Thứ hai, 13/04/2026 - 05:51
Đại tá, TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG, Viện Khoa học xã hội và Nhân văn quân sự, Học viện Chính trị
Đại hội lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công rất tốt đẹp. Đây là tiền đề vững chắc để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự chủ chiến lược, tự tin, tự cường, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Tuy nhiên, sau thành công đó, các thế lực thù địch tăng cường chống phá Đảng ta với rất nhiều luận điệu xuyên tạc. Thực chất những luận điệu của các thế lực thù địch là sự áp đặt về nhận thức, lừa mị về tư tưởng, phản động về chính trị, phản khoa học, không dựa trên căn cứ lý luận và thực tiễn; nhằm hướng lái dư luận đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập ở Việt Nam. Vì vậy, việc đấu tranh vạch trần bản chất luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.
Thứ nhất, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là “ánh sáng dân chủ” mà chỉ là con đường dẫn tới bất ổn, lệ thuộc và mất quyền tự quyết của dân tộc.
Dân chủ là một phạm trù lịch sử-xã hội, gắn chặt với điều kiện phát triển kinh tế, trình độ văn hóa, truyền thống chính trị và cấu trúc xã hội của từng quốc gia. Không tồn tại một mô hình dân chủ “chuẩn mực” có thể áp dụng rập khuôn cho mọi dân tộc, mọi chế độ chính trị. Bản chất của dân chủ không nằm ở số lượng đảng phái mà nằm ở việc quyền lực có thực sự thuộc về nhân dân hay không, lợi ích của đa số có được bảo đảm hay không.
Thực tiễn thế giới cho thấy, không ít quốc gia rơi vào bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, thậm chí nội chiến sau khi áp dụng mô hình đa nguyên chính trị một cách giáo điều, thiếu nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế phù hợp. Sự kiện “Mùa xuân Arab” cách đây 15 năm là minh chứng rõ nhất cho khát vọng dân chủ theo mô hình phương Tây ở một số nước khu vực Trung Đông và Bắc Phi. Nó từng được ca ngợi là “ánh sáng dân chủ”, nhưng hậu quả là sự tan rã nhà nước, khủng bố, nghèo đói và lệ thuộc sâu sắc hơn vào các thế lực bên ngoài. Điều này cho thấy, đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không đồng nghĩa với tiến bộ, càng không phải là “bảo chứng” cho hạnh phúc của nhân dân.
![]() |
Thứ hai, lịch sử cách mạng Việt Nam đã kiểm chứng và phủ định đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới thành lập phải đối mặt với tình cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”, vừa củng cố lực lượng, khôi phục sản xuất, vừa chống thù trong, giặc ngoài. Trước sức ép và sự chống phá điên cuồng của các đảng phái và thế lực thù địch, ngày 11-11-1945, Đảng Cộng sản Đông Dương (Đảng Cộng sản Việt Nam) tuyên bố “tự ý giải tán”. Tại Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (tháng 3-1946) đã quyết định thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến và mở rộng thành phần cho mọi tổ chức, chính đảng cùng tham gia lãnh đạo đất nước. Lúc này, ngoài Đảng Cộng sản còn có Đảng Việt Quốc và Đảng Việt Cách. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng thì chỉ có Đảng Cộng sản, còn Đảng Việt Quốc và Đảng Việt Cách “theo đuôi” Tưởng Giới Thạch, không hề đứng về lợi ích của dân tộc. Đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Ngoài ra, giai đoạn này, bên cạnh Đảng Cộng sản còn tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau đó tuyên bố tự giải thể. Sự xuất hiện và rút lui của Đảng Việt Quốc và Đảng Việt Cách hay tự giải thể của Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội đã cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái khác không đứng về phía nhân dân hoặc đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ.
Sau năm 1954, Đảng ta chủ trương tổng tuyển cử tự do, thành lập chính phủ liên hiệp, thống nhất nước nhà, nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm đã bác bỏ tổng tuyển cử. Được sự tiếp sức của đế quốc Mỹ, các thế lực phong kiến và phản động ở miền Nam đã lập nên một chính thể đa nguyên với sự tham gia của nhiều đảng phái. Tuy nhiên, mục đích chính trị của các đảng phái đó lại chống lại nền độc lập dân tộc và quyền lợi của nhân dân, nên nhân dân cả nước ta đã đứng lên lật đổ thể chế chính trị đó, thiết lập nền chính trị nhất nguyên và lựa chọn Đảng Cộng sản Việt Nam là đại diện duy nhất cho quyền lợi của nhân dân lao động và cả dân tộc.
Như vậy, Việt Nam từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ nhận chế độ đó. Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ tự ban cho mình quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội, mà vai trò đó là nhiệm vụ cao cả được nhân dân Việt Nam tin tưởng giao phó, được hiến định tại Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.
Thứ ba, kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc chính là sự tiếp nối các kỷ nguyên của dân tộc trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Nhìn lại lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã trải qua các kỷ nguyên của dân tộc. Với thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, bằng Chiến thắng Điện Biên Phủ và thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên phạm vi cả nước.
Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN. Và sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế-đó là kỷ nguyên đổi mới của dân tộc Việt Nam.
Hiện nay, trong điều kiện lịch sử mới, kế thừa những giá trị, thành tựu của các kỷ nguyên trong sự nghiệp cách mạng, mà trực tiếp của kỷ nguyên đổi mới, cùng với việc tận dụng các yếu tố và thời đại, nước ta bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Nhằm tiếp tục hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong điều kiện lịch sử mới, đưa đất nước phát triển bứt phá trên mọi lĩnh vực, "sánh vai với các cường quốc năm châu" như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và ước vọng của toàn dân tộc ta.
Thứ tư, thực tiễn cách mạng Việt Nam khẳng định, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới là tất yếu khách quan, không thể thay thế.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời xuất phát từ nhu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, để lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân lao động đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam. Cả lý luận và thực tiễn đều khẳng định chỉ có chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân-Đảng Cộng sản mới có vai trò, tư cách, năng lực, uy tín lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta kiên cường đấu tranh lật đổ chế độ thực dân, phong kiến; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH. Đảng đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta đánh bại hai cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; thực hiện nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Lào và nhân dân Campuchia. Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng XHCN trong 40 năm qua, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, kinh tế ngày càng phát triển, chủ động hội nhập với kinh tế thế giới, quốc phòng, an ninh được củng cố vững chắc, tiềm lực mọi mặt của đất nước và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đây là cội nguồn, là nguyên tắc, là động lực để Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, là sự phát triển tất yếu, hợp quy luật, không có một tổ chức, một lực lượng, hay một đảng phái nào có thể thay thế.
Những luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng: “Còn Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đất nước không thể bước vào kỷ nguyên mới”; “Việt Nam chỉ có thể bước vào kỷ nguyên mới khi tự do cạnh tranh”; hay “Việt Nam chỉ có tương lai trong kỷ nguyên mới nếu theo “dân chủ đa nguyên”.... là không có căn cứ, không thuyết phục. Nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, với kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 96 năm qua, với bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, năng lực lãnh đạo của Đảng được rèn luyện trong thực tiễn cách mạng, với đường lối, quan điểm đúng đắn, được sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân, sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên mới-kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm, nâng cao vị thế, uy tín, tiềm lực, sức mạnh của nước ta, sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới.

Bài viết của Đại tá, TS Nguyễn Văn Phương đã đưa ra những luận cứ khoa học và thực tiễn vô cùng sắc bén, đập tan luận điệu xuyên tạc cho rằng sự lãnh đạo của Đảng là rào cản đối với tương lai dân tộc. Thực tế lịch sử đã chứng minh, thể chế đa nguyên, đa đảng không phải là cái khuôn mẫu vạn năng mang lại sự thịnh vượng như các thế lực thù địch vẫn hằng tâng bốc. Nhìn vào những vết xe đổ của các cuộc khủng hoảng chính trị tại Trung Đông hay Bắc Phi, chúng ta càng thấy rõ rằng sự rập khuôn giáo điều chỉ dẫn đến sự hỗn loạn, suy thoái và làm mất đi quyền tự quyết thiêng liêng của một quốc gia.
Trả lờiXóaSự lựa chọn thể chế nhất nguyên ở Việt Nam không phải là sự áp đặt khiên cưỡng, mà là kết quả đào thải tự nhiên mang tính lịch sử. Từ những năm tháng thử thách sau Cách mạng Tháng Tám 1945 cho đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, các mô hình đa đảng khác đều đã tự bộc lộ sự yếu kém, phản bội lại lợi ích của nhân dân hoặc tự giải thể. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định đồng hành, hy sinh và chèo lái con thuyền cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vai trò lãnh đạo này đã được chính nhân dân thừa nhận và hiến định, là sự bảo đảm vững chắc nhất cho độc lập, chủ quyền của đất nước.
Bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vai trò tiên phong của Đảng lại càng trở nên cấp thiết để định hình các chiến lược bứt phá về kinh tế số, kinh tế xanh và hoàn thiện thể chế. Những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới chính là bệ phóng vững chắc để chúng ta tự tin tiến lên.
Bài viết đã đưa ra những luận điểm vô cùng sắc bén, kịp thời đập tan những luận điệu xuyên tạc, áp đặt định kiến từ các thế lực thù địch ngay sau thành công của Đại hội XIV. Thực tế lịch sử đã chứng minh, thể chế đa nguyên, đa đảng không phải là chiếc "chìa khóa vạn năng" cho dân chủ hay sự thịnh vượng, mà ngược lại, việc rập khuôn mô hình ngoại lai một cách giáo điều thường chỉ dẫn đến bất ổn chính trị, xung đột và làm mất đi quyền tự quyết của một dân tộc. Bài học nhãn tiền từ các cuộc khủng hoảng trên thế giới chính là minh chứng rõ nhất cho thấy nhất nguyên chính trị tại Việt Nam là sự lựa chọn hoàn toàn đúng đắn.
Trả lờiXóaNhìn lại lịch sử cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tự phong quyền lãnh đạo, mà chính nhân dân và lịch sử đã tin tưởng giao phó sứ mệnh cao cả đó. Từ việc lãnh đạo giành độc lập năm 1945, thống nhất đất nước năm 1975 cho đến bước ngoặt Đổi mới năm 1986, mọi thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà đất nước đạt được đều gắn liền với vai trò chèo lái của Đảng. Sự đồng thuận, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân chính là cội nguồn sức mạnh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy, luận điệu cho rằng "còn Đảng lãnh đạo thì đất nước không thể bước vào kỷ nguyên mới" là hoàn toàn vô căn cứ và mang tính kích động. Kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – thực chất là sự kế thừa và phát triển tất yếu từ những nền tảng vững chắc mà Đảng đã dày công xây dựng suốt 96 năm qua. Trong bối cảnh hiện nay, mỗi người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo trước các chiêu trò truyền thông bẩn, đồng lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng để đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ, sánh vai với các cường quốc năm châu.
Bài viết của Đại tá, TS Nguyễn Văn Phương rất sắc bén và mang tính thời sự cao! Những luận điệu cho rằng Việt Nam không thể bước vào kỷ nguyên mới nếu còn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản thực chất chỉ là những âm mưu bóp méo, áp đặt nhận thức nhằm đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Thực tế lịch sử thế giới và chính những bài học nhãn tiền như "Mùa xuân Arab" đã chứng minh rất rõ: Đa đảng không phải là "bảo chứng" cho dân chủ hay hạnh phúc, mà ngược lại, nó thường là con đường dẫn đến sự bất ổn, xung đột nội bộ và khiến quốc gia rơi vào cảnh lệ thuộc vào các thế lực bên ngoài.
Trả lờiXóaNhìn lại lịch sử cách mạng nước nhà, chính nhân dân và lịch sử Việt Nam đã thử nghiệm và phủ định chế độ đa đảng. Giai đoạn sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã cho thấy các đảng phái như Việt Quốc, Việt Cách hoàn toàn không đứng về lợi ích dân tộc mà chỉ "theo đuôi" ngoại bang, để rồi bị chính nhân dân đào thải. Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải tự phong, mà là sứ mệnh cao cả được nhân dân tin tưởng giao phó, được thử thách qua các cuộc kháng chiến trường kỳ giành độc lập, thống nhất đất nước và được khẳng định vững chắc tại Điều 4 Hiến pháp.
Kỷ nguyên mới — kỷ nguyên vươn mình của dân tộc — không phải là một sự tách rời, mà chính là sự kế thừa và tiếp nối vinh quang từ các kỷ nguyên trước do Đảng lãnh đạo: từ kỷ nguyên độc lập, tự do (1945), kỷ nguyên thống nhất, đi lên CNXH (1975) cho đến kỷ nguyên đổi mới (1986). Những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới đã tạo ra thế và lực mới chưa từng có cho đất nước. Với bản lĩnh và kinh nghiệm dày dặn suốt 96 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn là lực lượng duy nhất đủ năng lực, uy tín để chèo lái con thuyền cách mạng, đưa đất nước bứt phá sánh vai với các cường quốc năm châu đúng như tâm nguyện của Bác Hồ.