24/05/2026 16:30
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng từ công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, đi cùng với quá trình này là sự xuất hiện của nhiều quan điểm, luận điệu xuyên tạc, trong đó có việc lợi dụng chủ nghĩa tân tự do nhằm phủ nhận con đường đi lên CNXH; phủ nhận thành tựu đổi mới đất nước cũng như bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta.
Bản chất của chủ nghĩa tân tự do và mưu đồ lợi dụng
Chủ nghĩa tân tự do (neoliberalism) là một tư tưởng kinh tế - chính trị nhấn mạnh vai trò của thị trường tự do, giảm sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế và đề cao cạnh tranh cá nhân. Khái niệm này bắt đầu nổi lên và có ảnh hưởng từ thập niên 1970 - 1980, gắn với các chính sách của Margaret Thatcher ở Anh và Ronald Reagan ở Mỹ. Chủ nghĩa tân tự do đề cao vai trò của thị trường tự do, giảm sự can thiệp của nhà nước, thúc đẩy tư nhân hóa và tự do hóa thương mại. Ngày nay, trong một số điều kiện cụ thể, những nguyên lý này cũng có những giá trị nhất định trong việc góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, nếu áp dụng một cách cực đoan, thiếu sự kiểm soát, định hướng đúng đắn có thể dẫn tới những hệ quả nghiêm trọng: làm suy giảm vai trò điều tiết của nhà nước, suy giảm an sinh xã hội, gia tăng bất bình đẳng; hình thành các nhóm lợi ích, tập đoàn, doanh nghiệp độc quyền chi phối, thao túng thị trường, xu hướng thương mại hóa giáo dục, y tế và dịch vụ công, khủng hoảng kinh tế, tài chính và trực tiếp tác động, làm tổn hại đến các mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Ở Việt Nam, một số đối tượng thường núp bóng, tô vẽ, cổ súy cho lý thuyết của chủ nghĩa tân tự do để tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, chống phá, như: phủ nhận vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế; đòi hỏi “tư nhân hóa toàn diện” hoặc “thị trường hóa tuyệt đối”; xuyên tạc mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những lập luận này thường được trình bày dưới danh nghĩa “cải cách”, “đổi mới” nhưng thực chất hướng đến mục tiêu làm suy yếu nền tảng kinh tế - chính trị; đánh đồng kinh tế thị trường với TBCN thuần túy; phủ nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước một cách cực đoan; thổi phồng các vấn đề như tham nhũng, tiêu cực để quy kết cho bản chất mô hình phát triển; kêu gọi thay đổi thể chế theo hướng phi thực tế hoặc không phù hợp với điều kiện nước ta. Đáng chú ý, những lập luận này thường bỏ qua những yếu tố, quy luật khách quan từ bối cảnh lịch sử, văn hóa, cơ sở chính trị, kinh tế - xã hội cụ thể của Việt Nam.
Bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, sai trái
Không phủ nhận những giá trị tích cực của chủ thuyết tân tự do đối với sự phát triển kinh tế ở các nước tư bản phương Tây, song không có nghĩa điều đó cũng đúng và phù hợp với mọi quốc gia, vùng lãnh thổ, thể chế chính trị, trong mọi hoàn cảnh. Rõ ràng, việc nhìn nhận những giá trị, mặt tích cực phù hợp để tham khảo, vận dụng là cần thiết. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức rõ tính hai mặt, những điểm không phù hợp, những luận điệu “núp bóng” vỏ bọc để thực hiện âm mưu, ý đồ đen tối của các đối tượng xấu. Việc cảnh giác không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn các yếu tố tích cực của kinh tế thị trường hay các cải cách cần thiết. Ngược lại, cần thiết tiếp thu có chọn lọc các yếu tố tiến bộ của kinh tế thị trường; giữ vững vai trò điều tiết của nhà nước để đảm bảo công bằng xã hội; tăng cường năng lực phản biện khoa học, phân biệt giữa góp ý xây dựng và luận điệu xuyên tạc, nâng cao nhận thức xã hội, đặc biệt trong bối cảnh thông tin đa chiều hiện nay.
Tiếp cận các luận điệu chống phá, có thể thấy điểm chung là các đối tượng đã bỏ qua những dữ liệu thực tiễn dài hạn, mang tính bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam. Từ một nền kinh tế bị tàn phá sau chiến tranh, khủng hoảng sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đất nước đã từng bước khôi phục, kiến thiết, phát triển, duy trì tăng trưởng cao trong nhiều thập kỷ. Tỷ lệ nghèo giảm mạnh theo chuẩn quốc tế; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tổng kết 40 năm đổi mới đất nước, Đảng ta nhấn mạnh: “Từ một quốc gia lạc hậu, thiếu đói thường xuyên, chúng ta đã vươn lên thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển, có mức thu nhập trung bình. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Điều đó cho thấy, nếu mô hình phát triển là “sai lầm” như các luận điệu nêu thì không thể tạo ra kết quả ổn định, liên tục và trên diện rộng như vậy. Nói cách khác, tính đúng đắn của một mô hình phải được kiểm nghiệm bằng kết quả, không phải bằng định kiến ý thức hệ.
Các quan điểm mang màu sắc tân tự do thường dựa trên giả định của kinh tế học tân cổ điển rằng thị trường có khả năng tự điều chỉnh tối ưu. Tuy nhiên, điều này bộc lộ rõ nhiều điểm hạn chế, như: Mặt trái của cơ chế thị trường; độc quyền, ngoại ứng, thông tin bất cân xứng; khủng hoảng chu kỳ và gia tăng bất bình đẳng ở nhiều nước áp dụng chính sách tân tự do triệt để. Điều đó khẳng định, việc đề xuất “giảm tối đa vai trò nhà nước” không phải là một chân lý phổ quát, mà chỉ là một lựa chọn chính sách có điều kiện. Trong bối cảnh các nước đang phát triển như Việt Nam, Nhà nước đóng vai trò điều tiết là cần thiết để khắc phục những hạn chế, thất bại của thị trường.
Các luận điệu cực đoan thường ngầm giả định rằng, chỉ có một con đường phát triển kinh tế “đúng” - theo kiểu tân tự do. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trên thế giới không có một mô hình duy nhất đúng cho mọi quốc gia, mọi nền kinh tế. Bất luận trong hoàn cảnh nào, vai trò của Nhà nước cũng là rất quan trọng. Thế giới cũng đã chứng kiến Trung Quốc tăng trưởng nhanh với vai trò mạnh của Nhà nước. Hàn Quốc phát triển như ngày nay nhờ vai trò định hướng phát triển công nghiệp của Nhà nước hay Singapore thành công với sự kết hợp giữa thị trường với quản trị nhà nước hiệu quả. Phát triển kinh tế là đa dạng mô hình, phụ thuộc vào lịch sử, thể chế và điều kiện cụ thể. Do đó, việc áp đặt một mô hình duy nhất - tân tự do thuần túy là phi khoa học và phi thực tiễn.
Ở Việt Nam, trong những năm qua, đặc biệt là trong 40 năm đổi mới, sự quản lý, điều hành của Nhà nước đối với kinh tế thị trường được đổi mới sát thực và hiệu quả hơn thông qua các công cụ pháp luật, kế hoạch, quy hoạch, chính sách và các công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô. Theo Chỉ số quản trị toàn cầu (WGI) của Ngân hàng Thế giới, chỉ số hiệu quả hoạt động của Chính phủ đã được cải thiện. Theo xếp hạng phần trăm trên đề cập đến giới hạn trên của khoảng tin cậy 90 phần trăm, chỉ số hiệu quả Chính phủ của Việt Nam cải thiện từ 57,4 điểm xếp hạng phần trăm năm 2010 lên 66,7 năm 2015; 71,0 năm 2020; 72,4 năm 2021; giảm còn 71,2 năm 2022; 69,3 năm 2023.
Bên cạnh đó, Việt Nam là quốc gia đi lên từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, hậu quả chiến tranh kéo dài với hệ thống thể chế đặc thù. Trong bối cảnh đó, nếu áp dụng tân tự do cực đoan tư nhân hóa tự phát, bị các thế lực bên ngoài thao túng, chi phối có thể gây mất ổn định; giảm vai trò nhà nước có thể làm suy yếu năng lực điều phối phát triển. Thậm chí tiềm ẩn nguy cơ “sốc chuyển đổi” như từng xảy ra ở một số nước hậu Xô viết. Điều đó cho thấy, chính sách phải phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể, không thể sao chép máy móc mô hình bên ngoài.
Việc các đối tượng lấy một số vấn đề (tham nhũng, lãng phí, tiêu cực) rồi quy kết cho toàn bộ mô hình là hoàn toàn phi lý. Đây là vấn đề quản trị và thực thi chính sách của mọi quốc gia chứ không phải của riêng quốc gia nào và càng không phải bản chất mô hình nhà nước. Mô hình kinh tế của Việt Nam thực chất không phủ nhận thị trường, tận dụng hiệu quả phân bổ nguồn lực, song không buông lỏng nhà nước để đảm bảo ổn định và công bằng.
Việc một số đối tượng mượn danh nghĩa "cải cách" để đòi hỏi tư nhân hóa toàn diện, hạ thấp vai trò quản lý của Nhà nước thực chất là một tư duy phi lịch sử. Họ cố tình phớt lờ thực tế rằng không có một mô hình kinh tế duy nhất nào đúng cho mọi quốc gia, và ngay cả các nước phương Tây cũng đang phải gánh chịu nhiều hệ quả nặng nề từ việc thả nổi thị trường.
Trả lờiXóaTôi rất đồng tình với tác giả Mai Ngọc Quân khi khẳng định vai trò điều tiết của Nhà nước là chiếc phao cứu sinh để khắc phục những thất bại thị trường. Nếu áp dụng tân tự do một cách máy móc, giảm tối đa an sinh xã hội, chúng ta sẽ tự đẩy mình vào cái bẫy bất bình đẳng và khủng hoảng chu kỳ. Nhìn vào các tấm gương thành công như Singapore hay Hàn Quốc, rõ ràng sự định hướng và quản trị hiệu quả của chính quyền mới là yếu tố quyết định, chứ không phải là sự tự điều chỉnh mù quáng của cơ chế thị trường tự do.
Đối với một quốc gia đi lên từ điểm xuất phát thấp và chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh như Việt Nam, việc giữ vững định hướng XHCN là cực kỳ căn cơ. Kinh tế thị trường là phương thức phân bổ nguồn lực hiệu quả, nhưng Nhà nước phải giữ vai trò cầm lái để đảm bảo mục tiêu công bằng và phát triển bền vững. Những tiếng nói lạc lõng đòi "thay đổi thể chế" thực chất chỉ muốn gây ra một cú "sốc chuyển đổi" tai hại, chà đạp lên thành quả ổn định mà toàn dân đã nỗ lực xây dựng.
Điểm cốt lõi nhất mà bài viết chỉ ra chính là tính đúng dắn của một mô hình phải được kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế, chứ không phải bằng những định kiến ý thức hệ xơ cứng. Những con số tăng trưởng ổn định, tỷ lệ nghèo giảm mạnh theo chuẩn quốc tế và vị thế quốc tế ngày càng cao sau 40 năm đổi mới chính là minh chứng sống động nhất đập tan mọi luận điệu bôi nhọ của các thế lực thù địch.
Trả lờiXóaThật nực cười khi các đối tượng chống phá cố tình lấy một vài hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, lãng phí để quy kết cho bản chất của cả một mô hình phát triển. Tham nhũng là căn bệnh về quản trị và thực thi chính sách mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng phải đối mặt, chứ không phải do lỗi hệ thống của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Việc Đảng và Nhà nước ta đang quyết liệt làm trong sạch bộ máy chính là biểu hiện của một thể chế khỏe mạnh, có năng lực tự sửa sai cực kỳ tốt.
Số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WGI) về chỉ số hiệu quả hoạt động của Chính phủ Việt Nam qua các năm chính là câu trả lời khách quan nhất. Sự quản lý của Nhà nước không hề làm bóp nghẹt nền kinh tế, mà ngược lại, thông qua các công cụ vĩ mô, pháp luật và quy hoạch, nó đang kiến tạo một môi trường đầu tư ngày càng minh bạch, an toàn. Người dân cần nâng cao "sức đề kháng" tư tưởng để nhận diện đúng các bài viết mang danh "phản biện khoa học" nhưng thực chất là kích động, phá hoại.
Chúng ta không phủ nhận những mặt tích cực của chủ thuyết tân tự do đối với sự phát triển của các nước tư bản, nhưng việc rập khuôn máy móc một mô hình ngoại lai vào không gian văn hóa, chính trị đặc thù của Việt Nam là một sự ảo tưởng nguy hiểm. Lịch sử đã chứng minh, mọi sự sao chép thiếu bản sắc đều phải trả giá bằng sự hỗn loạn và bất ổn xã hội.
Trả lờiXóaTrong kỷ nguyên số hiện nay, các luồng thông tin đa chiều được cắt ghép tinh vi dưới các vỏ bọc học thuật rất dễ khiến giới trẻ rơi vào cái bẫy "chủ nghĩa hoài nghi cực đoan". Các đối tượng xấu thường xuyên lồng ghép các khái niệm như "thị trường hóa tuyệt đối" hay "tự do hóa thương mại" để hướng công chúng đến tư duy phủ nhận vai trò của doanh nghiệp nhà nước. Nếu người dân thiếu tỉnh táo, rất dễ bị dẫn dắt bởi những kịch bản truyền thông bẩn này mà đánh mất niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.
Mục tiêu cuối cùng của mọi chính sách kinh tế suy cho cùng vẫn là sự ấm no, hạnh phúc của Nhân dân và sự phồn vinh của Tổ quốc. Mô hình phát triển của Việt Nam đang chứng minh tính ưu việt khi kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Mỗi công dân khi tham gia mạng xã hội cần có trách nhiệm với từng dòng bình luận, cùng nhau "phủ xanh" không gian mạng bằng những thông tin tích cực, thượng tôn pháp luật để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.