhóm phóng viên Văn hóa (thực hiện) 

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn tin đồn, tin giả - Bài 2: Khoảng trống thông tin khiến tin đồn, tin giả vẫn "nhởn nhơ"

Thứ sáu, 19/09/2025 - 05:49

“Tin đồn được đẩy đi bởi cảm xúc nhất thời, được “tiếp sức” bởi chính những người bị hại hay đôi co, giải thích. Điều khiến tin đồn “sống khỏe” do vẫn còn tồn tại khoảng trống thông tin ở cơ sở và công chúng chưa có kỹ năng quản trị truyền thông”, đó là chia sẻ của PGS, TS Bùi Chí Trung, Phó viện trưởng Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phóng viên (PV): Theo ông, bản chất của tin đồn trên mạng xã hội là gì và vì sao nó đang có dấu hiệu gia tăng?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Đầu tiên, chúng ta cần khẳng định, tin đồn không chỉ liên quan đến 1-2 người, không chỉ tác động đến 1-2 đối tượng mà có ảnh hưởng lớn đến cá nhân, cơ quan, tổ chức, xã hội và tác động đến các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Tin đồn vì thế không phải là hiện tượng mà cần phải xem là một vấn nạn của xã hội.

Đa phần tin đồn được chia sẻ, được đẩy đi bởi cảm xúc nhất thời của độc giả. Bản chất tin đồn được lan nhanh, được “tiếp sức” bởi chính những người bị hại hay đôi co, giải thích, khiến tin đồn từ bé xé ra to. Từ đó, người bị hại dễ rơi vào bẫy, khiến tin đồn bị những kẻ trục lợi khác thổi phồng sự việc, biến tướng thành những trạng thái tiếp theo khó kiểm soát. Điều đáng lo ngại, nhiều đối tượng tung tin đồn đều là những người có học thức và hiểu biết xã hội. Họ biết độc giả đang quan tâm những gì, biết được lỗ hổng trong quản lý thông tin để đánh trúng vào tâm lý người dân, lôi kéo và mê hoặc họ bằng những tin đồn xuyên tạc, bịa đặt.

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn tin đồn, tin giả - Bài 2: Khoảng trống thông tin khiến tin đồn, tin giả vẫn "nhởn nhơ"
 PGS, TS Bùi Chí Trung. Ảnh do nhân vật cung cấp

PV: Có ý kiến cho rằng, tâm lý, hành vi của người dùng mạng xã hội hiện nay đang góp phần nuôi dưỡng và lan truyền tin đồn. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Theo quy luật chung, người trẻ quan tâm đến tương lai, sự phát triển, thăng tiến nghề nghiệp, đến những thứ họ dấn thân và luôn khao khát cái mới. Tin đồn vì thế lan đến đánh đúng tâm lý về những điều giới trẻ coi trọng. Trong khi đó, các nguồn tin chính thống của chúng ta nhiều lúc đưa ra chưa được xử lý kỹ, chưa hiểu hết đối tượng tiếp nhận thông tin cần gì nên khó được đón nhận.

Ngoài ra, tâm lý của con người thường thích xem những nội dung sốc, sến, giật gân, câu view... Trong tin đồn có nhiều loại hình khác nhau: Tin đồn liên quan đến văn nghệ sĩ, tin đồn xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch, tin đồn về vấn đề trọng yếu của quốc gia... Cũng bởi nội dung phong phú, đánh trúng vào tâm lý, nên tin đồn đã và đang được "nuôi dưỡng" bởi chính người dùng mạng xã hội.

PV: Ông nhận định như thế nào về vai trò của các nền tảng mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc lan truyền tin đồn hiện nay?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là AI khiến việc giả giọng nói được thực hiện dễ dàng, rào cản ngôn ngữ bị xóa bỏ. Bởi thế, mọi lúc, mọi nơi, các thế lực thù địch cũng có thể tung tin đồn. Các thế lực chống phá sử dụng tin đồn làm nhiễu, tung tin nhiều đúng vào thời điểm quan trọng gây giảm sút uy tín của cá nhân, tổ chức.

Đa phần tin đồn xuất phát từ những thứ ta chưa kiểm chứng, vấn đề lịch sử, do những tồn tại khách quan. Theo thông lệ quốc tế, có những buổi làm việc, đàm phán hay thông tin chúng ta không thể công bố, khiến cho các đối tượng thù địch xuyên tạc. Gần nhất, tin đồn về đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là nội dung được rất nhiều người dân quan tâm, nhưng vì theo quy định, chúng ta không thể công bố cụ thể về quá trình đàm phán. Lợi dụng điều này, các đối tượng đã tung tin đồn nhằm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.

PV: Theo ông, tâm lý xã hội, đặc biệt trong bối cảnh biến động như dịch bệnh, thiên tai có làm người dân dễ tin vào tin đồn hơn không?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Tin đồn thường xuất hiện trong hoàn cảnh có vấn đề, trong trường hợp xung đột lợi ích. Khi xã hội có biến động lớn, tin đồn xuất hiện càng nhiều nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân, gây giảm sút uy tín của các cá nhân, tập thể. Điều tôi lo lắng là hệ miễn dịch tâm lý của một bộ phận người dân đang kém trong bối cảnh đang “chết đuối” trong bể thông tin hỗn độn trên mạng xã hội, nhưng lại “chết đói” về tri thức. Khi hệ miễn dịch kém thì “cơ thể” dễ nhiễm bệnh, dễ bị các đối tượng xấu xuyên tạc, kích động, dẫn dắt vào những nhóm, tổ chức nguy hại.

Trước những tin đồn, chúng ta phải có một tâm thế vững, bình tĩnh để phát hiện nguồn gốc của nó; và khi đã nắm được gốc rễ thì phải phản ứng quyết liệt bằng những luận cứ, sở cứ mạnh mẽ. Ví dụ, mới đây các đối tượng xấu đã xuyên tạc về hoạt động hợp tác tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam. Ngay sau khi có tin đồn, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ, đưa ra những lập luận, bằng chứng thuyết phục để nhanh chóng đập tan những tin đồn thất thiệt đó.

PVPhải chăng đang có một khoảng trống thông tin ở cơ sở tạo điều kiện cho tin đồn “sống khỏe”, thưa ông?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Có thể nói, các đối tượng đang tận dụng các khoảng trống thông tin từ các cơ quan chức năng tới nhân dân, từ đó tung tin đồn thất thiệt nhằm hạ bệ, gây giảm sút uy tín đối với cá nhân, tổ chức để trục lợi. Về vấn đề này, tôi cho rằng cần phải có một cuộc nghiên cứu, điều tra một cách toàn diện và tổng thể. Khi ta không thiếu thông tin, không còn khoảng trống thông tin ở cơ sở thì rất khó để độc giả lung lay. Các cụ ta có câu “trăm nghe không bằng một thấy”, giờ đây xung quanh cuộc sống có rất nhiều camera, khiến xã hội nhìn bằng một con mắt không giới hạn. Khi các vấn đề trở nên minh bạch, có nhiều góc quay thực tế thì có gì mà độc giả phải tranh cãi.

Điều quan trọng nhất của mỗi độc giả là cần phải xây dựng miễn dịch tự thân và miễn dịch thông tin. Điều tôi trăn trở là làm thế nào để có thể xây dựng cho học sinh, sinh viên về chuyên đề quản trị truyền thông. Chúng ta đã nói với nhau nhiều về quản trị tài chính, quản trị thời gian, quản trị sự nghiệp... trong khi quản trị truyền thông rất quan trọng thì chưa được quan tâm đúng mức.

Câu chuyện miễn dịch vẫn chưa đủ, trách nhiệm quản lý tin đồn thuộc về các cơ quan nhà nước. Lâu nay, nhiều cơ quan chức năng đến với doanh nghiệp một cách thụ động, đôi khi là một chiều vì có vấn đề bức bối mới nhảy lên kêu cứu. Đó là lỗ hổng để các đối tượng tung tin đồn gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức và xã hội.

Điều tôi lo lắng là hiện nay chúng ta chưa có một chế tài đủ sức răn đe đối với những đối tượng tung tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến các cá nhân, tập thể, doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp từng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tin đồn, song rốt cuộc vẫn chưa có người phải chịu trách nhiệm. Chúng ta chưa có cơ chế kịp thời, chính xác để lấp đầy khoảng trống thông tin ở cơ sở, chưa có công cụ đo lường thiệt hại của những doanh nghiệp vướng vào tin đồn. Khi những người bị hại ngày một nhiều thì hệ miễn dịch tâm lý cộng đồng ngày một kém, khi ấy “cơ thể” mang một lúc nhiều bệnh nền sẽ dễ bị tổn thương khi tiếp tục bị tin đồn "tấn công".

PV: Theo ông, làm thế nào để nâng cao "sức đề kháng" cho người dân trên mạng xã hội?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Gần đây, có ý tưởng cho rằng cần liên minh những người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOL) để tạo nên những “lô cốt” chống tin đồn trên mạng xã hội. Những KOL là người có sức ảnh hưởng, tiếng nói của họ, hình ảnh mà họ cung cấp sẽ đến nhanh và lan rộng đến cộng đồng. Khi các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin, các KOL có quyền phân tích các thông tin đó để mang đến những góc nhìn cho độc giả.

Tôi nghĩ rằng, ai cũng có thể trở thành KOL nếu có kỹ năng quản trị truyền thông tốt. Thay vì chỉ tập trung vào một vài KOL, chúng ta cần tạo ra thế hệ trẻ có tri thức, sự hiểu biết và có tư duy phản biện trước những tin đồn. Kỹ năng diễn đạt truyền thông, diễn ngôn, quản trị và khai thác thông tin hiện nay các bạn trẻ đang làm tốt và mỗi người hoàn toàn có thể trở thành một “lô cốt” chống tin đồn trên mạng xã hội.

Tin đồn là thứ không bao giờ hết, điều quan trọng là chúng ta ứng xử thế nào, đối phó thế nào để nó không lây lan trong cộng đồng. Đẩy lui tin đồn không phải là ngày một ngày hai có thể làm được mà là câu chuyện của nhiều thế hệ, phải xây dựng từ gốc rễ. Khi những người cao tuổi làm gương, các thế hệ con cháu được trang bị kiến thức, kỹ năng thì sẽ hình thành nên hệ miễn dịch tâm lý cho nhân dân trên mạng xã hội, giúp họ tự tin đối mặt và đối phó với các loại tin đồn. 

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

(còn nữa) 

NHÓM PHÓNG VIÊN VĂN HÓA (thực hiện)