Lại tung hỏa mù sau phiên tòa xét xử Phạm Thị Đoan Trang

 08:34 17/12/2021

Ngày 14/12, TAND TP Hà Nội đã mở phiên tòa hình sự xét xử sơ thẩm bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (SN 1978, trú tại quận Đống Đa, Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Trước, trong và sau thời điểm diễn ra phiên tòa, một số cá nhân, tổ chức chống phá ngoài nước kêu gọi Nhà nước Việt Nam phải trả tự do cho Phạm Thị Đoan Trang, đồng thời vu cáo Việt Nam đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, nhà “đấu tranh dân chủ”, “hoạt động nhân quyền”. Đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc nhằm cổ súy cho hành vi vi phạm pháp luật của Phạm Thị Đoan Trang và các đối tượng chống đối khác.

Karin Deutsch Karlekar, Giám đốc Chương trình Tự do bày tỏ trước rủi ro tại “Tổ chức Văn bút Mỹ” (PEN) đã đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: "Cộng đồng quốc tế đã nói rõ rằng việc giam giữ Phạm Thị Đoan Trang đang diễn ra là không thể chấp nhận được". Không những vậy, người này còn đưa ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình Việt Nam: "Với sự coi thường luật pháp quốc tế một cách trắng trợn, chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục cố gắng trừng trị bà vì tội viết lách ôn hòa và vận động cho nhân quyền. Thật không may, việc giam giữ Trang chỉ là một trong nhiều vụ án hình sự có động cơ chính trị chống lại các nhà báo và những người bảo vệ nhân quyền, cho thấy sự thất bại có tính hệ thống của chính phủ Việt Nam trong việc duy trì quyền tự do ngôn luận và các quyền cơ bản khác".

Cổ súy cho những luận điệu trên, Tổ chức Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW) cố tình xuyên tạc “chính quyền Việt Nam cần gỡ bỏ mọi cáo buộc mang tính chất chính trị và trả tự do ngay lập tức cho Phạm Thị Đoan Trang”. Trong khi đó, một nhóm có tên là “Nhóm công tác của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc về giam giữ tùy tiện” công bố bản “thông cáo kết luận việc chính quyền bắt giam Phạm Thị Đoan Trang” với những lập luận suy diễn, vô căn cứ. Bản “thông cáo” của nhóm này viết: “Suốt từ khi bị bắt, bà Trang không được gặp người thân và việc bà gặp luật sư bị đình trệ rất lâu. Do đó, các quyền của bà Trang theo Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) đã bị vi phạm”. Đồng thời, nhóm này cũng kêu gọi chính quyền Việt Nam “trả tự do ngay lập tức cho Phạm Thị Đoan Trang”.

Trước đó, từ tháng 11/2021, “Luật Khoa tạp chí” cùng “The Vietnamese Magazine” và “The 88 Project” đã phát động một chiến dịch viết thư gửi cho Phạm Thị Đoan Trang, với những nội dung đại ý rằng, Phạm Thị Đoan Trang là một nhà báo chân chính, dám đi ngược với số đông để nói lên sự thật và “ánh sáng của tự do từ những quan điểm của Phạm Thị Đoan Trang sẽ luôn soi rọi đến bất cứ nơi nào có tăm tối, bất công”.

Phạm Thị Đoan Trang không còn là cái tên xa lạ với nhiều người. Được biết đến là một người có tư tưởng, hành vi chống đối quyết liệt, Phạm Thị Đoan Trang là tác giả của nhiều cuốn sách có nội dung hướng dẫn, kích động các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân như “Chính trị bình dân”, “Cẩm nang nuôi tù”, “Phản kháng phi bạo lực”… Theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang từng tốt nghiệp trường Hà Nội - Amsterdam và Khoa Kinh tế, Đại học Ngoại thương Hà Nội. Sau khi ra trường, Trang làm phóng viên cho báo điện tử Vnexpress trong 2 năm, sau đó làm nhân viên Công ty quảng cáo HAKI, nhân viên Công ty Truyền hình kỹ thuật số VTC, cộng tác viên báo Vietnamnet và có gần 3 năm làm phóng viên báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh. Năm 2013, do xuất cảnh đi nước ngoài không xin phép nên Trang đã bị cơ quan chủ quản kỷ luật buộc thôi việc.

Trong chuyến xuất cảnh trái phép này, Trang đã bị một số đối tượng chống đối chính quyền dẫn dắt, móc nối, lôi kéo. Trở về nước, Trang trực tiếp thành lập và tham gia điều hành nhiều hội, nhóm bất hợp pháp, đồng thời, đứng sau lôi kéo lập nhóm “Du ca Sài Gòn”, “Tuổi trẻ làm đẹp quê hương”, tụ tập, khuếch trương lực lượng chống đối trong nước, tập hợp lực lượng chống đối trong giới văn nghệ sĩ, trí thức trẻ. Đoan Trang cũng lập và điều hành các trang mạng “Luật khoa tạp chí”, “Phamdoantrang.com”, “The Vietnamese”, viết, tán phát nhiều bài viết, cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kích động lật đổ chế độ.

Cũng theo hồ sơ vụ án, Phạm Thị Đoan Trang là thành viên cốt cán của Tổ chức VOICE và được số đối tượng cầm đầu tổ chức này giao phụ trách nhân sự, trực tiếp tuyển lựa, duyệt người trước khi đưa ra nước ngoài để huấn luyện, đào tạo cách thức hoạt động chống phá chính quyền. Trang cũng là một trong những người sáng lập và duy trì hoạt động của Nhà xuất bản Tự do - một tổ chức dân sự trá hình, hoạt động “chui”, chuyên xuất bản, in ấn và phát hành các ấn phẩm có nội dung tiêu cực, xuyên tạc, kích động bạo lực, chống phá Đảng, Nhà nước.

Theo cáo trạng, từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm ra, tàng trữ, lưu hành nhiều tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Cụ thể, Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu như: "Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam"; "Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam"; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam"... Đây là những tài liệu có nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, Trang xác nhận mình là tác giả của báo cáo nghiên cứu về luật tín ngưỡng, tôn giáo. Trang cùng nhóm tác giả viết báo cáo này bằng tiếng Anh, sau đó dịch ra tiếng Việt và đăng tải trên trang điện tử do mình lập ra. Nhiều lần trả lời phỏng vấn đài nước ngoài như BBC News tiếng Việt và Đài Á Châu tự do (RFA), Trang đã có phát ngôn tuyên truyền các nội dung thông tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.

Cáo trạng khẳng định, Phạm Thị Đoan Trang phải chịu trách nhiệm hình sự vì nhiều lần thực hiện hành vi làm ra, tàng trữ và lưu hành các tài liệu có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ, HĐXX nhận định, hành vi tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân của Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với mục đích cố ý xâm phạm chế độ XHCN và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, hiểu và biết rõ hậu quả hành vi, tuy nhiên vẫn tích cực thực hiện trong thời gian dài.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khai báo thành khẩn, phạm tội nhiều lần, cần thiết xử phạt nghiêm minh. HĐXX đã tuyên phạt Phạm Thị Đoan Trang 9 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” quy định tại Điều 88, BLHS năm 1999.

Bản thân Phạm Thị Đoan Trang là người có nhận thức, hiểu biết, từng công tác tại một số cơ quan báo chí nhưng lại vi phạm pháp luật thời gian dài, có tư tưởng chống đối sâu sắc, hoạt động chống phá chính quyền nhân dân quyết liệt. Việc Phạm Thị Đoan Trang chịu án phạt tù là lẽ hiển nhiên. Ấy thế nhưng, một số cá nhân, tổ chức lại đăng tải những thông tin, luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, vu cáo Việt Nam.

Đưa những luận điệu sai trái trên, các cá nhân, tổ chức chống phá trước hết nhằm xuyên tạc bản chất của vụ án, xuyên tạc quá trình điều tra, truy tố, xét xử Phạm Thị Đoan Trang. Đồng thời, lấy cớ vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những người “bất đồng chính kiến”, những người “hoạt động nhân quyền”. Cũng như những đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, các cá nhân, tổ chức thù địch mượn cớ vụ án nhằm gây sức ép, bôi nhọ, làm mất uy tín, hình ảnh của Việt Nam với quốc tế, từ đó can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Mặt khác, thông qua những luận điệu này, các cá nhân, tổ chức trên còn muốn đánh bóng tên tuổi Phạm Thị Đoan Trang cũng như các cá nhân hoạt động chống Đảng, Nhà nước dưới danh nghĩa “nhà dân chủ”, nhà “hoạt động nhân quyền”, từ đó cổ súy cho hành vi phạm pháp của các nhân tố chống đối trong nước, tập hợp lực lượng, gây bất ổn từ bên trong.  Thủ đoạn trên tuy không mới nhưng lại hết sức nguy hiểm bởi nó có thể hướng lái sự chú ý của dư luận quốc tế và làm cho một số người hiểu sai sự thật, thậm chí một số cá nhân vì thiếu hiểu biết mà tin theo, bị dẫn dắt hoặc vì động cơ khác mà dẫn đến hành vi sai trái, chống phá đất nước, đi ngược lại với lợi ích quốc gia.

Nguyễn sơn

Đánh giá nền dân chủ không thể dựa vào một… hội nghị

 06:44 13/12/2021

Những ngày qua, trên nhiều báo chí nước ngoài, diễn đàn mạng xã hội, các trang truyền thông của các tổ chức phản động lưu vong người Việt liên tục có các bài viết nhắc đến Hội nghị thượng định về dân chủ, tổ chức tại Hoa Kỳ. Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ (Summit for Democracy) theo sáng kiến của Tổng thống Mỹ Joe Biden diễn ra trong hai ngày 9 và 10/12/2021, theo hình thức trực tuyến. Tham gia hội nghị này có đại diện của hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Theo thông cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ, trong hai ngày họp, hội nghị tập trung vào những thách thức và cơ hội mà các nền dân chủ đang phải đối mặt, cung cấp một diễn đàn để các nhà lãnh đạo công bố những cam kết, cải cách và sáng kiến nhằm bảo vệ nền dân chủ và nhân quyền ở trong nước và ngoài nước.

Đáng chú ý, trước, trong và sau khi hội nghị diễn ra, báo chí quốc tế và nhiều diễn đàn bàn về danh sách khách mời. Với chỉ hơn 100 quốc gia, vùng lãnh thổ được mời, bản danh sách còn thiếu nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ, bao gồm cả những nước lớn như Nga, Trung Quốc… Từ việc suy diễn Việt Nam không có tên trong danh sách mời, các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hào hứng “mở cờ trong bụng”, coi đây là lý do để đẩy mạnh thực hiện các hoạt động công kích, chống phá Việt Nam. Đồng thời, nó cũng trở thành cái cớ để các đối tượng tấn công, quy chụp rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền.

Thực tế, Hội nghị này do Mỹ đứng ra tổ chức nên việc mời quốc gia nào, mời bao nhiêu hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích của người tổ chức. Ngược lại, việc quốc gia được mời có tham gia hay không tham gia cũng không phải là tiêu chí để đánh giá nền dân chủ của một quốc gia.

Theo trang tin Theepochtimes, mục đích của việc tổ chức hội nghị trên nhằm giúp cho chính quyền Mỹ đánh giá những tiến bộ về dân chủ của các quốc gia hướng đến việc đưa lãnh đạo các quốc gia, các tổ chức xã hội dân sự các khối tư nhân vào làm việc cùng nhau. Hội nghị thượng đỉnh các nền dân chủ là kế hoạch hành động mới nhất mà chính quyền Tổng thống Biden đã, đang thực hiện nhằm giải quyết vấn đề “thách thức của thời đại chúng ta”.

Theo Tổng thống Biden, đây là sự cần thiết phải thể hiện rằng “các nền dân chủ có thể thành công thông qua việc cải thiện đời sống của người dân nước mình và bằng việc giải quyết những vấn đề lớn nhất mà toàn thế giới rộng lớn đang phải đối mặt”. So với các hội nghị khu vực, hội nghị toàn cầu khác như Hội nghị thượng đỉnh G7, Hội nghị thượng đỉnh G20, Hội nghị cao cấp Á Âu… thì hội nghị do một quốc gia đơn phương đứng ra tổ chức chưa thể hiện được vai trò và tác động đối với quốc tế.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ đã giúp cho Mỹ lật đổ chính quyền hoặc can thiệp vào một số quốc gia nhưng đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Xét từ phương diện nào thì nhân quyền trong một xã hội vẫn luôn phải thể hiện qua thực tiễn cuộc sống. Nhân quyền không phải khái niệm trừu tượng, không phải là những khẩu hiệu chung chung, mà có thể quan sát, khảo sát, đánh giá một cách toàn diện đến từng lĩnh vực hoạt động cụ thể của xã hội, con người. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn phấn đấu để vấn đề dân chủ, nhân quyền ngày càng hoàn thiện, phát triển, cuộc sống mọi mặt của toàn dân ngày càng được nâng cao.

Nhìn từ lịch sử cách mạng, phải khẳng định rằng ngay cả trong hoàn cảnh khó khăn nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam vẫn cố gắng chăm lo cuộc sống mọi mặt của người dân. Bởi đó là bản chất, là mục tiêu nhất quán của một Nhà nước của dân, do dân, vì dân, đó cũng là nỗ lực để hiện thực hóa điều Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”.

Đến nay, Việt Nam là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015; được Tổ chức Nông nghiệp và lương thực thế giới trao giải thưởng thành tích xuất sắc trong xóa đói, giảm nghèo. Những đóng góp tích cực và hiệu quả của Việt Nam vào mục tiêu chung là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền cơ bản của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt như: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, giáo dục...

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm với tỷ lệ phiếu đồng thuận rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2014-2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Tại khu vực, uy tín của Việt Nam được thể hiện qua vai trò Chủ tịch Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) 2020, đồng thời là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR theo hình thức trực tuyến diễn ra cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam trên cương vị Chủ tịch AICHR 2020 là đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước các tác động của đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, Việt Nam không chỉ quan tâm thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân ASEAN, đặc biệt chú trọng đến nhóm yếu thế như thúc đẩy quyền của phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, gắn kết tình hữu nghị, thống nhất, tạo đồng thuận và hợp tác trong AICHR. Đặc biệt là nỗ lực bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng các quốc gia ASEAN đánh giá cao. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Không phủ nhận rằng trong quá trình quản lý, phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam còn có những tồn tại, khiếm khuyết, trong đó có việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân. Tuy nhiên, cần nhận thức rõ về mặt nguyên tắc, nền dân chủ của Việt Nam là một nền dân chủ có kỷ cương, có tổ chức, có hệ thống. Trong xã hội Việt Nam, bảo đảm quyền dân chủ, nhưng phải bảo đảm đúng pháp luật và giữ vững sự ổn định xã hội. Bảo đảm dân chủ vừa là quyền, vừa là mục tiêu hướng đến của chế độ, vì vậy mỗi người dân cần nỗ lực hơn nữa để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền dân chủ theo đúng quy định của Hiến pháp và pháp luật. 

Quan hệ Việt - Mỹ đã đạt nhiều bước tiến quan trọng trên tất cả các lĩnh vực, tiếp tục phát triển ổn định, đi vào chiều sâu trên cơ sở, nguyên tắc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau và cùng có lợi”. Đặc biệt, hai bên đã phối hợp để tìm hiểu, đối thoại về vấn đề dân chủ, nhân quyền, thu hẹp những quan điểm khác biệt. Mới đây, Đối thoại Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam lần thứ 25 được tổ chức ngày 9/11 tại Thủ đô Washington.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng thành tựu cụ thể, bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, thể hiện rõ ở vị thế và tín nhiệm. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó, do quốc gia nào đó tổ chức như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân.

Bình Nguyên - Hoàng Ly

Bài 3: Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa (tiếp theo và hết)

15/12/2021 05:00

Những cố gắng cao nhất của Việt Nam trong thực hiện quyền con người không phải để đối phó với các thế lực thù địch khi họ cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Bản chất của vấn đề quyền con người mà Việt Nam đang phấn đấu là vì giá trị tiến bộ của nhân loại, vì quyền lợi chính đáng của dân tộc, của mỗi người dân đất Việt.

Quyền con người và trách nhiệm công dân

Đối với các quốc gia, các tổ chức quốc tế về quyền con người của Liên hợp quốc (LHQ) được luật pháp quốc tế thừa nhận, không phải tất cả đã hiểu về tình hình thực tế thực hiện quyền con người ở Việt Nam. Có nhiều người trong số này chưa từng được mắt thấy tai nghe, họ đã nhìn và đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam qua chiếc lăng kính méo mó.

Với những quốc gia, tổ chức đó, chúng ta luôn chủ trương đối thoại, trao đổi, giải thích trên quan điểm hướng đến sự đồng thuận. Cách giải quyết đó để các bên hiểu biết về nhau hơn, cùng nhận thức, thống nhất về cách tiếp cận để đạt đến chân lý và hướng đến giải quyết được một vấn đề nhất định, đồng thời bác bỏ các thông tin sai lệch.

Việt Nam luôn xuất phát từ sự chân thành trên cơ sở tôn trọng, thiện chí trong hợp tác, bình đẳng, trên cơ sở pháp lý. Đối thoại nhân quyền giữa Việt Nam với châu Âu, Mỹ hằng năm vẫn diễn ra trên cơ sở hướng tới sự hiểu biết, tin cậy.

Tại phiên đối thoại với Cao ủy nhân quyền LHQ, Khóa họp lần thứ 47 của Hội đồng Nhân quyền LHQ vừa qua, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam Lê Thị Tuyết Mai, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam bên cạnh LHQ, Tổ chức Thương mại thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva (Thụy Sĩ) đã khẳng định, chủ trương nhất quán của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; bày tỏ ủng hộ đối với công việc của Cao ủy Nhân quyền LHQ và các cơ chế nhân quyền LHQ, ủng hộ tiến hành đối thoại thực chất, mang tính xây dựng về các vấn đề nhân quyền.

Bài 3: Nỗ lực của Việt Nam trong tiến trình hiện thực hóa (tiếp theo và hết)
Những việc làm thiết thực của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền cũng là cơ hội để Việt Nam tăng cường vị thế, uy tín đất nước. Ảnh: vtv.vn 

Chính sách của Nhà nước Việt Nam là nhất quán. Đối với hoạt động của các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, thù địch, lợi dụng dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ chính trị của Việt Nam thì đó không phải là đối tác của đối thoại mà là đối tượng của đấu tranh không khoan nhượng.

Những người này là ai? Không khó điểm mặt, chỉ tên. Họ là những cá nhân, tổ chức thuộc một số thế lực cực hữu, một số phần tử cực đoan trong chính phủ, quốc hội ở một số nước; các tổ chức, cá nhân là người Việt phản động sống lưu vong ở nước ngoài như Tổ chức Việt Tân, “Quỹ người Thượng” của Ksor Kok, “Hội gia đình tù nhân chính trị Việt Nam”...

Trong một diễn biến mới nhất, khi Việt Nam ứng cử vào vị trí thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2 (2023-2025) thì các thế lực chống đối này liên tục chống phá, công kích. Họ không muốn Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền...

Không biết do không hiểu hay cố tình xuyên tạc luật quốc tế về nhân quyền, những đối tượng chống đối, vu khống về nhân quyền luôn hô hào đòi quyền lợi nhưng lại lờ đi nghĩa vụ. Họ chỉ xem quyền con người là quyền của cá nhân, trong khi luật quốc tế về quyền con người quy định rõ ràng quyền và lợi ích của cá nhân, quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Không bao giờ tồn tại quyền lợi mà không đi kèm nghĩa vụ, hay có nghĩa vụ mà không có quyền. Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin với mục tiêu vĩ đại nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng con người, tất cả vì con người thì khi bàn về quyền con người C.Mác đã khẳng định: “Không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”.

Ở bất cứ quốc gia nào, người dân cũng phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định, theo quy định của pháp luật. Chính Điều 29, Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ”.

Lời nói đầu trong hai công ước quyền con người năm 1966 cũng đều nhấn mạnh: “Mỗi cá nhân trong khi được hưởng thụ các quyền cần tôn trọng tự do của người khác và tôn trọng trật tự xã hội, lợi ích của cộng đồng”. Như vậy, việc các thế lực thù địch chỉ nhấn mạnh quyền con người mà không đề cập đến trách nhiệm của công dân khi phải chấp hành pháp luật nhà nước là rất phiến diện.

Việt Nam tích cực đóng góp cho nhân loại tiến bộ

Không ai có thể phủ nhận những nỗ lực trong thực hiện quyền con người cùng những đóng góp quan trọng của Việt Nam cho sự nghiệp quyền con người của nhân loại. Ngay từ khi trở thành thành viên của LHQ từ năm 1977, Việt Nam đã tham gia tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển của tổ chức này, trong đó có Ủy ban Nhân quyền của LHQ.

Từ đó đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các văn kiện quyền con người cơ bản, bao gồm các công ước quốc tế và nghị định thư liên quan về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của LHQ về quyền con người, 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO).

Khi Hội đồng Nhân quyền LHQ thành lập vào năm 2006, nhận thức được tầm quan trọng đó, Việt Nam đã tích cực đóng góp cho tổ chức này. Năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016.

Một điều khá đặc biệt trong lần ứng cử đầu tiên này là sự tín nhiệm, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế khi Việt Nam trúng cử với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới.

Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế và các cá nhân có tiếng nói trên cộng đồng quốc tế, sở dĩ Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền LHQ với sự tín nhiệm cao là vì những thành tựu to lớn trên lĩnh vực bảo đảm quyền con người mà Việt Nam đã đạt được, đặc biệt trên lĩnh vực bảo đảm các quyền dân sự, chính trị; kinh tế, xã hội và văn hóa.

Điều này thể hiện rất sinh động, thuyết phục trong các thành tựu về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. Đặc biệt, từ đại dịch Covid-19 trên toàn thế giới cho thấy, Việt Nam đã nỗ lực ở mức cao nhất nhằm bảo đảm chăm sóc sức khỏe người dân, chăm lo thúc đẩy quyền con người trên các lĩnh vực.

Trong nhiệm kỳ 2014-2016, Việt Nam được đánh giá cao về sự tích cực và chủ động, đồng thời cũng chính là điều phối viên của ASEAN tại Hội đồng Nhân quyền LHQ. Những sáng kiến mà Việt Nam đã chủ động cùng các nước đưa ra như: Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái...

Chính các nước phương Tây cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền LHQ; trong nhiều trường hợp, Việt Nam làm trung gian trong các cuộc thương lượng.

Tại Hội nghị cung cấp thông tin về công tác nhân quyền cho báo chí do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức ngày 28-9-2016, bà Hoàng Thị Thanh Nga, Phó vụ trưởng Vụ Các tổ chức quốc tế, Bộ Ngoại giao cho biết: “Sự nghiêm túc và có trách nhiệm của Việt Nam được thể hiện trong việc tham gia phát biểu, thảo luận tại hàng trăm cuộc họp, xây dựng và thương lượng các nghị quyết, quyết định của Hội đồng Nhân quyền LHQ, đóng góp vào việc bảo đảm các giá trị chung về quyền con người”.

Ngày 22-2-2021, Việt Nam tuyên bố tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Điều đó cho thấy, Việt Nam thực sự có trách nhiệm và luôn nỗ lực trong việc thực hiện quyền con người cả về chính sách cũng như thực tiễn.

Để chuẩn bị cho nhiệm kỳ mới, Việt Nam đã có quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng, có trách nhiệm và đã thể hiện cam kết với cộng đồng quốc tế qua phát biểu tại Phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021 của Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới".

Quá trình Việt Nam hội nhập sâu rộng trong đời sống quốc tế cũng là quá trình Việt Nam cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Những việc làm thiết thực của Việt Nam trong thực hiện nhân quyền cũng là cơ hội để Việt Nam tăng cường vị thế, uy tín đất nước.

Từ Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020, bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam cho rằng: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”. 

NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI

Bài 2: Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường

 14/12/2021 05:00

Trong khi Việt Nam luôn nỗ lực để thực hiện tốt nhất những quyền chính đáng của con người, đồng thời ngày càng khẳng định là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế bởi những đề xuất, sáng kiến và thành tựu về nhân quyền được cộng đồng quốc tế tôn trọng và thừa nhận thì các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên sử dụng vấn đề nhân quyền để chống phá Việt Nam. Vậy mục đích của sự chống phá này là gì?

Sự thật đằng sau những lời kêu gọi

Sử dụng nhân quyền làm công cụ để chống phá chế độ chính trị ở Việt Nam đã được các thế lực thù địch triệt để lợi dụng, nhất là từ sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Mục tiêu của sự chống phá này không khó nhận diện, đó là xuyên tạc, phủ nhận các giá trị lý luận, thực tiễn và kết quả về quyền con người mà Việt Nam đã đạt được trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, tôn giáo, dân tộc, thông tin, tư pháp, quốc phòng, an ninh... nhằm thúc đẩy sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam và xác lập cơ chế đa nguyên, đa đảng. Có thể dẫn chứng:

Như thường lệ, năm 2021, tổ chức nhân quyền Freedom House (một tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Hoa Kỳ) đã đăng tải bảng chấm điểm chỉ số tự do của các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Freedom House là một trong số vài tổ chức phi chính phủ thường đưa ra cái nhìn thiếu thiện cảm về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Qua phân tích của nhiều học giả thì những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam là thông qua các tổ chức, cá nhân đang chống phá Việt Nam. Năm 2021, tổ chức này chấm điểm tự do của Việt Nam là 19/100 điểm, trong đó họ liên tục cố tình hạ thấp điểm tự do về quyền dân sự, chính trị. Freedom House luôn cho rằng Việt Nam "không có tự do internet, người dân Việt Nam gần như bị cấm truy cập vào mạng xã hội, không có quyền bầu cử, không có tự do tôn giáo...". Hùa theo cách nhìn nhận ấy, trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch cũng liên tục đăng tin trên những trang thuộc các cơ quan truyền thông vốn thiếu thân thiện với Việt Nam, như: BBC, RFI, RFA, VOA... cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người hòng tạo dư luận quốc tế.

Bài 2: Lộ chân tướng những kẻ rút gạch chân tường
 Quyền con người - khát vọng của nhân loại tiến bộ. Ảnh minh họa: TTXVN

Cũng với mục đích và cách thức hoạt động như Freedom House, một số tổ chức được hỗ trợ bởi tiền của nhiều thế lực, như: Tổ chức ân xá quốc tế, Tổ chức theo dõi nhân quyền, Tổ chức phóng viên không biên giới... cũng thường xuyên đưa ra những đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam rất thiếu cơ sở, mang thái độ hằn học. Một số tổ chức phản động, lưu vong đội lốt dân chủ, nhân quyền như Việt Tân, Triều đại Việt, Mạng lưới nhân quyền Việt Nam... cũng liên tục xuyên tạc. Điển hình là mỗi khi có công dân Việt Nam có hành động, hành vi chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và bị cơ quan chức năng xử lý theo quy định của pháp luật thì các thế lực chống đối lại vu khống, xuyên tạc rằng Việt Nam "ngăn cản tự do ngôn luận, không cho công dân tự do bày tỏ chính kiến...", khiến cho một số người thiếu thông tin đã có những nhận thức sai lệch về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Vậy thực chất việc đưa ra các con số báo cáo, lên lớp về vấn đề nhân quyền của các tổ chức, cá nhân này có phải vì muốn Việt Nam tốt đẹp hơn không? Câu trả lời là: Không. Bản chất của những kẻ lợi dụng vấn đề nhân quyền để xuyên tạc, chống phá Việt Nam để nhằm phá rối trong nước, khiến quốc tế có cái nhìn sai lệch về Việt Nam, từ đó hạ thấp uy tín, vị thế, hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đã phải đánh đổi bằng xương máu để gây dựng.

Những tiến bộ về luật pháp và thực tiễn không thể xuyên tạc

Trong khi một số tổ chức, cá nhân luôn tìm cách xuyên tạc về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì ở chiều ngược lại, Liên hợp quốc-tổ chức đa phương lớn nhất hành tinh lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về phát triển con người và thực hiện các quyền con người trong thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Thực tế ở Việt Nam cũng chứng minh, đánh giá của Liên hợp quốc về Việt Nam là xác đáng.

Một trong những thành tựu không thể phủ nhận là Việt Nam đã luôn quan tâm để hoàn thiện hệ thống luật pháp về lĩnh vực quyền con người. Điều này được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong Hiến pháp-đạo luật gốc, quan trọng nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương; hiến định rõ ràng địa vị pháp lý của cá nhân, của công dân trong mối quan hệ với nhà nước. Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 và đặc biệt là Hiến pháp năm 2013, chế định quyền con người, quyền nghĩa vụ của công dân giữ vị trí quan trọng. Đặc biệt, Hiến pháp năm 2013 được dư luận đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Cùng với Hiến pháp, Việt Nam tham gia một loạt công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Sau 35 năm đổi mới, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong đó chú trọng xây dựng pháp luật về quyền con người, quyền công dân tương đối toàn diện, phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước và từng bước tương thích với các quy định quốc tế về quyền con người. Một điểm sáng của Việt Nam luôn được quốc tế ghi nhận đó là, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội Việt Nam luôn dành ưu tiên, tập trung cho việc ban hành các đạo luật về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên các lĩnh vực.

Ngày 22-2-2021, tại Phiên họp cấp cao của Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh trong bài phát biểu thông báo về việc Việt Nam tham gia ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 đã nhấn mạnh: "Việt Nam tin tưởng mạnh mẽ rằng, bảo đảm cho xã hội an toàn trước các dịch bệnh như Covid-19 là cách tốt nhất để bảo đảm cho mỗi thành viên trong xã hội được thụ hưởng đầy đủ các quyền con người. Chúng tôi tiếp tục ưu tiên thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, các quyền tự do cơ bản của người dân, kể cả trong thời điểm khó khăn nhất hiện nay”. Dịch bệnh đã gây ra những thiệt hại to lớn cho toàn thế giới, dù vậy, Nhà nước Việt Nam đã chấp nhận hy sinh về tăng trưởng kinh tế để nỗ lực cao nhất nhằm bảo đảm quyền lợi của người dân, bảo đảm an sinh xã hội. Điều này, cộng đồng quốc tế đã ghi nhận và luôn coi Việt Nam là hình mẫu. Đây chỉ là một trong rất nhiều việc làm đã chứng minh cho lời nói và hành động của Việt Nam trong nỗ lực bảo đảm quyền con người. Nó cũng đủ sức nặng để đập tan những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Theo đánh giá của Liên hợp quốc, Việt Nam đã giảm được một nửa tỷ lệ đói nghèo trong hơn một thập kỷ qua và nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Khác với một số quốc gia chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị dẫn tới chênh lệch giàu nghèo rất nghiêm trọng, Việt Nam quan tâm xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Song song với phát triển kinh tế đất nước, hầu hết các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội, chỉ số phát triển con người... ở Việt Nam đều có sự tiến bộ qua từng năm. Quyền của các nhóm yếu thế như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi... có những bước tiến rõ rệt. Theo Báo cáo các chỉ số phát triển con người do Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thực hiện và công bố năm 2019 cho thấy: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng chỉ số HDI cao nhất thế giới. 

Về bình đẳng giới, các tổ chức quốc tế đánh giá Việt Nam là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, hiện xếp thứ 68/162 nước về chỉ số phát triển giới. Sự cải thiện, chăm sóc sức khỏe của người dân thể hiện ở các tiêu chí như cơ sở khám, chữa bệnh công lập và ngoài công lập, số giường bệnh, số bác sĩ/10.000 dân đều tăng. So với chuẩn quốc tế thì Việt Nam có mức độ phân hóa giàu nghèo thấp hơn nhiều nước trong khu vực cũng như trên thế giới.

Thực tiễn sinh động ở Việt Nam khác xa những báo cáo khô cứng, cũ kỹ mà các thế lực thù địch luôn xào xáo qua các năm. Ở Việt Nam, các quyền công dân về bầu cử, ứng cử, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận... luôn được bảo đảm. Mặc dù các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Việt Nam không có tự do internet nhưng thực tế đã bác bỏ hoàn toàn điều đó. Theo con số thống kê, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất trên thế giới. Khoảng 70% dân số Việt Nam sử dụng internet và điện thoại di động. Năm 2020, số người dùng Facebook ở Việt Nam là gần 70 triệu người. Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn tạo điều kiện tốt nhất cho các tôn giáo hoạt động, luật pháp cũng quy định rất rõ để tôn giáo được bảo vệ. Điều 24 Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam khẳng định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo luôn được coi trọng và thường xuyên được tổ chức. Trong các năm 2008, 2014, 2019, Liên hợp quốc đã chọn Việt Nam làm địa điểm và đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản. Những minh chứng này đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Trong Báo cáo hạnh phúc thế giới thường niên năm 2021 do Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố: Năm 2021, Việt Nam tăng 4 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 83 lên 79. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ dựa trên 6 tiêu chí: GDP trên đầu người, tuổi thọ, quyền tự do, sự hào phóng, phúc lợi xã hội và tình trạng tham nhũng.

(còn nữa)

 NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ

 13/12/2021 05:00

Tuyên ngôn Quốc tế về quyền con người (UDHR) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1948 khẳng định: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi".

Là một đất nước đã phải trải qua những năm dài bị đô hộ, chiến tranh tàn phá, dân tộc Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị, khát vọng để giành lại những quyền cơ bản vốn có của con người. Bởi thế, mọi sự xuyên tạc, vu khống, chống phá Việt Nam về vấn đề nhân quyền đều trở nên lạc lõng. Không thế lực bên ngoài nào có quyền ban phát, hay từ chối thành tựu lớn lao về quyền con người của dân tộc Việt Nam.

Bài 1: Sự áp đặt khiên cưỡng và xa lạ

Quyền con người là thành tựu chung của nhân loại và luôn là khát vọng cháy bỏng của con người dù bất kể chế độ chính trị nào.

Dù vậy, đã từ lâu, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại sử dụng quyền con người như một vũ khí lợi hại để chống phá Việt Nam, mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phá bỏ con đường mà nhân dân Việt Nam đã lựa chọn.

Thành tựu không phải của riêng phương Tây

“Lập lờ đánh lận con đen”, các thế lực thù địch chống phá, xuyên tạc sự thật về tự do, dân chủ ở Việt Nam tự cho rằng: “Quyền con người là thành tựu riêng có của phương Tây”... Từ sự nhận xằng đó, họ áp đặt “các giá trị phổ quát”, lấy nhân quyền cao hơn chủ quyền để ra điều kiện với Việt Nam với ý đồ chống phá chứ không phải vì mục tiêu là sự tiến bộ.

Điều đương nhiên, không phải chỉ đến cách mạng tư sản với sự ra đời của nhà nước tư sản mới có quyền con người. Thực chất, quyền con người xuất hiện từ khi con người ý thức về sự tồn tại của mình và ý thức về nhu cầu, lợi ích cá nhân trong các quan hệ xã hội.

Tư tưởng và nội hàm về quyền con người đã xuất hiện từ sớm và tồn tại trong mọi nền văn hóa. Về bản chất, quyền con người là các quyền bẩm sinh thuộc sở hữu vốn có của mọi người, nó gắn liền với hành động công nhận, thừa nhận chứ không phải là ban phát, từ chối hay tước đoạt vô cớ. Nó bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người, đó là các quyền và tự do cơ bản của con người trên lĩnh vực quyền dân sự, chính trị; quyền kinh tế, xã hội và văn hóa. Lịch sử phát triển của xã hội, xét đến cùng đều là lịch sử đấu tranh vì quyền con người. Điều đó càng khẳng định chân lý, quyền con người là giá trị chung của nhân loại.

Quyền con người-khát vọng của nhân loại tiến bộ
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Khẳng định như vậy có ý nghĩa hết sức quan trọng vì nó chỉ ra nguồn gốc của quyền con người. Tuy vậy, thuật ngữ “quyền con người” ra đời khá muộn, gắn liền với cuộc cách mạng tư sản nên nó thường bị lợi dụng để gây hiểu lầm rằng nó là thành tựu của riêng phương Tây.

Chúng ta có đầy đủ cơ sở để bác bỏ quan điểm sai trái, coi quyền con người là phát kiến, là giá trị riêng có của các nước phương Tây. Đây cũng là cơ sở để góp phần khắc phục các biểu hiện phiến diện, cực đoan, quay lưng, khước từ những giá trị tiến bộ, văn minh hoặc chấp nhận sự áp đặt mô hình của nước này cho nước khác.

Lịch sử đã chứng minh, những tư tưởng về quyền con người cũng như những quy định trong luật pháp và kết quả đạt được về quyền con người là thành quả đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, qua mọi thời kỳ phát triển.

Đó cũng là thành quả của cuộc đấu tranh của loài người làm chủ thiên nhiên; qua đó, quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Vì là giá trị chung của nhân loại nên tất cả các quốc gia, dân tộc không phân biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển đều có quyền thụ hưởng và có nghĩa vụ bảo vệ, phát triển giá trị xã hội cao quý này.

Áp đặt là vô nghĩa

Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật khó chấp nhận.

Một số nước này luôn sử dụng “tiêu chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát” nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của Việt Nam.

Thực tiễn đang chứng minh một nghịch lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng xa hơn.

Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).

Một số nước phương Tây hiện nay vẫn đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.

Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.

Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...

Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.

Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người.

Một yếu tố quan trọng khác trong xem xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo).

Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.

Việc một số nước nào đó tự cho mình quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.

Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”. 

Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.

Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.

Mục 7, Điều 1 Hiến chương Liên hợp quốc khẳng định: “... Hoàn toàn không cho phép Liên hợp quốc được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào, và không đòi hỏi các thành viên của Liên hợp quốc phải đưa những công việc loại này ra giải quyết theo quy định của Hiến chương”.

(còn nữa)

NGUYỄN ANH TUẤN và ĐỖ XUÂN ĐOÀI

Bài 3: Đi trước về tư duy, đón đầu về phương án (Tiếp theo và hết)

 08/12/2021 05:00

Để biết đánh và đánh thắng, dưới sự lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội, thời gian qua, ngành tuyên giáo Thủ đô đã sớm xây dựng quyết tâm chính trị, xác định đúng nguyên tắc, quy trình, cơ chế... trong công tác tham mưu, chỉ đạo và sớm đề ra các phương án xử lý, giải quyết triệt để, hiệu quả các sự cố, "điểm nóng" và làn sóng dư luận tiêu cực phát sinh trên địa bàn.

“Chỉ tiến không lùi”

Rất dễ để chứng kiến, tại nhiều hội nghị, cuộc họp, diễn đàn nghiệp vụ gần đây, lãnh đạo TP Hà Nội và đại diện ngành tuyên giáo Thủ đô luôn thẳng thắn góp ý, công khai phê bình các tài khoản Facebook của một số cán bộ, đảng viên vốn “có tên tuổi” vì đã đăng tin, viết bài sai sự thật, không đúng với quan điểm, chủ trương của Đảng; gây phương hại đến tình hình chung của đời sống xã hội và tâm lý nhân dân.

Cơ quan chức năng cũng thẳng thắn “chỉ mặt, điểm tên” những cá nhân có dấu hiệu “trở cờ” đang cố tình hiểu nhầm, làm sai lệch sự thật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín, danh dự của Đảng, tổ chức, đơn vị; gây cản trở và làm chậm tiến trình thực hiện chủ trương, đường lối đổi mới, xây dựng thành phố. Trên cơ sở đó, một mặt, cơ quan chức năng coi trọng tổ chức các cuộc đối thoại trực tiếp, nhằm thuyết phục, cảm hóa những cá nhân có biểu hiện bốc đồng, bất mãn trên mạng xã hội. Mặt khác, làm tốt công tác tham mưu để phát huy tổng hòa các biện pháp hành chính, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với các trường hợp cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, biến chất, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”...

Nói về cách làm này, đại diện Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội chia sẻ, trong thực tiễn trên chiến trường, bằng vũ khí nóng, các bên có thể linh hoạt sử dụng nhiều hình thức tác chiến, có thể "tiến" và "lùi" tùy tình hình thực tiễn.

Thế nhưng, trong cuộc chiến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, bắt buộc chúng ta phải nhất quán tư tưởng “chỉ tiến không lùi”, vì chỉ cần "lùi" một bước có nghĩa là đã thất bại. Do đó, dù là “thù trong”, hay “giặc ngoài” thì những người trong cuộc đều phải nêu cao tinh thần quyết tâm, quyết liệt, đấu tranh không khoan nhượng với các lực lượng thù địch.

Chính nhờ các biện pháp mạnh tay đó, đến nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng bộ TP Hà Nội có ý thức tổ chức kỷ luật cao, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục, tránh xa các cạm bẫy lợi ích vật chất. Đặc biệt, 100% cán bộ, công chức thực hiện tốt việc không ủng hộ, chia sẻ các bài viết gây bất lợi tình hình trên mạng xã hội; tăng cường phản ánh, chia sẻ quan điểm, thái độ lên án âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù. 

Bài 3: Đi trước về tư duy, đón đầu về phương án (Tiếp theo và hết)
Thủ đô Hà Nội đang ngày càng phát triển. Ảnh minh họa / TTXVN. 

Song song với đó, Hà Nội còn đặc biệt coi trọng việc phát huy lợi thế một “đại bản doanh” của nền báo chí cách mạng, với sự hiện diện của nhiều cơ quan thông tấn, báo chí, để huy động, phát động các chiến dịch tiến công địch một cách mạnh mẽ, quyết liệt, có trọng tâm, trọng điểm và thu kết quả thiết thực.

Để làm được điều đó, với chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Tuyên giáo Thành ủy tham mưu cho Thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành của Hà Nội tăng cường phối hợp, ký kết hợp tác với các cơ quan báo chí Trung ương, để công tác tuyên truyền đi vào chiều sâu, trở thành nền nếp, bảo đảm cho việc phát huy sức mạnh tổng thể trong thực hiện các chiến lược, chiến dịch, phương án đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình"; làm tốt việc định hướng đời sống tâm lý cộng đồng và dư luận xã hội.

Với tư duy “tác động hai chiều” trong mối quan hệ giữa Hà Nội và các cơ quan báo chí, Hà Nội vừa là chủ thể cung cấp thông tin, tư liệu thực tế cho báo chí sáng tạo tác phẩm, đồng thời, cấp ủy, chính quyền, người dân Thủ đô cũng là lực lượng đông đảo tiếp nhận, thụ hưởng sản phẩm báo chí cách mạng.

Điều đó giúp báo chí chính thống trên địa bàn Thủ đô trở thành kênh thông tin chủ lực, quan trọng; cung cấp thông tin chính thống, đúng, đủ đến nhân dân; định hướng dư luận; phản bác các thông tin xấu, độc chống phá... 

“Lấy nhu thắng cương”

Thật đáng ghi nhận khi qua chuyến khảo sát của chúng tôi, các cơ quan chức năng của Hà Nội đã chia sẻ nhiều tư duy rất mới, được thể hiện trong hệ thống các văn bản khá hoàn chỉnh, bài bản. Ấn tượng là tư duy “lấy nhu thắng cương” trong xử lý dư luận tiêu cực và "điểm nóng" trên địa bàn.

Có nghĩa, phải sử dụng sức mạnh mềm từ niềm tin và sức mạnh nhân dân thông qua công tác tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng nhân dân. Và, muốn đánh thắng kẻ thù trong cuộc chiến không tiếng súng thì phải hiểu, thực chất đây là cuộc chiến dành lấy lòng dân và giữ niềm tin của dân. Với tinh thần đó, các cấp đã giành nhiều thắng lợi trong cuộc chiến không tiếng súng, nhưng vốn chẳng ít cam go, quyết liệt này. 

Tinh thần và "cách thức tác chiến" này đã được đúc rút, cụ thể hóa thành một phần chủ trương lãnh đạo quan trọng, được đề cập trong Nghị quyết số 15-NQ/TU ngày 4-7-2017 của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội về “Xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố cơ sở đảng yếu kém; giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xã, phường, thị trấn thuộc TP Hà Nội”: Lấy công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính, bảo đảm yêu cầu kịp thời-linh hoạt-nhạy bén-thuyết phục-hiệu quả. Thực tế cho thấy, nghị quyết này thực sự là ngọn đèn pha, giúp Hà Nội giữ vững sự bình yên, ổn định một cách chắc chắn, bền vững.

Nhìn thực tế để thấy, lãnh đạo TP Hà Nội đã chủ động, sáng tạo trong tư duy và hành động để gần dân, hiểu dân và làm cho dân hiểu. Việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục, tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân tại các "điểm nóng" là cơ sở để xây dựng, đề ra chủ trương, chính sách sát, đúng, hợp lòng dân.

Qua tiếp xúc để giải đáp thắc mắc của dân, tuyên truyền chủ trương, chính sách của thành phố, từ đó thu hẹp khoảng cách giữa chính quyền và nhân dân; phát huy vai trò phản biện xã hội, đóng góp của nhân dân trong xây dựng Thủ đô, giải quyết các bức xúc, tồn tại.

Chủ động về phương án, cách đánh

Để phòng, chống "diễn biến hòa bình" một cách hiệu quả, Hà Nội còn thể hiện rõ sự chủ động, đi trước, đón đầu trong xây dựng, ban hành các phương án xử lý, giải quyết dư luận tiêu cực, "điểm nóng". Và phần này một lần nữa ghi nhận những đóng góp quan trọng của Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội thời gian qua.

Theo đó, ngay từ rất sớm, Ban Tuyên giáo Thành ủy đã tổ chức nghiên cứu toàn diện các vấn đề liên quan đến chiến lược "diễn biến hòa bình", âm mưu, thủ đoạn chống phá của lực lượng thù địch đối với Hà Nội và cả nước; triển khai xây dựng, hoàn thiện các tài liệu về nội dung này. Cùng với đó, cách đây nhiều năm, ngành tuyên giáo đã chia sẻ, cung cấp bộ tài liệu khá toàn diện, đầy đủ cho các cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ phục vụ công tác nghiên cứu, vận dụng vào thực tiễn.

Theo nội dung các tài liệu này, căn cứ yếu tố thời gian, diễn biến tình hình, sự gia tăng về quy mô, tính chất để phân loại dư luận tiêu cực và “điểm nóng” thành các mức độ khác nhau, trong đó, “điểm nóng” được phân chia thành 4 mức độ: Mức độ 1: Trong khả năng kiểm soát, giải quyết của cấp ủy, chính quyền cơ sở (xã, phường, thị trấn). Mức độ 2: Ngoài khả năng kiểm soát, giải quyết của cấp ủy, chính quyền cơ sở, cần sự hỗ trợ, tham gia giải quyết của cấp trên (quận, huyện, thị xã). Mức độ 3: Ngoài khả năng kiểm soát, giải quyết của quận, huyện, thị xã, cần sự hỗ trợ, tham gia giải quyết của thành phố.

Mức độ 4: Cần phải có sự tham gia giải quyết, hỗ trợ từ Trung ương. Việc xác định, phân loại mức độ vụ việc là căn cứ để xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ, tổ chức công tác tuyên truyền, vận động cho phù hợp, bảo đảm “rõ người”, “rõ việc” và triển khai các biện pháp cần thiết để nhanh chóng ổn định tình hình, với mục tiêu: Khống chế, kiểm soát, triệt tiêu những yếu tố tiêu cực, giải quyết dứt điểm ngay từ đầu, không để vụ việc tiếp tục diễn biến theo chiều hướng xấu.

Song song với đó, Hà Nội cũng chủ trương phân tuyến rõ thế lực bên trong và thế lực bên ngoài. Thực tế cho thấy, các thế lực thù địch, phản động muốn chống phá phải dựa vào các phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Vì thế, Hà Nội chủ trương: Nhận diện đúng, phân loại, có biện pháp phân hóa, chia rẽ, cô lập những đối tượng, cá nhân bất hợp tác, phần tử xấu, quá khích, lợi dụng vụ việc vì mục đích cá nhân, các mưu đồ chính trị (hoặc đang là “công cụ” để thực hiện âm mưu, thủ đoạn của những thế lực thù địch), từ đó phối hợp với các lực lượng chức năng để triển khai biện pháp “vô hiệu hóa” những đối tượng này.

Quá trình tuyên truyền, vận động, thuyết phục cần bình tĩnh, linh hoạt, mềm dẻo, kiên định, kiên trì, khai thác tối đa những yếu tố có lợi, các “quan điểm chung”, nhằm mục đích vừa kêu gọi, “lôi kéo” những cá nhân, tổ chức có khuynh hướng tích cực về phía mình, vừa tranh thủ họ để truyền tải những thông tin cần thiết, có lợi đến với số đông người dân, nhanh chóng “hạ nhiệt”, triệt tiêu các yếu tố đối lập, mâu thuẫn, gây bất lợi cho việc giải quyết vụ việc. Khi đó, lực lượng thù địch bên ngoài sẽ lộ diện rõ để ta có đối sách.

Việc phân tuyến rõ ràng là cơ sở quan trọng để “cắt lìa” sự cấu kết của các thế lực thù địch, không cho chúng có điều kiện đứng chân trong lòng thành phố. Từ đó, xây dựng và triển khai các phương án “tháo ngòi nổ”, xử lý ngay từ đầu các yếu tố dễ phát sinh thành “điểm nóng”; hoặc các bước làm nguội "điểm nóng", vụ việc phức tạp, nhanh chóng ổn định tình hình.

Rõ ràng, để dập tắt những “con sóng” dư luận tiêu cực và các "điểm nóng" trên địa bàn Thủ đô thời gian qua là cuộc chiến cam go, gian khổ, kéo dài. Với sự đi trước về tư duy, lên trước về phương án, Hà Nội đã thành công trong nhận diện, đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các lực lượng thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, giữ vững sự bình yên, hòa bình và hồn cốt của một Thủ đô ngàn năm văn hiến; xây dựng Hà Nội xứng tầm là thành phố thanh lịch, văn minh, giàu mạnh, điểm đến an toàn, thân thiện của bạn bè quốc tế.

ANH THU - TẤN TUÂN - TRẦN CHIẾN