Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ hai, 02/09/2024 - 08:51

Bôi nhọ hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chiêu bài thâm hiểm của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị nhằm phá hủy tận gốc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ trắng trợn xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam “thần thánh hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh phản bác luận điệu này là yêu cầu cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

1. Nhà văn Blaga Dimitrova của Bulgaria đã viết: “Niềm hy vọng có nhiều tên gọi khác nhau, song ở Việt Nam, niềm hy vọng được tượng trưng là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi đất nước còn chìm đắm trong đêm trường nô lệ, chính Người đã mở ra cánh cửa hy vọng cho dân tộc Việt Nam. Có lẽ, không ngôn từ nào có thể diễn tả hết được những cống hiến, hy sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Đảng và nhân dân Việt Nam”.

Không riêng nhà văn Blaga Dimitrova mà rất nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa quốc tế, các nguyên thủ đã ghi nhận, đánh giá Hồ Chí Minh là một nhân vật đã làm nên dấu ấn bước ngoặt vĩ đại không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn để lại những dấu ấn khó phai trong tiến trình lịch sử phát triển tư tưởng, văn hóa của nhân loại.

Thế nhưng, bất chấp sự thật đã được lịch sử khắc ghi, các thế lực thù địch lại luôn hằn học với điều đó, tìm mọi cách xuyên tạc, nói xấu cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với âm mưu “hạ bệ thần tượng”, họ không ngần ngại tuyên bố: Đảng Cộng sản Việt Nam “thần thánh hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ suy diễn rằng, để được nhân dân ủng hộ, Đảng phải có sức lôi cuốn.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh
 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, ngày 2-9-1945. Ảnh tư liệu

Để có sức lôi cuốn, Đảng phải coi trọng công tác tuyên truyền và trong tuyên truyền, phải đặt trọng tâm vào chính sách “thần thánh hóa lãnh tụ”. Họ lập luận rằng, “thần thánh hóa lãnh tụ” là thủ đoạn chính trị mà Đảng sử dụng để tập hợp, đoàn kết, nâng cao lòng tự hào dân tộc, để cổ vũ tinh thần, nô lệ hóa quần chúng; đồng thời, tạo bình phong, chỗ dựa an toàn, củng cố quyền lực cho những người lãnh đạo cấp cao hiện nay. Từ đó, họ quy chụp việc Đảng giữ gìn thi hài, xây dựng Lăng Bác; lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; vận động cán bộ, đảng viên, nhân dân học tập và làm theo Bác là “sùng bái cá nhân”, “thần thánh hóa lãnh tụ”.

2. Một số người thiếu thiện chí hoặc cố tình hướng lái dư luận lu loa rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người bằng xương, bằng thịt; “thần thánh hóa” đồng nghĩa với việc khai tử con người thật của Người. Rõ ràng, đây là luận điệu hết sức thâm độc, nham hiểm nhằm hạ thấp thanh danh, uy tín, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, qua đó nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo ra “khoảng chân không chính trị” trong xã hội để hệ tư tưởng tư sản chiếm chỗ, chi phối, hòng dẫn dắt Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Sự thật là các thế lực thù địch đã đánh đồng việc Đảng, nhân dân Việt Nam yêu quý, kính trọng, tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự “thần thánh hóa lãnh tụ”. Họ không nhận thức hoặc cố tình không hiểu rằng, lòng biết ơn, ghi nhớ công lao, tôn vinh những anh hùng, người có công với đất nước là truyền thống, đạo lý nhân văn và lẽ sống tốt đẹp của dân tộc, nhân dân Việt Nam. Truyền thống đó đã được đúc kết qua những câu tục ngữ như: “Uống nước nhớ nguồn”; “Ăn quả nhớ người trồng cây”...

Trải qua hàng nghìn năm lịch sử, người Việt luôn tôn kính, thờ phụng những anh hùng dân tộc, bậc tiền nhân có công lao to lớn với quê hương, đất nước. Vì vậy, việc xây dựng Lăng Bác và giữ gìn thi hài Người là hoàn toàn xuất phát từ sự yêu quý, kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, chứ không phải do Đảng “thần thánh hóa lãnh tụ” như các thế lực thù địch thêu dệt. Về điều này, xin nhắc lại lời nhà báo Hayde Xantamaria (Cu Ba) đã đánh giá: “Chủ tịch Hồ Chí Minh được người dân Việt Nam yêu quý như một người thân. Tình yêu của họ đối với Người vô cùng sâu sắc và không bờ bến. Đây không phải là tình yêu thần thoại mà là tình yêu và sự kính trọng thật sự”.

Trên thực tế, không riêng Việt Nam, mà nhiều nước trên thế giới cũng có văn hóa tôn vinh những người có cống hiến to lớn cho đất nước. Ở Mỹ, George Washington (1732-1799) là tổng thống đầu tiên, được người Mỹ suy tôn là “Người cha già của đất nước” và để vinh danh ông, Mỹ đã xây dựng Đài tưởng niệm Washington, công trình kiến trúc bằng đá cao nhất thế giới. Ở Ấn Độ, Mahatma Gandhi (1869-1948) được người dân hết sức tôn kính gọi bằng những cái tên thân thương như: Cha kính yêu, tâm hồn vĩ đại, lãnh tụ tinh thần của dân tộc. Ở Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông được coi là “hiện thân của nền Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”...  

3. Điều rất đáng tự hào là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được yêu quý, kính trọng ở Việt Nam mà Người cũng được nhân dân thế giới nể phục, tôn vinh. Năm 1987, tại khóa họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất”. Với nghị quyết này, UNESCO đã ghi nhận những đóng góp to lớn, quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với cả nhân loại, đồng thời tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những “nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại”.

 Từ đó đến nay, hoạt động vinh danh Người đã được tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, đến cuối năm 2023, đã có 37 tượng/tượng đài, 13 khu tưởng niệm, 6 trường lớp và 21 đại lộ, đường phố, công viên mang tên Hồ Chí Minh được xây dựng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những hoạt động đó xuất phát từ sự yêu mến, lòng kính trọng và công nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp của Hồ Chí Minh, hoàn toàn trái ngược với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh là bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ luận điệu “thần thánh hóa” cá nhân. Sinh thời, Người chưa bao giờ coi mình là “thánh nhân”, mà chỉ tự nhận là một người luôn đau đáu một nỗi niềm là làm sao cho đất nước được độc lập, nhân dân được tự do, có ăn, có mặc, có học... Nghiên cứu về Người, một học giả nước ngoài từng hỏi Thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Hồ Chí Minh là một con người hay một vị thánh?”.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã trả lời rằng: Hồ Chí Minh trước hết là một con người, cuối cùng cũng là một con người, còn vĩ đại như đức Chúa, đức Phật thì các bạn đã thừa nhận. Người cũng luôn gương mẫu và lên án những biểu hiện “sùng bái cá nhân”, “thần thánh hóa lãnh tụ”; đồng thời, đề cao vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, tôn trọng nhân dân, quan tâm, giải quyết những khó khăn, vướng mắc của nhân dân, tận tâm, tận lực, tận hiến cho cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân.

Không phải ngẫu nhiên mà David Hamberstam, phóng viên tờ báo New York Times (Mỹ) từng viết: “Trên thế giới có quốc gia người ta đề cao lãnh tụ dữ lắm, đó là sùng bái cá nhân. Còn cụ Hồ Chí Minh thì cương quyết không tìm cái vỏ bề ngoài lộng lẫy của quyền uy. Như thế cụ tự tin và tin chắc vào quan hệ của mình với dân tộc, với lịch sử, đến nỗi cụ chẳng cần đến tượng, đền đài, sách báo và những nhà nhiếp ảnh để chứng minh điều đó cho mình” (dẫn theo Giáo sư Trần Văn Giàu, sách “Hồ Chí Minh vĩ đại một con người”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia-Sự thật, năm 2013, trang 74-75).

Thực tế cho thấy, mỗi quốc gia trên thế giới đều có biểu tượng niềm tin của mình. Biểu tượng niềm tin kết tụ sức mạnh tinh thần, tình cảm, sự xác tín thiêng liêng của cả dân tộc và trở thành một trong những trụ lực vững chắc nhất để cộng đồng dân tộc ấy tồn tại, phát triển. Đụng chạm đến biểu tượng niềm tin của một dân tộc là đụng chạm đến tình cảm thiêng liêng của hàng triệu con người.

Thấm nhuần truyền thống, đạo lý của dân tộc, Đảng đã nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện về vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng. Tại Hội nghị Trung ương 9 khóa II (4-1956), Đảng ta khẳng định: Sự nghiệp cách mạng của Đảng là một sự nghiệp vĩ đại, do công lao to lớn của toàn Đảng, toàn dân và của Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch là lãnh tụ thiên tài của Đảng, của nhân dân, của dân tộc. Vì vậy, Đảng đề cao vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn kính Chủ tịch Hồ Chí Minh là một lẽ tự nhiên, thường tình, hợp đạo lý, hợp lòng dân.

Nhân dân, dân tộc Việt Nam kính yêu Chủ tịch Hồ Chí Minh bởi chính Người đã khai sáng, mở đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam đơm hoa kết trái, bởi Người đã trọn đời dâng hiến, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân và bởi Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, non sông, đất nước ta. Tình cảm, tình yêu, sự trân quý, ngưỡng mộ đó là hoàn toàn xuất phát từ trái tim muôn dân đất Việt, chứ không phải là sự gò ép gượng gạo, giả tạo.

Từ những luận cứ trên, có thể khẳng định, luận điệu Đảng Cộng sản Việt Nam “thần thánh hóa” Chủ tịch Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch là hoàn toàn vô căn cứ và không có cơ sở khoa học. Đây là sự xuyên tạc, vu cáo trắng trợn nhằm bôi nhọ, làm lu mờ hình ảnh, uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phủ nhận những đóng góp, cống hiến vĩ đại của Người đối với Đảng, nhân dân, dân tộc và cách mạng Việt Nam.

Trung tá, ThS NGUYỄN HẢI SINH, Khoa Công tác Đảng, công tác chính trị, Học viện Hậu cần 

Vị thế, uy tín của Việt Nam - minh chứng phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá

Thứ Hai, 02/09/2024, 07:01

Ngày Quốc khánh 2/9/1945 là dấu mốc chói lọi, hào hùng của lịch sử dân tộc, chấm dứt chế độ phong kiến tồn tại hàng nghìn năm, lật đổ ách thống trị của thực dân, đế quốc, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Với mỗi người dân Việt Nam dù ở trong hay ngoài nước, ngày Quốc khánh vừa thể hiện niềm tự hào dân tộc, vừa là giá trị cao quý, thiêng liêng.

Tuy nhiên, đứng ngoài niềm vui chung của cả dân tộc thì bằng nhiều thủ đoạn, phương thức khác nhau, các thế lực thù địch, các tổ chức, đối tượng phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức xuyên tạc, bóp méo hòng phủ nhận những thành quả to lớn đó. Họ tìm cách chỉ trích, miệt thị với những luận điệu như Việt Nam vẫn là một quốc gia nghèo nàn, kinh tế lạc hậu, đời sống nhân dân khó khăn, thiếu thốn, chính trị “o ép dân”, nhân quyền “bị đàn áp”… Từ đó, các đối tượng trên đưa ra luận điệu rằng, Việt Nam cần thay đổi thể chế theo hướng thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đi theo con đường TBCN thì mới phát triển giàu có, dân chủ, nhân quyền mới đảm bảo.

Những luận điệu xuyên tạc, bóp méo

Có thế thấy, những luận điệu trên luôn được các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị sử dụng trên không gian mạng, nhất là các trang như Tiếng Dân, Việt Tân, Việt Nam thời báo, Đài Á Châu tự do (RFA), VOA Tiếng Việt... Họ cho rằng, đi theo con đường XHCN là kéo đất nước vào cảnh nghèo khổ vì “chủ nghĩa Mác - Lênin dị ứng với sự giàu có”; rằng Việt Nam “không chịu phát triển”, “không thể phát triển” bởi Việt Nam “lạc nhịp” với thế giới, “sa lầy trong tư duy” về chủ nghĩa Mác - Lênin và CNXH. Họ ca ngợi CNTB là giàu sang, phú quý, là dân chủ, tự do, từ đó “khuyên” rằng, các thế hệ đi trước đã sai lầm khi lựa chọn đi theo CNXH thì ngày nay cần phải “mạnh dạn từ bỏ, chấm dứt”…

Vị thế, uy tín của Việt Nam - minh chứng phản bác các luận điệu xuyên tạc, chống phá -0
Ảnh minh hoạ.

Một số bài viết tiếp tục “lý luận” rằng, việc lựa chọn con đường bỏ qua chế độ TBCN để tiến thẳng lên CNXH ở Việt Nam là sai lầm, đẻ non, không đi theo quy luật; phê phán công cuộc đổi mới hiện nay là nửa vời, kinh tế thị trường định hướng XHCN là “đầu Ngô, mình Sở”.

Một số luận điệu cho rằng, con đường mà Việt Nam đang đi thì định hướng XHCN chỉ là hình thức, còn bản chất đã ngả theo TBCN!

Họ triệt để lợi dụng những sự kiện chính trị, đối ngoại lớn của Đảng và Nhà nước, những ngày lễ kỷ niệm trọng đại của đất nước, các vấn đề liên quan đến dân tộc, nhân quyền, tôn giáo, công tác phòng, chống tham nhũng hay những vấn đề tiêu cực trong đời sống xã hội để xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; bôi nhọ, nói xấu, hạ thấp uy tín cá nhân của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước; phủ nhận những thành quả cách mạng mà Việt Nam đã đạt được. Với mưu đồ phá hoại, từ lâu các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng và những thành quả cách mạng của Đảng, Nhà nước ta. Họ kích bác đường lối đổi mới ở Việt Nam là “mù mờ”, “thiên đường mù”, “không tưởng”…, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Trong dịp kỷ niệm Quốc khánh năm nay, các đối tượng lại cho rằng, sau 79 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, gần 50 năm thống nhất đất nước, 38 năm đổi mới, Việt Nam vẫn là nước tụt hậu, nhân dân đói nghèo, tham nhũng tràn lan, đạo đức suy đồi, xã hội vô kỷ cương, nhân quyền bị bóp nghẹt… Từ đó, các đối tượng hướng chỉ trích vào Đảng Cộng sản Việt Nam, “khuyên” người dân cần phải đấu tranh để thay đổi đường lối xây dựng đất nước thì đất nước mới phát triển, người dân mới có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, dân chủ.

Những thành tựu nổi bật khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam

79 năm đã trôi qua kể từ khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới, như đánh giá trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Về kinh tế, Việt Nam từ một nước bị chiến tranh tàn phá nặng nề, nông nghiệp lạc hậu nghèo nàn, quy mô nền kinh tế nhỏ bé, đi liền với đó là sự bao vây cấm vận về mọi mặt, GDP chỉ 26,3 tỷ USD trong những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90. Kể từ khi thực hiện công cuộc đổi mới 1986 đến nay, trong gần 40 năm qua, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt 430 tỷ USD năm 2023, GDP bình quân đầu người đạt mức 4.300 USD/năm, tăng 58 lần so với những năm đầu đổi mới, tỷ lệ hộ theo chuẩn nghèo đa chiều còn 2,9%.

Từ một nền kinh tế đóng cửa khép kín, Việt Nam thành một nền kinh tế có mức độ hội nhập toàn cầu sâu rộng khi trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD, thu hút lượng đầu tư lớn từ nước ngoài đạt 23 tỷ USD, đây là mức đầu tư cao nhất của Việt Nam từ trước đến nay, ngay cả khi các thị trường lớn bị thu hẹp và chuỗi cung ứng toàn cầu còn nhiều đứt gãy. Nếu xét về quy mô, nền kinh tế của nước ta đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Đến nay, có 72 quốc gia đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Về đối ngoại, Việt Nam từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 193 nước, trong đó có 3 nước quan hệ đặc biệt. Đến nay, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 7 nước, cùng với đó là 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Đặc biệt, nước ta hiện đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện hoặc đối tác chiến lược với tất cả 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, mở rộng quan hệ kinh tế - thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đảng ta đã có quan hệ với 253 đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, trong đó có 92 đảng Cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính.

Trong những năm gần đây, hầu hết nguyên thủ, lãnh đạo các nước lớn và các tổ chức quốc tế quan trọng, trong đó có Liên hợp quốc đều đến thăm, làm việc và có ấn tượng tốt về đất nước, con người Việt Nam; đồng thời lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chuyến thăm thành công đến các nước, đối tác trên khắp các châu lục.

Về đảm bảo quyền con người, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước của Liên hợp quốc về quyền con người như: Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội; Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về quyền của người khuyết tật…

Kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV (nhiệm kỳ 2021-2026), số lượng nữ đại biểu Quốc hội là 151 người, chiếm 30,26% (đạt tỷ lệ cao nhất từ trước đến nay); tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia Quốc hội khóa XV là 89 người, chiếm 17,84%. Từ năm học 2017-2018, đã có 22 tỉnh, thành phố tổ chức dạy học tiếng dân tộc thiểu số (715 trường); 8 ngôn ngữ của dân tộc thiểu số được đưa thành môn học...

Về an sinh xã hội, công tác xoá đói, giảm nghèo đạt kết quả nổi bật, đời sống của người dân ngày càng được cải thiện. Chỉ tính từ năm 2019 đến nay, GDP bình quân ở Việt Nam đã tăng 25%, tỷ lệ hộ nghèo giảm 1,5%/năm. Mạng lưới y tế dự phòng được tổ chức rộng khắp trên toàn quốc, gắn chặt với y tế cơ sở, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đã tăng từ hơn 81% năm 2016 lên mức 93,35% vào năm 2023; 85% người khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc và phục hồi chức năng…

Về nhà ở, đến năm 2020, đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Đến năm 2021, 90% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh. Bằng những sự thay đổi trên đã góp phần đưa tuổi thọ trung bình của Việt Nam trong 30 năm qua tăng 9 tuổi, từ 65,5 tuổi năm 1993 lên 74,5 tuổi năm 2023; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam được cải thiện rõ rệt, cao hơn nhiều so với các nước có cùng mức thu nhập; chỉ số hạnh phúc của Việt Nam tăng 11 bậc, từ vị trí 65 lên vị trí 54/143 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Tính đến đầu năm năm 2024, Việt Nam ghi nhận có khoảng 78,44 triệu người dùng Internet; số lượng người dùng mạng xã hội là khoảng 72,70 triệu người, chiếm 73,3% dân số. Đặc biệt, số lượng kết nối di động tại Việt Nam đạt tới 168,5 triệu, tương đương 169,8% dân số. Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới, đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á.

Tình hình chính trị - xã hội ổn định, an ninh, trật tự giữ vững là một trong những điểm sáng và là thế mạnh của Việt Nam trong một thế giới đầy biến động hiện nay. Việt Nam được xếp hạng tăng 4 bậc, lên vị trí 41/163 quốc gia, vùng lãnh thổ trong bảng xếp hạng chỉ số hòa bình toàn cầu năm 2023 về đánh giá mức độ yên bình quốc gia do Viện Kinh tế và Hòa bình (IEP, Australia) công bố. Trong bảng xếp hạng "Chỉ số chính phủ tốt Chandler" (Chandler Good Government Index-CGGI) năm 2022, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng mạnh mẽ về chỉ số "Bình đẳng thu nhập", tăng 33 bậc so với năm 2021, lên vị trí thứ 42. Việt Nam cũng tăng 18 bậc lên vị trí thứ 39 về chỉ số "Thu hút đầu tư"; chỉ số "Sự hài lòng với các dịch vụ công" xếp thứ 15 và "Bình đẳng giới" thứ 27. Nhìn chung, thành tích của Việt Nam ở các chỉ số "Thị trường hấp dẫn" (thứ 34) và "hỗ trợ phát triển con người" (thứ 43) cho thấy Chính phủ Việt Nam đã tập trung vào tiến trình phát triển nền kinh tế đất nước, đồng thời bảo đảm một xã hội công bằng hơn.

Quốc khánh 2/9/1945 là một trong những trang chói lọi nhất trong lịch sử của dân tộc ta, một dấu mốc lớn trên con đường phát triển trong suốt chiều dài mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Không chỉ là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc mà còn là sự kiện mang tầm vóc thời đại, có ý nghĩa quốc tế sâu sắc; nguồn cổ vũ, động viên, truyền cảm hứng đối với các dân tộc thuộc địa, nhân dân bị áp bức, bóc lột trên thế giới tiến lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm ngày Quốc khánh 2/9, từ tâm khảm mỗi trái tim của người dân Việt Nam trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài đều hướng về Tổ quốc thân yêu; cùng tưởng nhớ, tri ân hàng triệu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc; cùng tưởng nhớ và biết ơn công lao vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Là dịp để các thế hệ hôm nay và mai sau cùng nhau nhìn lại chặng đường gian khổ, hào hùng của cha ông để nâng cao lòng tự hào dân tộc, đoàn kết xây dựng quê hương, đất nước, đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, thù địch, các hành vi chống phá của kẻ địch, phần tử cơ hội.

Liêm Chính - Bình Nguyên 

Cảnh giác các luận điệu xuyên tạc về Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Thứ Sáu, 30/08/2024, 08:08

Hằng năm, vào dịp kỷ niệm ngày mất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại tìm cách xuyên tạc bản Di chúc bất hủ của Người. Đây vốn là văn kiện lịch sử vô giá kết tinh những nội dung cơ bản, cốt yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh, đòi hỏi chúng ta cần nhận diện và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc.

Luận điệu xuyên tạc bản Di chúc

Xuyên tạc Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị khai thác ở dưới nhiều góc độ khác nhau, nhân danh nghiên cứu khoa học, hội đàm, hội luận, mượn cớ bàn lại lịch sử, tìm tòi góc nhìn, cách tiếp cận mới để xuyên tạc Di chúc và tư tưởng của Người. Họ cho rằng, bản Di chúc chỉ “mang tính chất cá nhân” chứ không có giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với dân tộc, “không thật sự có giá trị” của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Họ xuyên tạc Di chúc “không thể hiện đúng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin” và ngày nay “không còn ý nghĩa”. Từ đó, họ tung ra những luận điệu sai trái như: Thực hiện Di chúc của Người về quyết tâm giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là “đẩy dân tộc Việt Nam vào cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt, tạo cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền, đưa đất nước đi theo con đường không có tự do, dân chủ, nhân quyền”; thực hiện Di chúc đẩy nhân dân “vào con đường nghèo đói, lạc hậu”; nội dung Di chúc “cho thấy sự bế tắc”… 

Để tầm thường hóa giá trị của Di chúc, một số đối tượng trích dẫn trong Di chúc để xuyên tạc. Trong Di chúc, Bác viết: “Tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Đây là cách nói giản dị, hóm hỉnh đời thường nhưng đối tượng xấu lại cho rằng, Bác Hồ khẳng định “đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin là có thế giới bên kia”, là “đặt nền móng khoa học tâm linh”, mê tín trái với khoa học, từ đó hướng lái để tuyên truyền xuyên tạc.

Mục đích của họ là xuyên tạc tư tưởng, hạ bệ thần tượng, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì thế, kịp thời nhận diện, đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc một cách có hiệu quả là góp phần bảo vệ, phát triển, nâng cao nhận thức, niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Văn kiện lịch sử vô giá

Di chúc - Bác khiêm tốn gọi là thư, song giá trị, ý nghĩa vô cùng to lớn. Di chúc là Bảo vật quốc gia - Quốc bảo, di sản tinh thần vô giá của dân tộc, của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Bản Di chúc thể hiện đầy đủ sự kết tinh những tinh hoa về tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, như Đảng ta đánh giá: “Hồ Chủ tịch đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta và nhân dân thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Người là linh hồn, là ngọn cờ chói lọi, lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết một lòng, chiến đấu anh dũng, viết nên những trang sử vẻ vang nhất của Tổ quốc ta”.

Căn dặn về xây dựng Đảng là di nguyện đau đáu được Người đề cập trên hết, trước hết trong Di chúc. Người khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam. Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, Người đã kết hợp chặt chẽ giữa nhận thức lý luận, hoạt động phong phú, tổng kết thực tiễn sâu sắc, xác lập hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Những quan điểm, tư tưởng đó là những vấn đề có tính quy luật, liên quan đến sự hình thành, vị trí, vai trò, bản chất, nội dung đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nhất là trong điều kiện trở thành Đảng cầm quyền. Tư tưởng của Người trở thành nguyên tắc tổ chức, hoạt động cơ bản của Đảng hiện nay là tập trung dân chủ, đoàn kết thống nhất, phê bình và tự phê bình, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân, tạo thành sức mạnh, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, cầm quyền của Đảng.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng về cán bộ và rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc của mỗi cán bộ, đảng viên. Chính vì lẽ đó, xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

Trong Di chúc, Người chỉ rõ: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng. Người nói “suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Thể hiện cả cuộc đời vĩ đại của Hồ Chủ tịch là tấm gương mãi mãi sáng ngời chí khí cách mạng kiên cường, lòng yêu thương nhân dân thiết tha, đạo đức cách mạng trong sáng, tác phong khiêm tốn, giản dị, suốt đời hy sinh, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân.

Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển thế hệ cách mạng đời sau vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng XHCN.

Mỗi lần đọc lại Di chúc thiêng liêng, mỗi chúng ta lại thấu cảm, thấm thía tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Thời gian càng xa, giá trị bản Di chúc càng tỏa sáng, trở thành định hướng chiến lược trong xây dựng Đảng, xây dựng, phát triển đất nước; mỗi cán bộ, đảng viên “học Bác lòng ta trong sáng hơn”, tự răn, tự soi, tự sửa, rèn luyện đạo đức, tác phong, năng lực, phấn đấu tốt, làm việc tốt hơn theo chức trách, nhiệm vụ của mình. Do đó, không thể ngụy biện xảo trá rằng, bản Di chúc chỉ “mang tính chất cá nhân” chứ không có giá trị chỉ đạo thực tiễn đối với dân tộc, “không thật sự có giá trị” của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Tiếp tục soi sáng con đường cách mạng Việt Nam

Quán triệt, thấm nhuần Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức, cán bộ và đạo đức làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh. Cụ thể hóa trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy định như Nghị quyết Trung ương 4 - khóa XI, XII, XIII, Quy định về những điều đảng viên không được làm, Quy định về kiểm soát quyền lực, về trách nhiệm nêu gương, về phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên thời kỳ mới, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực…

Chúng ta kiên định và trung thành với sự nghiệp, lý tưởng cách mạng của Người, kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng vĩ đại mà Người đã trọn đời cống hiến và hy sinh. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, nhờ phát huy được sức mạnh toàn dân tộc, với sự chung sức, đồng lòng phấn đấu không ngừng của lớp lớp cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã xây dựng đất nước ta “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như mong muốn của Người.

Trong giai đoạn cách mạng mới, Việt Nam hướng tới năm 2030 (kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng) và hướng đến năm 2045 (kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam) với mục tiêu: Phấn đấu đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng đất nước Việt Nam ta ngày càng "cường thịnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc", vững bước đi lên CNXH. Thực hiện mục tiêu trên, đất nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ, vận hội mới nhưng cũng đối mặt không ít khó khăn, thách thức. Vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục được khẳng định và phát huy, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng càng phải được nâng cao để đáp ứng yêu cầu mới.

55 năm Người đã đi xa nhưng bản Di chúc và tư tưởng của Người luôn sống mãi, tiếp tục dẫn dắt con đường cách mạng Việt Nam. Việc học tập, thực hiện tâm nguyện của Người trong Di chúc đã, đang và tiếp tục được toàn Đảng, toàn dân ta cụ thể hoá bằng các chủ trương, kế hoạch hành động cụ thể. Do đó, cần cảnh giác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, đả kích nội dung bản Di chúc cũng như việc học tập, thực hiện Di chúc của Người.

TS Lê Thế Cương 

Không thể xuyên tạc chủ trương thành lập Quỹ Công nghiệp quốc phòng, an ninh

Thứ hai, 26/08/2024 - 05:55

Việc thành lập Quỹ Công nghiệp quốc phòng, an ninh (QPAN) là chủ trương đúng đắn nhằm hỗ trợ ngân sách nhà nước phục vụ cho phát triển công nghiệp QPAN để chủ động bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Song, trên một vài trang mạng xã hội vẫn có thông tin cố tình xuyên tạc, bóp méo chủ trương này với âm mưu phá vỡ sự đồng thuận xã hội, gây mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, Quân đội hòng phục vụ mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch, phản động.

Theo quy định của Luật Công nghiệp QPAN và động viên công nghiệp (ĐVCN), Quỹ Công nghiệp QPAN là quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, được thành lập ở Trung ương, do Chính phủ quản lý để hỗ trợ triển khai thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, có tính mới, rủi ro cao hoặc nghiên cứu, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đặc biệt.

Tuy nhiên, sau khi Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN được Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV thông qua thì trên một vài trang mạng xã hội đã xuất hiện luận điệu xuyên tạc, quy chụp, như: "Bộ Quốc phòng muốn lập Quỹ Công nghiệp QPAN để chiếm đoạt ngân sách quốc gia”; "quỹ này là hình thức lách luật để bòn rút ngân sách lâu dài, có tính toán của phía Quân đội”... Các đối tượng phản động cố tình bóp méo mục đích, cơ chế hoạt động của Quỹ Công nghiệp QPAN với luận điệu: “Sản phẩm "mật" có tính rủi ro cao, chẳng khác nào những sản phẩm không bảo đảm chất lượng nhưng vẫn phải bảo mật thông tin, nghĩa là quỹ này sẽ chế tạo ra sản phẩm "mật", người dân không được biết thông tin, và nếu sản phẩm không có chất lượng thì đó là rủi ro, người dân không được lên tiếng ý kiến”...

Không thể xuyên tạc chủ trương thành lập Quỹ Công nghiệp quốc phòng, an ninh
 

Không thể xuyên tạc chủ trương thành lập Quỹ Công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Trước hết, cần khẳng định rõ, việc chuẩn bị Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN (trong đó có quy định thành lập Quỹ Công nghiệp QPAN) được tiến hành rất kỹ lưỡng, trong suốt thời gian dài, bảo đảm sự bài bản, cẩn trọng, phát huy dân chủ trên cơ sở cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với các bộ luật có liên quan và tình hình thực tiễn đất nước.

Từ đầu năm 2022, Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo đã xác định: Công nghiệp quốc phòng là ngành đặc thù, phải được chăm lo, xây dựng và phát triển theo một cơ chế đặc thù, được ưu tiên trong đầu tư, phát triển và coi trọng phát triển nguồn lực khoa học, công nghệ, huy động tối đa thành tựu của nền công nghiệp quốc gia phục vụ công nghiệp quốc phòng.

Cuối tháng 3-2024, trong Chương trình Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lần thứ năm, Quốc hội khóa XV, khi thảo luận về dự thảo Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN, đại đa số các đại biểu tán thành việc thành lập Quỹ Công nghiệp QPAN nhằm hỗ trợ ngân sách nhà nước phục vụ cho phát triển công nghiệp QPAN; coi đây là giải pháp, cơ chế đặc thù, vượt trội, có ý nghĩa chiến lược, nhất là trong triển khai các chương trình, dự án đầu tư có tính cấp bách, nghiên cứu, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đặc biệt, có tính rủi ro cao.

Tiếp đó, tại Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV (tháng 5-2024), khi thảo luận về dự thảo Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN, một lần nữa, đa số ý kiến đại biểu Quốc hội khẳng định, thành lập Quỹ Công nghiệp QPAN là rất cần thiết để bảo đảm yêu cầu xây dựng nền công nghiệp QPAN chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại.

Thực tế những năm qua cho thấy, công nghiệp QPAN là lĩnh vực có tính đặc thù cao; trực tiếp liên quan đến khả năng tác chiến, sức mạnh chiến đấu của các lực lượng vũ trang. Để đáp ứng yêu cầu tăng cường tiềm lực QPAN, bảo vệ Tổ quốc, cần có các cơ chế để huy động nguồn lực cho phát triển công nghiệp QPAN, nhất là các nhiệm vụ cấp bách hoặc nghiên cứu, chế tạo các sản phẩm mới, công nghệ cao, có tính rủi ro lớn. Trong khi đó, nguồn ngân sách QPAN của chúng ta thời gian qua chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm, nâng cấp vũ khí, trang bị kỹ thuật, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ. Việc bố trí ngân sách cho hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm chưa được thường xuyên, chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), để tiếp cận nhanh với nền khoa học, công nghệ tiên tiến trên thế giới, tiệm cận với các nước có nền công nghiệp QPAN phát triển, việc thành lập Quỹ Công nghiệp QPAN sẽ giúp giảm “gánh nặng” cho ngân sách nhà nước, tăng tính chủ động, linh hoạt trong bố trí nguồn lực, để các chuyên gia, nhà khoa học tập trung nghiên cứu phát triển, sản xuất sản phẩm mới, công nghệ cao phục vụ nền công nghiệp QPAN, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đặc biệt, tại phiên thảo luận ngày 30-5-2024 của Kỳ họp thứ bảy, Quốc hội khóa XV, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã chia sẻ: Nếu chúng ta sử dụng ngân sách theo quy trình của sử dụng ngân sách nhà nước thì có những trường hợp không đáp ứng được tính thời sự của nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và độ bảo mật cũng hạn chế hơn rất nhiều. Kinh nghiệm trên thế giới cho thấy, các quốc gia có nền công nghiệp quốc phòng phát triển đều xây dựng các quỹ tài chính phục vụ cho lĩnh vực công nghiệp quốc phòng với nhiều tên gọi, hình thức khác nhau.

Mặt khác, Điều 22 Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN đã quy định rõ việc Chính phủ thành lập, quản lý, sử dụng Quỹ Công nghiệp QPAN. Đồng thời, các nội dung về nguồn hình thành quỹ này được Luật Công nghiệp QPAN và ĐVCN quy định rất cụ thể, rõ ràng và có tính khả thi, nhất là khoản trích lập từ lợi nhuận sau thuế theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 21; nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước, ngoài nước; nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc hoạt động của Quỹ Công nghiệp QPAN cũng được quy định rõ: Không vì mục đích lợi nhuận; quản lý, sử dụng đúng mục đích, đúng pháp luật, kịp thời, hiệu quả; hỗ trợ triển khai thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, có tính mới, rủi ro cao hoặc nghiên cứu, chế tạo vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa chiến lược, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ đặc biệt. Đây chính là cơ sở pháp lý bảo đảm việc huy động, sử dụng Quỹ Công nghiệp QPAN được thực hiện đúng mục đích, công khai, minh bạch. Hoàn toàn không có cái gọi là “người dân không được lên tiếng ý kiến” như các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc, bóp méo.

Như vậy, có thể thấy, việc thành lập Quỹ Công nghiệp QPAN là rất cần thiết nhằm hỗ trợ triển khai thực hiện các nhiệm vụ cấp bách hoặc nghiên cứu phát triển sản phẩm QPAN. Quỹ này chính là nguồn lực quan trọng để đẩy mạnh xây dựng nền công nghiệp QPAN chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại; góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu đã được Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới và Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Trung tá, TS TẠ QUANG ĐẠO, Phòng Khoa học Quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị

Nhận diện và đấu tranh phản bác luận điệu sai trái về con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay (bài 2)

Thứ Ba, 27/08/2024, 05:25

Thực tiễn đất nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt ra yêu cầu cần tìm đường để giải quyết vấn đề độc lập dân tộc và tự do, dân chủ cho nhân dân. Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước biến nước ta trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến.

Xã hội Việt Nam lúc bấy giờ chịu sự chi phối bởi hai mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp: Mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt Nam và ách đô hộ của thực dân Pháp; mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với địa chủ phong kiến. Để giải quyết mâu thuẫn đặt ra đã có nhiều phong trào đấu tranh theo lập trường phong kiến và tư sản mặc dù anh dũng, yêu nước nhưng đã không tránh khỏi thất bại.

Mô hình CNXH ở nước ta ngày càng sáng rõ

Từ thực tiễn khủng hoảng, bế tắc, yêu cầu về con đường cứu nước, trong hành trình bôn ba nước ngoài, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh nghiên cứu lịch sử cách mạng Hà Lan, Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Trung Quốc…; tìm hiểu lịch sử cách mạng Nga, nhất là Cách mạng tháng Mười Nga (1917). Hồ Chí Minh nhận định: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật…

luan dieu.jpg -0
Đi lên Chủ nghĩa xã hội, đất nước ta ngày càng phát triển vững mạnh, thể hiện diện mạo mới.

Cách mệnh Nga dạy cho chúng ta rằng muốn cách mệnh thành công thì phải dân chúng (công nông) làm gốc, phải có đảng vững bền, phải bền gan, phải hy sinh, phải thống nhất. Nói tóm lại là phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin”. Sau khi trở thành người cộng sản, Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Đây là con đường có triển vọng giải quyết triệt để hai nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, mang đến độc lập dân tộc thật sự.

Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên (1930), Đảng ta xác định “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đại hội II của Đảng (2/1951) nêu rõ: “Đảng Lao động Việt Nam đoàn kết và lãnh đạo toàn dân kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn, tranh lại thống nhất và độc lập hoàn toàn; lãnh đạo toàn dân thực hiện dân chủ mới, xây dựng điều kiện để tiến đến CNXH”. Đại hội III (1960) khẳng định: “Đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”.

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Đại hội IV của Đảng (1976) chỉ rõ: “Cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là hoàn thành thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH”. Đại hội lần thứ V của Đảng (1982) nêu lên hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới: “Một là, xây dựng thành công CNXH; hai là sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Hai nhiệm vụ chiến lược đó quan hệ mật thiết với nhau”.

Đại hội lần thứ VI, Ðảng ta khẳng định: “Toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đoàn kết một lòng, quyết tâm đem hết tinh thần và lực lượng tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH được thông qua tại Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) xác định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện CNXH và CNXH là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộc”. Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996), Đảng tiếp tục xác định bài học quan trọng đầu tiên đối với cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới là: “Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong quá trình đổi mới; nắm vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Bước sang thế kỷ XXI, với nhiều cơ hội và thách thức mới, Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) khẳng định: Trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại hội lần thứ X (2006) của Đảng nhấn mạnh bài học: “Trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”. Và trong bối cảnh mới, tại Đại hội XIII Đảng ta xác định: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kiên định đường lối đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Thực tiễn sống động minh chứng cho sự lựa chọn đúng đắn

Nhờ giải quyết, xử lý đúng đắn quan hệ dân tộc và giai cấp, độc lập dân tộc và CNXH, Đảng ta đã quy tụ được sức mạnh toàn dân làm nên Cách mạng Tháng Tám (1945), đưa người dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân dân, đế quốc và các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam (1978) và biên giới phía Bắc (1979); thực hiện thành công công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay.

Từ khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, nhờ kiên định độc lập dân tộc và CNXH, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Việt Nam tiếp tục là điểm sáng của kinh tế toàn cầu, cơ bản đạt được mục tiêu tổng quát đề ra trên các lĩnh vực. Trong đó, năm 2023 kinh tế vĩ mô ổn định; lạm phát thấp hơn mục tiêu; nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách Nhà nước được kiểm soát; tăng trưởng được thúc đẩy; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng GDP cả năm khoảng 5%.

Chỉ số thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh qua các năm. Nếu như ở thời điểm năm 1988, GDP bình quân đầu người của nước ta chỉ có 86 USD thì đến năm 2023 ước đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD, tăng 160 USD so với năm 2022, tầng lớp trung lưu đang hình thành - hiện chiếm 13% dân số, tức khoảng hơn 13 triệu người.

Hiện nay, Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận là điểm sáng về công tác giảm nghèo và là quốc gia duy nhất ở châu Á thực hiện chương trình giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Theo báo cáo của Chính phủ về việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, ước tính tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023 còn 2,93%, giảm 1,1%; tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo còn khoảng 33%, giảm 5,62%. Công tác an sinh xã hội được thực hiện tốt cũng là một điểm nhấn góp phần mang lại cuộc sống hạnh phúc cho người dân như: hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi, trẻ em, người khuyết tật, thương binh, gia đình liệt sĩ... Cơ cấu mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội của cả nước ngày càng mở rộng đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ trợ giúp xã hội của đối tượng cần trợ giúp xã hội.

Bên cạnh đó, việc thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế được chú trọng, triển khai thực hiện với những kết quả tích cực. Tuổi thọ trung bình cũng tăng nhanh, năm 2023 là 73,7 tuổi, xếp vào nhóm cao giữa các quốc gia trong khu vực có mức thu nhập tương đương. Trong những năm qua, Việt Nam đã ngừng nỗ lực để người dân được sống trong một môi trường hạnh phúc. Điều này đã được ghi nhận qua việc tăng 12 bậc, từ vị trí thứ 77 lên 65 trong xếp hạng chỉ số hạnh phúc thế giới 2023 của Liên hợp quốc.

Ở Việt Nam, công dân tự do làm những việc mà pháp luật không cấm. Vấn đề tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do Internet… luôn được pháp luật tôn trọng, bảo vệ theo quy định của pháp luật. Nhà nước tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức tự do làm giàu chính đáng; mọi ý kiến, đóng góp xây dựng quê hương đất nước giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc luôn được khuyến khích, bảo vệ. Mọi người dân đều được hưởng lợi về chính sách giáo dục. Hệ thống giáo dục quốc dân phát triển, bảo đảm cho mọi công dân được thụ hưởng nền giáo dục công bằng và tiến bộ.

Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 7 nước đối tác chiến lược toàn diện, 11 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Trước một thế giới đầy biến động, diễn biến phức tạp khó lường, Việt Nam luôn là điểm đến của hòa bình, hữu nghị, nơi các nước lớn trên thế giới luôn xem Việt Nam là đối tác quan trọng. Mặt khác, công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày càng được được đẩy mạnh, kiên quyết, kiên trì với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” đã đạt được nhiều kết quả toàn diện, rõ nét, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Những nỗ lực vì con người, vì hạnh phúc nhân dân đã đạt được trong gần 40 năm đổi mới là to lớn, đánh dấu một bước tiến chưa từng thấy trên con đường xây dựng, phát triển đất nước, minh chứng thuyết phục cho tính chất ưu việt của con đường đi lên CNXH. Thực tế những chặng đường lịch sử cách mạng đã chứng minh, đi lên CNXH là con đường duy nhất đúng đắn của dân tộc Việt Nam. Mặc dù hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là vấn đề lâu dài với vô vàn khó khăn, thách thức, song toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta có quyền tự hào về những thành tựu đã đạt được. Kỷ niệm 79 năm ngày Quốc khánh 2/9 là dịp để chúng ta tăng cường hơn nữa tinh thần đoàn kết, tiếp tục đồng sức, đồng lòng vững bước trên con đường đã chọn và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Chu Thắng – Trịnh Thúy 

    Nhận diện và đấu tranh phản bác luận điệu sai trái về con đường đi lên CNXH ở nước ta hiện nay

    Thứ Hai, 26/08/2024, 04:45

    Ngày Quốc khánh 2/9 là dấu mốc chói lọi, hào hùng của lịch sử nước nhà, mở ra một kỷ nguyên mới độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội (CNXH). Chính nhờ đoàn kết, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH đã mang lại thành quả cách mạng như ngày hôm nay, đất nước hòa bình, ổn định, ngày càng phát triển phồn vinh, nhân dân ngày càng có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Thế nhưng bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động vẫn tìm mọi cách chống phá con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

    Luận điệu xuyên tạc, chống phá

    Ngay từ khi Việt Nam xác lập và quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH cũng là lúc các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội đòi thay đổi, từ bỏ con đường CNXH, muốn đất nước ta lùi về giai đoạn dân chủ nhân dân, đòi đổi tên Đảng, tên nước, công khai hô hào đi theo con đường Tư bản chủ nghĩa (TBCN).

    Gần đây, họ cho rằng, con đường mà Việt Nam muốn đi là thứ TBCN theo định hướng XHCN, nhưng con đường này không thể thành công vì không thể nào giải quyết thỏa hiệp giữa hai chủ nghĩa đối lập nhau.

    cã¡ch mạng thã¡ng tã¡m.jpg -0
    Mít tinh hưởng ứng cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại Quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội sáng 19/8/1945. Ảnh tư liệu

    Đặc biệt, sau khi mô hình CNXH ở Liên Xô, các nước Đông Âu sụp đổ và ngày nay CNTB đã có sự điều chỉnh, thích nghi, có những yếu tố mới, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị gia tăng các hoạt động công kích, chống phá chế độ. Họ cho rằng CNXH là “không tưởng” để ra sức bôi đen, bóp méo CNXH hiện thực. Gần đây, các thế lực thù địch đưa ra luận điệu vu cáo rằng: “Đất nước giành chính quyền 79 năm mà dân vẫn khổ cực, từ người già đến trẻ nhỏ, nam giới hay phụ nữ rời bỏ thiên đường để xâm nhập vào tư bản Mỹ”. Nguy hại hơn, các đối tượng phản động lợi dụng một bộ phận người dân khó khăn trong cuộc sống, một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất, có hành vi tham nhũng để miệt thị mục tiêu, lý tưởng của Đảng, dân tộc ta.

    Bên cạnh đó, họ công công khai ca ngợi, ra sức cổ súy, tán dương chế độ TBCN khi cho rằng CNTB đã thay đổi về bản chất, CNTB có thể hội tụ với CNXH trong thời đại hậu công nghiệp, văn minh tin học. Họ lấy một số khuyết điểm về quản lý kinh tế, quản lý xã hội để hạ bệ, phủ nhận CNXH, xuyên tạc rằng, ở nước ta không có CNXH. Hiện nay, Việt Nam đang ở trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH, họ lại đòi hỏi những nhân tố của CNXH phải xuất hiện đầy đủ.

    Không những thế, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tìm cách xuyên tạc lịch sử, đưa ra luận điệu lố bịch rằng vì mục tiêu XHCN mà Đảng ta gây ra cảnh chiến tranh cho dân tộc. Từ đó, các thế lực thù địch quy kết rằng chỉ có đi theo con đường TBCN thì mới giữ vững được nền độc lập, CNXH ở Việt Nam là ảo tưởng. Phương thức mà các thế lực thù địch sử dụng là triệt để khai thác tính năng của Internet như tốc độ lan truyền nhanh, lượng thông tin lớn, độ tương tác rộng; thiết lập nhiều tài khoản mạng xã hội như youtube, facebook, blog… để phát tán video, hình ảnh, bài viết có nội dung xấu độc, xuyên tạc hiện thực về thành quả thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

    Những luận điệu nói trên của các thế lực thù địch và những kẻ cơ hội tuy không mới nhưng hết sức nguy hại, mục đích nhằm gây sự hoài nghi, phá vỡ sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân ta đối với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước; tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN, hướng lái đất nước đi vào con đường TBCN. Chính vì vậy, việc đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch; củng cố, giữ vững sự kiên định niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta vào con đường XHCN là vấn đề vô cùng quan trọng của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

    Cần hiểu đúng về CNTB

    CNTB với tư cách là phương thức sản xuất được hình thành và thay thế phương thức sản xuất phong kiến trong lịch sử, là chế độ kinh tế - xã hội tiến bộ hơn nhiều so với các chế độ kinh tế - xã hội trước đó khi đã vận dụng hiệu quả quy luật của kinh tế thị trường, sau khi ra đời chưa đầy một thế kỷ đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.

    Trong lịch sử ra đời và tồn tại hơn 300 năm, CNTB đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ CNTB tự do cạnh tranh đến CNTB độc quyền, CNTB độc quyền nhà nước và ngày nay là CNTB hiện đại trong bối cảnh toàn cầu hóa. Mặc dù CNTB là chế độ ưu việt hơn so với các chế độ trước đó, có vai trò lớn trong việc nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội nhanh chóng, song xét về bản chất đây vẫn là chế độ bất công bởi những tiến bộ về kinh tế chủ yếu được sử dụng nhằm phục vụ cho lợi ích giai cấp tư sản, do đó CNTB càng phát triển thì các mâu thuẫn nội tại của nó càng sâu sắc. CNTB hiện đại ở một số nước có những thành tựu vượt bậc và điều chỉnh nhiều mặt nhưng về bản chất, mục đích không thay đổi. Sự điều chỉnh ấy là có giới hạn và mục đích thực chất của việc điều chỉnh là xoa dịu mâu thuẫn, vì lợi ích của giai cấp tư sản cầm quyền.

    Biểu hiện rõ nhất trong chế độ TBCN là sự bất bình đẳng trong quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, khi một bộ phận số ít trong xã hội nắm trong tay những tư liệu sản xuất chủ yếu thì đại bộ phận giai tầng trong xã hội đó dường như không có hoặc có rất ít tư liệu sản xuất. Hay sự phân cực ngày càng rõ nét trong sở hữu tài sản cho thấy sự bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng ở trong lòng nội tại các nước tư bản mà còn trên phạm vi thế giới. Khoảng cách về thu nhập giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển năm 1960 là 30 lần thì hiện nay là 70 lần và giá trị tài sản của các tỷ phú trên thế giới đã tăng gấp đôi trong 10 năm qua. Xét về phạm vi thế giới, tình trạng phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc khiến các nước nghèo ngày càng nghèo hơn, các nước giàu ngày càng giàu hơn. Theo đó, tài sản của 1% người giàu nhất cao hơn 74 lần so với 50% người nghèo nhất.

    Chênh lệch về thu nhập, mức sống, tài sản giữa người giàu và người nghèo trong thế giới tư bản rất lớn, xu hướng ngày càng gia tăng. Theo đó, trong một báo cáo của Oxfam, từ năm 2020, nhóm 1% những người giàu nhất đang nắm giữ gần 2/3 số tài sản mới của nhân loại, trị giá 42.000 tỷ USD, gần gấp đôi số tài sản của 99% nhóm dân số còn lại. Riêng trong 2 năm đầu của đại dịch COVID-19, tài sản của 10 người giàu nhất thế giới đã tăng gấp đôi từ 700 tỷ USD lên 1.500 tỷ USD; trong khi thu nhập của 99% nhân loại giảm xuống và thế giới có thêm hơn 160 triệu người rơi vào cảnh nghèo đói. Riêng tại Mỹ, số tỷ phú ngày càng nhiều và giá trị tài sản của họ tăng khoảng 30% kể từ khi bắt đầu xảy ra đại dịch COVID-19 và tăng gần 90% trong thập niên qua. Trong khi đó, khoảng 30% lực lượng lao động Mỹ kiếm được chưa đến 15 USD/giờ. Thực tế các con số này là minh chứng rõ nhất sự bất bình đẳng tại Mỹ cũng như giữa các quốc gia trong những thập niên gần đây. Vì thế, chính CNTB là một nguyên nhân dẫn đến sự bất bình đẳng giữa các quốc gia - dân tộc, là một nhân tố làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo.

    Hiện nay, khi nhân loại sản xuất ra được khối lượng của cải vật chất khổng lồ, có thể bảo đảm dôi dư lương thực, thực phẩm cho toàn bộ dân số thế giới, nhưng vẫn còn khoảng 900 triệu người nghèo đói, không đủ ăn. Trong khi đó, ngoại trừ vài trường hợp của các quốc gia công nghiệp hóa mới (NICs), tuyệt đại đa số quốc gia đang phát triển vẫn đang loay hoay tìm cách thoát khỏi cái bẫy thu nhập trung bình; tuổi thọ bình quân của người dân các nước công nghiệp phát triển hiện nay cao hơn 32 năm so với người dân các nước châu Phi (Nam Sahara).

    Không những vậy, CNTB ngày nay ngày càng bộc lộ bản chất cực đoan, hiếu chiến. Lịch sử cho thấy, CNTB chỉ vì lợi nhuận mà đã sử dụng mọi thủ đoạn để tranh giành thị trường, thuộc địa và phạm vi ảnh hưởng, kể cả phải dùng đến bạo lực để độc chiếm lợi nhuận một cách tối đa. Nhân loại chứng kiến các cuộc xâm lược, đàn áp, nô dịch của chủ nghĩa thực dân, đế quốc - sản phẩm của CNTB đối với các quốc gia - dân tộc khác, biến các nước có chủ quyền thành thuộc địa hoặc nửa thuộc địa. Hơn bất kỳ các quốc gia – dân tộc trên thế giới, chính dân tộc Việt Nam đã kinh qua sự tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Hai cuộc chiến tranh thế giới và hàng trăm cuộc xung đột, chiến tranh, chạy đua vũ trang đều có sự góp mặt của CNTB. Ngày nay, trong thế giới tư bản vừa cạnh tranh, vừa liên kết, trong đó thành lập các liên minh bất chấp luật pháp quốc tế sử dụng sức mạnh kinh tế, quân sự để buộc các quốc gia phải lệ thuộc, đe dọa quyền tự quyết của các dân tộc.

    Những dẫn chứng trên cho thấy, CNTB không thể và không phải là tương lai của nhân loại mà “XHCN là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hoà với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm” như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vì thế, mọi quan điểm cổ xúy, tán dương, tuyệt đối hóa CNTB và phỉ báng CNXH là sai lầm, cực đoan. (Còn nữa)

    Chu Thắng – Trịnh Thúy

    Phê phán nhận thức lệch lạc về bảo đảm chính sách tiền lương cho lực lượng vũ trang

    Thứ năm, 22/08/2024 - 05:38

    Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nghị quyết, chính sách liên quan đến cải cách tiền lương, trong đó có tiền lương của LLVT.

    Đây là những quyết sách đúng đắn, phù hợp, góp phần xây dựng LLVT nhân dân theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, một số người đã có nhận định sai trái khi cho rằng, “cán bộ, chiến sĩ LLVT thời nay có phải chiến đấu, hy sinh đâu mà được bảo đảm tiền lương cao hơn các thành phần hưởng lương khác”. Đây là nhận thức lệch lạc cần phải phê phán.

    Việc cải thiện tiền lương cho LLVT là phù hợp với ý Đảng, lòng dân

    Tiền lương là một trong những động lực quan trọng hàng đầu để bảo đảm cuộc sống cho các đối tượng được hưởng lương trong khu vực công nói chung, LLVT nói riêng, Đảng ta đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm đổi mới chính sách tiền lương, tạo điều kiện cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ LLVT ngày càng có mức thu nhập ổn định, cải thiện cuộc sống tốt hơn.

    Phê phán nhận thức lệch lạc về bảo đảm chính sách tiền lương cho lực lượng vũ trang
    Ảnh minh họa: TTXVN 

    Trên cơ sở quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng về “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại”, Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội đề ra chủ trương: “Đến năm 2025 cơ bản hoàn thành việc điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại, phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại”.

    Đảng ta xác định, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của cả hệ thống chính trị, trong đó LLVT giữ vai trò nòng cốt. Đây là cơ sở, tiền đề để bảo đảm đất nước có môi trường chính trị ổn định, hòa bình để thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, phồn vinh. Để thực hiện tốt nhiệm vụ chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay, điều có ý nghĩa căn cốt là phải chăm lo xây dựng LLVT vững mạnh, có sức mạnh chiến đấu, sức mạnh tổng hợp ngang tầm với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

    Hoạt động với cường độ áp lực cao, không kể thời gian, không gian, thời tiết, khí hậu, ở đâu gian nan, nguy hiểm nhất ở đó đòi hỏi cán bộ, chiến sĩ LLVT phải có mặt kịp thời. Với tinh thần “Vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh”, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, cán bộ, chiến sĩ LLVT đã không ngại khó khăn, gian khổ, chấp nhận hy sinh về nhiều mặt để cống hiến, dấn thân, xông pha, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

    Tuy vậy, một bộ phận cán bộ, sĩ quan trong LLVT hiện nay, nhất là sĩ quan cấp úy công tác ở các đơn vị vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới gặp nhiều khó khăn về đời sống do tiền lương thấp, mức thu nhập có hạn. Điều đó ít nhiều ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm, nhu cầu chính đáng của cán bộ, sĩ quan và gia đình, hậu phương của họ. Trong khi đó, đời sống xã hội có nhiều chuyển biến, nhiều ngành nghề có lợi thế trong xã hội với mức thu nhập tương đối khá so với mức thu nhập của sĩ quan, nhất là sĩ quan cấp úy.

    Nói như vậy không có nghĩa đánh đồng toàn bộ LLVT hiện nay phải đối diện với những khó khăn mà sinh ra nhụt chí, không hoàn thành nhiệm vụ. Dù khó khăn đến đâu, LLVT vẫn luôn hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, là chỗ dựa vững chắc cho nhân dân trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ nơi đâu. Chúng ta còn nhớ câu nói của Thiếu tướng Nguyễn Văn Man, Phó tư lệnh Quân khu 4 vào tháng 10-2020: “Việc thì gấp, vì nhiệm vụ, vì nhân dân chúng ta phải làm”; “Nhân dân đang cần chúng ta từng giờ, từng phút, dù khó khăn thế nào cũng phải đi, kể cả có hy sinh”. Đó cũng là lần cuối cùng, vị tướng và 12 đồng đội được phục vụ nhân dân rồi hy sinh, vĩnh viễn nằm lại đất mẹ tại Rào Trăng (Thừa Thiên Huế).

    Từ giữa năm 2021, đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp tại nước ta, nhất là các tỉnh phía Nam, khi sức khỏe và tính mạng của nhân dân bị đe dọa nghiêm trọng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta kịp thời có mặt ở những vùng tâm dịch, với tinh thần: “Chống dịch như chống giặc”, “Giúp dân là mệnh lệnh trái tim”. Rất nhiều việc làm có ý nghĩa thiết thực được triển khai như: Bộ đội nhường nơi ở, tiếp tế lương thực, thực phẩm cho nhân dân, thực hiện nhiệm vụ hỏa táng, mang tro cốt những người không may bị tử vong do dịch Covid-19 về từng gia đình. Vào thời điểm đó, có những cán bộ, chiến sĩ phải làm nhiệm vụ chống dịch trong khi người thân mất cũng không thể về chịu tang. Điển hình như Trung tá QNCN Trương Minh Dũng công tác ở Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng TP Hồ Chí Minh, do đang làm nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19 nên anh không thể về chịu tang khi nghe tin cha mất. Anh đành ngậm ngùi gác lại việc riêng để cùng đồng đội làm tròn nhiệm vụ của một quân nhân.

    Nhận thức lệch lạc về chính sách tiền lương cho LLVT là sai cả lý và tình

    Sau gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, kinh tế tăng trưởng khá cao, quá trình phát triển, kinh tế luôn gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội thì việc bảo đảm thu nhập cho người dân nói chung và LLVT nói riêng là rất quan trọng.

    Từ Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về cải cách chính sách tiền lương, Chính phủ giao các cơ quan chức năng xây dựng phương án để trình Quốc hội khóa XV tại Kỳ họp thứ bảy. Ngày 29-6-2024, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết của kỳ họp, trong đó thống nhất thực hiện các nội dung cải cách tiền lương, điều chỉnh mức lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội, trợ cấp người có công từ ngày 1-7-2024. Mức lương cơ sở của cán bộ, công chức, viên chức và LLVT tăng từ 1,8 triệu đồng lên 2,34 triệu đồng. Việc cải cách tiền lương theo các nội dung xác định trong Nghị quyết số 27-NQ/TW sẽ được tiến hành theo lộ trình, bảo đảm chặt chẽ, khoa học, phù hợp với thực tiễn.

    Như vậy có thể thấy, việc tăng lương cho khu vực công, trong đó có LLVT là hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tiễn, qua đó khích lệ tinh thần cống hiến, sáng tạo, nâng cao trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi công vụ. Đối với LLVT, do tính chất lao động đặc biệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ đất nước, bảo vệ tài sản Nhà nước, bảo vệ tài sản và tính mạng nhân dân nên bảng lương dành cho LLVT cần được nghiên cứu và có tính đặc thù là cần thiết.

    Tuy nhiên, thời gian gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện ý kiến cho rằng: “Bộ đội, công an thời bình có hy sinh gì đâu mà mức lương đặc thù cao hơn công chức khác”. Đây là suy nghĩ chưa đúng và không thấy hết những cống hiến, hy sinh của cán bộ, chiến sĩ LLVT. Đáng tiếc là một bộ phận người dân hùa theo luận điệu này và có những bình luận thiếu thiện chí trên mạng xã hội. Đó chính là một trong những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    Trên thực tế, dù gặp không ít khó khăn, vất vả trong cuộc sống, công việc và mức độ thu nhập, nhưng cán bộ, chiến sĩ LLVT vẫn một lòng tận trung với Đảng, với Tổ quốc, tận hiếu với dân, kiên trì bám trụ địa bàn, bám trụ đơn vị để sẵn sàng và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ được giao. Tự nguyện cống hiến, hy sinh vì bình yên của Tổ quốc, vì cuộc sống của nhân dân, tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ LLVT không hề so đo, tính toán thiệt hơn, mà luôn có “tâm trong, trí sáng”, vững vàng bản lĩnh trong mọi hoàn cảnh, xứng đáng là chỗ dựa tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Do đó, mọi luận điệu xuyên tạc, lời lẽ bình luận ác ý, thiếu thiện chí về chính sách cải thiện tiền lương của LLVT hiện nay là sai cả về lý và tình.

    Những người xuyên tạc, bình luận thiếu thiện chí về tiền lương của LLVT không biết có thấm thía lời ca “Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ biết dành phần ai”? Trong xã hội, nếu ai cũng muốn “việc nhẹ, lương cao” thì ai sẽ gánh vác nhiệm vụ bảo vệ non sông bờ cõi của tổ tiên, ông cha để lại? Trong khi đó, bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh trật tự là công việc hệ trọng, nhiệm vụ nặng nề, tính chất gian khổ mà những người ngày đêm lặng thầm với sứ mệnh đó vẫn đang phải đối mặt với bao khó khăn, hiểm nguy, thậm chí lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh cả tính mạng mình cho cộng đồng, Tổ quốc thì liệu họ có xứng đáng được hưởng những đồng lương tương xứng với những gì họ đang đánh đổi? Đây là câu hỏi mà bất cứ người nào có lương tri cũng nên trả lời một cách thấu đáo, thỏa đáng.

    Như vậy, có thể khẳng định, cùng với bảo đảm chính sách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức trong khu vực công, việc đổi mới chế độ, chính sách tiền lương cho cán bộ, chiến sĩ LLVT là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp trong tình hình hiện nay. Việc làm này cũng không ngoài mục đích động viên, khuyến khích, tạo động lực tích cực cho cán bộ, chiến sĩ LLVT thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và cuộc sống yên bình, hạnh phúc của nhân dân.

    QUỐC QUÂN - TÀI TIẾN - ĐỨC CẨM