Thứ hai, 08/06/2026 - 05:33
Đại tá, TS PHÙNG MẠNH CƯỜNG, Phó chủ nhiệm Khoa Kinh tế Chính trị học Mác Lênin, Học viện Chính trị
Đại hội XIV của Đảng xác định chủ trương tự chủ chiến lược, trong đó có tự chủ chiến lược về quốc phòng-đây là nguyên tắc sống còn, rất sâu sắc, đúng đắn, nhất là trong biến động địa chính trị toàn cầu hiện nay. Tuy nhiên, ngay lập tức thế lực thù địch tung ra luận điệu sai trái rằng: Việt Nam không thể tồn tại nếu đóng cửa tự chủ mà cần chọn phe để được bảo trợ an ninh. Do đó, cần nhận thức đúng, bảo vệ chủ trương của Đảng về tự chủ chiến lược về quốc phòng, từ đó đóng góp công sức để thực hiện thắng lợi nội dung này.
Thế giới đang trải qua những biến động địa chính trị sâu sắc và khó lường, khiến các quốc gia không có nền quốc phòng tự chủ dễ bị tổn thương trước mọi nguy cơ đe dọa từ bên ngoài. Nhận thức sâu sắc thực tiễn đó, Đại hội XIV của Đảng chủ trương: “Nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và khả năng huy động nguồn lực đáp ứng yêu cầu mọi tình huống quốc phòng, an ninh”. Chủ trương chiến lược này đã làm thất bại mưu đồ lôi kéo, chi phối Việt Nam của các thế lực bên ngoài.
Do đó, từ khi Đại hội XIV của Đảng xác lập chủ trương tự chủ chiến lược về quốc phòng, các thế lực thù địch và cơ hội chính trị đã triển khai một chiến dịch chống phá có tổ chức với 3 nhóm luận điệu chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, xuyên tạc rằng tự chủ về quốc phòng chính là tự đóng cửa, tự cô lập khỏi thế giới. Chúng ráo riết tiêm nhiễm một luận điệu vô cùng độc hại: “Nước nhỏ muốn sinh tồn phải núp dưới ô bảo trợ an ninh của nước lớn”, coi tự chủ chiến lược chỉ là điều xa xỉ mà chỉ các cường quốc mới có. Bằng thủ đoạn đồng nhất “tự chủ” với “biệt lập”, chúng mưu toan lôi kéo Việt Nam vào các vòng xoáy liên minh chính trị, quân sự khu vực, toàn cầu. Chủ đích của luận điệu này là gieo rắc vào tư tưởng của xã hội rằng Việt Nam không thể tự mình tồn tại đơn độc trong một thế giới đầy rẫy những “liên minh” và luôn biến động khó lường.
![]() |
Thứ hai, chúng lập luận rằng Việt Nam là nước nhỏ, muốn tồn tại phải chọn phe trong trật tự thế giới đang biến động khó lường. Đây là luận điệu nguy hiểm nhất về mặt chiến lược, vì nó nhắm thẳng vào nền tảng tinh thần của tự chủ chiến lược để gieo rắc “niềm tin” rằng các quốc gia vừa và nhỏ không thể duy trì lập trường độc lập, rằng chính sách “4 không” chỉ hiệu lực khi các cường quốc tôn trọng nó. Luận điệu trên phớt lờ thực tế việc hàng chục quốc gia đang thực hiện chính sách không liên kết mà vẫn ổn định, phát triển.
Thứ ba, cho rằng chính sách quốc phòng “4 không” đã lỗi thời, không còn phù hợp với tình hình hiện nay. Luận điệu này lập luận rằng trong bối cảnh xung đột vũ trang đang diễn biến phức tạp thì chính sách quốc phòng "4 không" là “thiếu thực tế”, “lỗi thời” và Việt Nam “cần phải có ô bảo trợ an ninh” từ một cường quốc nhất định. Nguy hiểm nằm ở chỗ nó không cần phủ nhận trực tiếp chính sách “4 không” mà chỉ cần tạo ra cảm giác chính sách đó đang “có vấn đề” trong thực tiễn, từ đó tạo dư luận ép Việt Nam điều chỉnh chính sách theo hướng lệ thuộc-đây là thủ đoạn “mài mòn dần” tinh vi và nguy hiểm hơn nhiều so với phủ nhận trực diện.
Các luận điệu trên đều quy về một mục tiêu chính trị duy nhất: Tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để phủ nhận quan điểm tự chủ chiến lược quốc phòng của Đảng ta; hướng lái dư luận xã hội vào luận điệu rằng trong thế giới biến động khó lường, luật pháp quốc tế bị các nước lớn coi thường, nếu muốn giữ được sự tồn tại buộc phải chọn phe chiến lược. Rõ ràng đây là âm mưu có tổ chức, có chiến lược dài hạn và có nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài.
Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định quyền dân tộc tự quyết-bao gồm quyền tự quyết về đường lối quốc phòng-là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. V.I.Lênin chỉ ra: “Tất cả các dân tộc có quyền tự do, tự quyết”, trong đó quan trọng nhất là: “Quyền tự quyết về chính trị, quyền độc lập”. Một khi lệ thuộc tất yếu sẽ bị chi phối cả chính trị, kinh tế, quốc phòng... Khi đó lợi ích quốc gia phụ thuộc vào toan tính của bên mạnh hơn và đó là con đường ngắn nhất dẫn đến mất độc lập trên thực tế dù vẫn có thể giữ được độc lập trên danh nghĩa.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập, tự chủ và tinh thần tự quyết dân tộc là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người yêu cầu “Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đem sức ta mà giải phóng cho ta” và khẳng định: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Đó là tuyên ngôn về tinh thần tự quyết, tự định đoạt vận mệnh của dân tộc mình, không lệ thuộc bất kỳ sức mạnh ngoại lực nào. Đây chính là nền tảng tư tưởng chủ trương tự chủ chiến lược của Đảng ta.
Từ truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc cho đến hai cuộc kháng chiến thắng lợi chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, là những bằng chứng thuyết phục nhất về tính đúng đắn của tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc ta. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), điều quyết định thắng lợi chính là đem sức ta mà giải phóng cho ta và nghệ thuật quân sự sáng tạo, độc đáo cùng ý chí sắt đá của cả dân tộc Việt Nam. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Đảng đã đưa ra những quyết định chiến lược hoàn toàn độc lập-đó là nhân tố quyết định thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Thực tiễn chiến tranh hiện đại cung cấp những bài học đắt giá, cho thấy ngay cả những liên minh quân sự hùng mạnh cũng không thay thế được năng lực tự bảo vệ của mỗi quốc gia. Một quốc gia không có nền công nghiệp quốc phòng nội địa đủ mạnh sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào chuỗi cung ứng vũ khí từ bên ngoài, và điều đó biến mỗi quyết định chiến lược thành một cuộc thương lượng chính trị với nhà cung cấp.
Từ đó có thể khẳng định: Tự chủ chiến lược về quốc phòng là sự lựa chọn tất yếu, là con đường duy nhất bảo đảm sức mạnh bảo vệ Tổ quốc thực chất và bền vững trong biến động toàn cầu hiện nay.
Tự chủ chiến lược về quốc phòng là một hệ thống toàn diện với các nội dung cốt lõi gồm: Thứ nhất, tự chủ về đường lối chiến lược quân sự, quốc phòng. Đường lối chiến lược quân sự, quốc phòng phải xuất phát từ lợi ích quốc gia-dân tộc, được hoạch định độc lập, không bị chi phối bởi lợi ích của bất kỳ quốc gia hay liên minh nào. Thứ hai, tự chủ về xây dựng, hiện đại hóa Quân đội. Đó chính là tự chủ quyết định chủ trương phát triển, hiện đại hóa lực lượng quân sự với quy mô, biên chế tổ chức, vũ khí, trang bị phù hợp với đặc thù địa lý, lịch sử, con người và chiến lược của Việt Nam. Thứ ba, tự chủ xây dựng, hiện đại hóa nền công nghiệp quốc phòng (CNQP). Trong đó trước hết cần thu hút, trọng dụng nhân tài, hình thành các nhóm nghiên cứu khoa học quân sự mạnh để có nhiều nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các nhà khoa học, các tổng công trình sư đủ sức nghiên cứu thiết kế, chế tạo các loại vũ khí, trang bị hiện đại. Bên cạnh đó, tự chủ huy động nguồn lực để tăng cường đầu tư mở rộng quy mô, hiện đại hóa cơ sở vật chất, kỹ thuật, công nghệ sản xuất quân sự. Thứ tư, tự chủ về khoa học-công nghệ (KHCN) quân sự để làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi trong nghiên cứu, phát triển, sản xuất vũ khí hiện đại. Điều đó đòi hỏi trước tiên phải có nền KHCN trong nước phát triển làm cơ sở để hiện đại hóa nền KHCN quân sự. Thứ năm, tự chủ trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, hiện đại. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường và từng bước hiện đại”. Thứ sáu, tự chủ trong hội nhập quốc tế về quốc phòng. Việt Nam tự quyết định mức độ, tính chất quan hệ, nội dung hợp tác quốc phòng với các đối tác, không lệ thuộc mà độc lập, tự chủ.
Để thực hiện tốt các nội dung tự chủ chiến lược về quốc phòng, đồng thời quyết liệt chống các quan điểm sai trái cần quan tâm tới các giải pháp sau:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với LLVT và sự nghiệp quốc phòng bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng nhằm tự chủ về đường lối xây dựng LLVT và nền quốc phòng toàn dân. Đồng thời tổ chức thực hiện hiệu quả chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về thực hiện “2 kiên định; 2 đẩy mạnh; 2 ngăn ngừa” và phương châm “5 vững” trong xây dựng Quân đội hiện đại. Bên cạnh đó, cần nghiên cứu hoàn thiện cơ chế lãnh đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của Quân ủy Trung ương trên phạm vi cả nước nhằm huy động nhanh nhất, hiệu quả nhất mọi nguồn lực cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng trong mọi tình huống.
Hai là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tầm quan trọng của tự chủ chiến lược về quốc phòng. Từ đó, tất cả cơ quan, bộ, ngành, địa phương ra sức đóng góp theo chức năng, nhiệm vụ, tham mưu, xây dựng chính sách để tăng cường tự chủ chiến lược về quốc phòng cho đất nước.
Ba là, ưu tiên nguồn lực để đẩy mạnh xây dựng, hiện đại hóa Quân đội. Đồng thời, chống các quan điểm sai trái cho rằng “thời bình cần tập trung mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế, còn đầu tư cho quốc phòng là lãng phí”.
Bốn là, xây dựng và hiện đại hóa nền CNQP, tập trung làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền, công nghệ chiến lược. Theo đó, trên cơ sở nghị quyết của Bộ Chính trị; nghị quyết của Quân ủy Trung ương; các luật; nghị định liên quan để cụ thể hóa thành các chủ trương, giải pháp khả thi để xây dựng nền CNQP hiện đại, bảo đảm tự chủ từ nghiên cứu, phát triển, làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi đến tự chủ triển khai, sản xuất vũ khí, trang bị. Đồng thời tự chủ từ bản quyền thiết kế đến tự phát triển hệ thống máy móc, công nghệ, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguyên liệu đầu vào cho sản xuất quốc phòng... chỉ có như vậy mới hạn chế sự lệ thuộc từ bên ngoài.
Năm là, có các chủ trương, quyết sách chiến lược, trọng điểm để thu hút, trọng dụng, phát huy nhân tài quân sự trong lĩnh vực KHCN quân sự. Đồng thời thực hiện tốt cơ chế phối hợp giữa các cơ sở nghiên cứu KHCN quân sự với hệ thống KHCN quốc gia để thúc đẩy ứng dụng nhanh nhất công nghệ mới, công nghệ sáng tạo phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Mặt khác, cần đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng thực chất để hợp tác nghiên cứu; chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực trình độ cao cho các lĩnh vực sản xuất vũ khí, trang bị hiện đại.
Sáu là, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước, trình độ phát triển của nền kinh tế; phát huy mạnh mẽ các yếu tố tiềm lực chính trị tinh thần, văn hóa, xã hội, đối ngoại; phát huy "thế trận lòng dân" để nâng cao khả năng tự chủ chiến lược về quốc phòng.
Tự chủ chiến lược, trong đó có tự chủ chiến lược về quốc phòng là lựa chọn tất yếu, là quan điểm nhất quán được Đại hội XIV của Đảng xác định. Tự chủ chiến lược về quốc phòng chính là cốt lõi để chủ động với nhiệm vụ bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong biến động địa chính trị toàn cầu. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng, bảo vệ chủ trương tự chủ chiến lược về quốc phòng và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xuyên tạc về nội dung này.

Trong một thế giới đầy biến động địa chính trị phức tạp như hiện nay, việc Đại hội XIV của Đảng khẳng định chủ trương tự chủ chiến lược về quốc phòng là một bước đi hoàn toàn đúng đắn, thể hiện tầm nhìn xa trông rộng. Lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh một chân lý bất biến: chỉ có dựa vào sức mình, "đem sức ta mà giải phóng cho ta" thì nền độc lập đó mới thực chất và bền vững.
Trả lờiXóaTôi rất đồng tình với việc tác giả vạch trần các luận điệu sai trái cho rằng nước nhỏ thì phải "chọn phe" hay "núp dưới ô bảo trợ" của nước lớn. Thực tế lịch sử và các cuộc xung đột hiện đại đã cho thấy bài học nhãn tiền: những quốc gia đặt vận mệnh của mình vào tay kẻ khác hoặc phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn viện trợ vũ khí từ bên ngoài sẽ rất dễ trở thành con bài chiến lược trong các cuộc ngã giá giữa các cường quốc. Khi đó, độc lập chủ quyền chỉ còn là cái danh bề ngoài, còn bên trong đã bị thao túng.
Chính sách quốc phòng "4 không" của Việt Nam không hề lỗi thời như những kẻ cơ hội rêu rao, mà ngược lại, đó là biểu hiện của một nền ngoại giao, quốc phòng độc lập, tự chủ và yêu chuộng hòa bình. Việc chúng ta tự chủ xây dựng quân đội, làm chủ khoa học công nghệ và công nghiệp quốc phòng chính là cách tốt nhất để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, kiến tạo môi trường ổn định để phát triển kinh tế.
Tác giả đã chỉ rõ âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch khi cố tình đánh tráo khái niệm giữa "tự chủ" và "tự cô lập". Việc một số hội nhóm phản động liên tục thúc ép Việt Nam phải từ bỏ chính sách "4 không" để liên minh quân sự với một bên thực chất là mưu đồ đẩy đất nước chúng ta vào vòng xoáy đối đầu, biến Việt Nam thành bãi chiến trường cho các cuộc xung đột lợi ích quốc tế.
Trả lờiXóaChúng ta cần phải tỉnh táo trước những luận điệu mật ngọt về cái gọi là "ô bảo trợ an ninh". Không có một quốc gia nào sẵn sàng hy sinh xương máu và lợi ích của dân tộc họ để bảo vệ một quốc gia khác một cách vô điều kiện. Sự tự chủ về đường lối quốc phòng, tự chủ sản xuất vũ khí và trang thiết bị kỹ thuật dựa trên năng lực nội sinh mới là nền tảng vững chắc nhất. Nền công nghiệp quốc phòng Việt Nam thời gian qua đã có những bước tiến vượt bậc, tự chủ được nhiều công nghệ lõi, đó chính là minh chứng cho thấy chúng ta hoàn toàn có thể tự đứng vững trên đôi chân của mình.
Bên cạnh việc phát huy nội lực, việc xây dựng "thế trận lòng dân" vững chắc như bài viết đề cập là cực kỳ quan trọng. Khi mỗi người dân đều nhận thức đúng đắn về chủ trương của Đảng, đồng lòng chung sức và có "sức đề kháng" tốt trước các thông tin xuyên tạc trên mạng xã hội, chúng ta sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp vô địch để bảo vệ vững chắc chủ quyền độc lập của Tổ quốc.
Việt Nam làm bạn với tất cả các nước nhưng không cho phép bất kỳ bên nào can thiệp vào đường lối quốc phòng độc lập của mình.
Trả lờiXóaBài viết đã đưa ra các giải pháp rất toàn diện, đặc biệt là việc ưu tiên nguồn lực để hiện đại hóa quân đội và phát triển công nghiệp quốc phòng. Có quan điểm sai lầm cho rằng thời bình thì không cần đầu tư nhiều cho quốc phòng để tập trung làm kinh tế. Đó là tư duy hết sức nguy hiểm. Kinh tế chỉ có thể phát triển bền vững khi đất nước có một môi trường hòa bình, an ninh được giữ vững. Đầu tư cho quốc phòng chính là đầu tư cho cái gốc của sự phát triển.
Để hiện thực hóa mục tiêu tự chủ chiến lược, việc thu hút và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực khoa học công nghệ quân sự là yếu tố then chốt. Chúng ta cần những chuyên gia, tổng công trình sư giỏi để tự thiết kế, chế tạo vũ khí phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam. Cảm ơn tác giả vì một bài viết chất lượng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của tư duy tự lực tự cường trong kỷ nguyên mới.