Bảo đảm quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta


QĐND - Là chế độ tôn trọng con người, trước khi trở thành thành viên của Liên hợp quốc (ngày 20 tháng 9 năm 1977), Việt Nam đã tự nguyện gia nhập nhiều công ước về Luật Nhân đạo quốc tế, (về nội dung cũng mang tính nhân quyền) như “Công ước Giơ-ne-vơ về bảo vệ thường dân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957), “Công ước Giơ-ne-vơ về đối xử với tù nhân trong chiến tranh” (gia nhập năm 1957)…
Trước thời kỳ đổi mới, vào năm 1982, Việt Nam đã gia nhập hai Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đó là “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị" và “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (cùng được phê chuẩn năm 1966) (theo "Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”, Viện nghiên cứu quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh. HN. 2002, tr249, 284).
Nhằm bảo đảm quyền của người dân đồng thời phát triển xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi trọng việc xây dựng các thể chế quốc gia phù hợp với đặc thù lịch sử, văn hóa dân tộc. Trong đó có nguyên tắc các cơ quan tư pháp hoạt động độc lập. Đồng thời, Nhà nước có cơ chế chính sách tạo điều kiện để người dân tham gia quản lý Nhà nước và xã hội. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội XI, năm 2011, tái khẳng định vai trò giám sát và phản biện xã hội của các tổ chức trên. Trong nhiều nhiệm kỳ qua, vai trò của Quốc hội ngày càng được nâng cao. Trong các kỳ họp, Thủ tướng và các thành viên Chính phủ phải trả lời chất vấn công khai, được truyền hình trực tiếp những vấn đề cử tri và các đại biểu quan tâm.
Quyền làm chủ trực tiếp của người dân cũng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Từ một Chỉ thị của Đảng (Chỉ thị Số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở), với nhiều yêu cầu, đặc biệt là: Quy định quyền của mọi người dân ở cơ sở được thông tin về pháp luật, các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nhất là những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống và lợi ích hằng ngày của nhân dân tại cơ sở, Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh bảo đảm quyền được biết, được bàn, được kiểm tra và quyết định những vấn đề kinh tế, xã hội của người dân ở cơ sở. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý của phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Quyền tự do ngôn luận, báo chí và thông tin được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Ngoài Luật Báo chí, Nhà nước đã ban hành các quy định cơ quan Chính phủ có trách nhiệm định kỳ và khi cần cung cấp thông tin cho báo chí. Các cơ quan truyền thông của Việt Nam phát triển nhanh chóng. Cho đến nay, cả nước có hơn 700 cơ quan báo chí; 68 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và tỉnh, thành phố, hơn 80 báo điện tử, hàng nghìn trang tin điện tử và blog… Người dân Việt Nam ngày nay còn được tiếp cận với nhiều hãng thông tấn, báo chí, các kênh truyền hình nước ngoài như Roi-tơ, BBC, VOA, AP, AFP, CNN… Tốc độ phát triển internet ở Việt Nam được xếp hạng nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.
Trên lĩnh vực quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, quan điểm nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước và trong từng chính sách phát triển… tiếp tục hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội… giúp đỡ mọi thành viên xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương…”. Để bảo đảm hành lang pháp lý cho các hoạt động của cơ quan Nhà nước và công dân, nhiều Bộ luật, luật sửa đổi và luật mới được ban hành dựa trên các nguyên tắc: Tôn trọng con người, quyền con người; Dân chủ XHCN; Nhà nước pháp quyền XHCN và nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đồng thời, thể hiện trách nhiệm Quốc gia, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước quốc tế mà mình đã tham gia. Có thể dẫn ra những luật sau: Luật Bảo vệ sức khỏe người dân năm 1989, Luật Giáo dục năm 1998, Luật Đất đai năm 2003, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, Luật Phòng, chống HIV/AIDS năm 2006, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007, Luật Bình đẳng giới năm 2011...
Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, các Chiến lược và Chương trình phát triển kinh tế-xã hội được triển khai, mức sống của người dân đã có những thay đổi đáng kể. Thu nhập bình quân đầu người vào năm 1990 khoảng 200USD, đến năm 2010 ước khoảng 1.200USD. Đến nay, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm nước có thu nhập thấp, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình.
Nhằm bảo đảm quyền bình đẳng trong việc hưởng thụ thành tựu phát triển, Nhà nước đã có nhiều chương trình kinh tế-xã hội hướng vào nâng cao đời sống của người dân ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Theo Báo cáo của Ủy ban Dân tộc, thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2 (2006-2010), ngân sách Trung ương đầu tư lên tới 15.000 tỷ đồng, trong đó các tổ chức quốc tế hỗ trợ 350 triệu USD. Từ nguồn vốn trên, Chương trình đã xây dựng được gần 13.000 công trình hạ tầng thiết yếu như điện, đường, trường, trạm ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trong cả nước, Chính phủ đã có nhiều biện pháp cụ thể. Với kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước, vốn tín dụng ưu đãi, hỗ trợ của doanh nghiệp, Quỹ vì người nghèo các địa phương… đến hết năm 2010, các huyện đã cơ bản hoàn thành việc xóa nhà tạm tại 62 huyện nghèo với 73.418 căn nhà, đạt 94,58% kế hoạch. Hiện nay, chương trình nhà ở xã hội của Chính phủ đang được triển khai tích cực ở nhiều địa phương nhằm trợ giúp cho công nhân, người thu nhập thấp và sinh viên.
Các quyền tự do cơ bản của con người là mục tiêu lớn, mục tiêu đó như đường chân trời, người ta càng đi đến thì chân trời càng lùi xa. Đơn giản vì nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người ngày càng cao, là không có giới hạn.
Không phủ nhận rằng, hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề về kinh tế, xã hội liên quan đến quyền con người, như: Thể chế phân công phối hợp có sự giám sát về quyền lực chưa có hiệu quả như nhiều đại biểu Quốc hội vừa qua đã phát biểu; sự phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng gia tăng, thậm chí ngay cả trong Đảng, như đồng chí Tổng bí thư đã nói; hoặc sự hình thành “lợi ích nhóm” trong thời gian qua là những ví dụ…
Tuy nhiên, với việc nhận thức đúng đắn hơn, đầy đủ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH, với truyền thống cách mạng, sáng tạo, gắn bó với nhân dân, chúng ta tin tưởng rằng, Đảng ta sẽ hoàn thành được sứ mệnh lịch sử mà dân tộc đã giao phó - xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. 
PHƯƠNG ANH

Tuyên ngôn thế giới về quyền con người với dân tộc ta


QĐND - Quyền con người (QCN) là giá trị chung của các dân tộc, là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử nhân loại. Mỗi dân tộc, bằng hình thức này hay hình thức khác, trong thời kỳ lịch sử này hay thời kỳ lịch sử khác, đều có những đóng góp vào giá trị đó. Dân tộc ta trong thế kỷ XX đã có những đóng góp to lớn, mang tính đột phá về tư tưởng nhân quyền của nhân loại. Điều này thể hiện tập trung trong tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn Cách mạng Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Liên hợp quốc ra đời (24-10-1945). Trong Hiến chương của tổ chức này, cùng với quyền con người, Hòa bình và Phát triển được xem là mục tiêu cơ bản của Liên hợp quốc.
Trong 2 năm, từ 1947-1948, công việc soạn thảo Tuyên ngôn (TN) thế giới về QCN được tiến hành khẩn trương và thận trọng, trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ của ủy ban nhân nhân quyền.
Ngày 10-12-1948, BảnTN đã hoàn thành và được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bởi Nghị quyết 217A (III). Cho đến nay tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị, hệ tư tưởng, trình độ phát triển và bản sắc văn hóa đều xem văn kiện này như một mục tiêu chung mà nhân loại cần hướng tới. Và do đó ngày 10-12 hằng năm được tôn vinh là Ngày Nhân quyền quốc tế, được các nước trên thế giới kỷ niệm.
Mặc dù còn những hạn chế bởi điều kiện lịch sử ra đời và những khác biệt bởi các quan điểm chính trị giữa các thành viên trong Ban soạn thảo, cũng như của các quốc gia song có thể nói những tư tưởng lớn của TN về Đạo đức, Chính trị và Pháp lý vẫn còn nguyên giá trị.
Cho đến nay, cơ chế bảo vệ QCN của Liên hợp quốc và ở hầu hết các châu lục đã hình thành. ở khu vực châu á, sau khi nội dung nhân quyền được đưa vào Hiến chương, vừa qua (ngày 18-11-2012) Tuyên ngôn nhân quyền ASEAN cũng đã được tổ chức này thông qua.
Lịch sử cho thấy ở Việt Nam, hơn 80 năm áp đặt chế độ thống trị, thực dân Pháp vẫn duy trì chế độ phong kiến thối nát; dân tộc ta không có Hiến pháp, không có quyền công dân, quyền con người. Người dân Việt Nam chỉ biết đến khái niệm QCN qua sách báo từ "chính quốc". "Thành tựu" nhân quyền mà chủ nghĩa đế quốc, thực dân và phát -xít đã đem lại cho dân tộc Việt Nam là sự kiện hơn 2 triệu người ở Bắc Bộ đã chết đói vào năm 1945 (chiếm gần 1/10 dân số lúc đó). Đây là một bằng chứng về tội ác của chủ nghĩa thực dân cấu kết với phong kiến không ai có thể phủ nhận được.
Thế là, hơn 150 năm, kể từ khi có Tuyên ngôn độc lập của Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, ở các nước thuộc địa, người dân vẫn phải sống kiếp nô lệ. Không phải ngẫu nhiên người ta nghĩ rằng, khái niệm nhân quyền không phải bao giờ cũng được sử dụng với nguyên nghĩa tốt đẹp của nó, mà đằng sau đó còn chứa đựng những ý đồ chính trị đen tối của các thế lực đế quốc, thực dân và của những kẻ tay sai của chúng. Bởi vì, trong lịch sử, khái niệm này đã được đưa đến với các thuộc địa cùng với lưỡi lê và báng súng của các đội quân xâm lược.
Đối với Cách mạng Việt Nam, QCN - nói cách khác, các quyền và lợi ích của nhân dân được xem là bản chất của chế độ xã hội XHCN, là mục tiêu đấu tranh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Điều này trước hết đã in đậm dấu ấn trong cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bài trả lời phỏng vấn nhà thơ ô -xip Ma-đen-xtan (Liên Xô) năm 1923, Nguyễn ái Quốc (tức Chủ tịch Hồ Chí Minh) kể lại rằng: “Khi tôi độ 13 tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái… Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”. Vì vậy “tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài” (Hồ Chí Minh “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận”, NXB Văn học, Hà Nội, 1981).
Như vậy, có thể nói những giá trị tư tưởng nhân quyền của nhân loại là một trong những động lực ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn ái Quốc.
Vào năm 1919, sau khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc (1914-1918), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cùng với những người Việt Nam yêu nước ở Pháp gửi bản "Yêu sách của nhân dân An Nam" đến Hội nghị nguyên thủ các nước thắng trận họp ở Véc -xây (Pháp). Văn kiện này đưa ra những yêu sách nhân quyền khiêm tốn, trong khuôn khổ chế độ thuộc địa, nhưng rút cuộc những yêu sách đó bị từ chối. Sau sự kiện này, Người rút ra kết luận: Những hứa hẹn về tự do, bình đẳng, bác ái và nhân quyền của chủ nghĩa đế quốc đối với các dân tộc bị áp bức chỉ là một thứ bánh vẽ, không hơn không kém. Muốn có độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc cho nhân dân, phải "đem sức ta mà giải phóng cho ta", phải tiến hành cuộc cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến và xây dựng một xã hội mới - xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Lịch sử Việt Nam đã chỉ ra rằng, QCN ở nước ta chỉ ra đời từ khi nhân dân ta giành được độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, quyền công dân và QCN của nhân dân ta đã được trân trọng ghi trong Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và Hiến pháp 1946 - Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam mới.
Tư tưởng gắn liền độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, chế độ xã hội do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh dạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó các quyền công dân và QCN được tôn trọng và bảo đảm đã đi vào Cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp và hệ thống pháp luật quốc gia xuyên suốt các giai đoạn cách mạng, từ khi dân tộc ta giành được độc lập đến nay. Như vậy là đối với nhân dân Việt Nam, quyền công dân và QCN là do nhân dân ta đấu tranh với các thế lực đế quốc, thực dân và phong kiến mà giành lại được chứ không phải do lòng tốt, sự chia sẻ, ban phát, hoặc “khai hóa” của bất cứ quốc gia nào.
Không phủ nhận rằng hiện nay Việt Nam đang phải đối diện với không ít những vấn đề về quyền con người, như sự phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng gia tăng; tình trạng quan liêu, tham nhũng chưa được đẩy lùi; “lợi ích nhóm” đang lấn át lợi ích xã hội; tình trạng người dân chưa được hưởng các hàng hóa, dịch vụ tương xứng với chất lượng và giá cả…, song tôn trọng và bảo đảm quyền con người vẫn thuộc quyền và trách nhiệm của Đảng và Nhà nước ta. Sự áp đặt mô hình dân chủ nhân quyền nào đó từ bên ngoài sẽ không bao giờ được nhân dân ta chấp nhận.
CAO ĐỨC THÁI

Không thể xuyên tạc về quyền của dân trong xây dựng Hiến pháp


QĐND - Với 100% số đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội khóa XIII vừa thông qua Nghị quyết về việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nghị quyết đã nhấn mạnh việc lấy ý kiến nhân dân nhằm mục đích phát huy quyền làm chủ, huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thế nhưng trên một số diễn đàn vẫn còn có những tiếng nói lạc lõng cho rằng “việc lấy ý kiến nhân dân chỉ là hình thức” và “Đảng Cộng sản Việt Nam đã độc đoán sửa đổi Hiến pháp”…
Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Sửa đổi Hiến pháp là công việc hệ trọng của quốc gia. Nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp. Mục đích của lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 nhằm phát huy quyền làm chủ và tạo sự đồng thuận của nhân dân trong việc xây dựng Hiến pháp để Hiến pháp thể hiện được ý chí, nguyện vọng của nhân dân; Huy động được trí tuệ, tâm huyết của nhân dân tham gia tích cực vào xây dựng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992; Nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với Hiến pháp và việc thi hành Hiến pháp.
Nội dung lấy ý kiến nhân dân là toàn bộ nội dung của dự thảo sửa đổi Hiến pháp, bao gồm: Lời nói đầu; chế độ chính trị; quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường; bảo vệ Tổ quốc; tổ chức bộ máy nhà nước; hiệu lực của Hiến pháp và quy trình sửa đổi Hiến pháp; kỹ thuật trình bày các quy định của Hiến pháp.
Việc lấy ý kiến nhân dân được thực hiện thông qua nhiều hình thức như góp ý trực tiếp hoặc bằng văn bản gửi đến các cơ quan, tổ chức; tổ chức các hội nghị, hội thảo, tọa đàm; phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng và các hình thức phù hợp khác.
Theo kế hoạch ban đầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XIII, dự kiến thời gian lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 là hai tháng (tháng 3 và tháng 4 năm 2013). Tuy nhiên, do mục đích, yêu cầu và nội dung dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này, để có đủ thời gian triển khai sâu rộng việc lấy ý kiến trong các tầng lớp nhân dân, bảo đảm để việc lấy ý kiến nhân dân thực sự chất lượng, hiệu quả, tránh hình thức, tại kỳ họp thứ 4 vừa qua, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã đề nghị Quốc hội và được Quốc hội nhất trí cao cho phép tổ chức lấy ý kiến nhân dân trong thời gian 3 tháng, bắt đầu từ ngày 2 tháng 1 năm 2013 và kết thúc vào ngày 31 tháng 3 năm 2013.
Trước đó, tại Hội nghị lần thứ hai, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) đã thảo luận, thống nhất cao về quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, các định hướng lớn, phương châm và phương pháp tiến hành; xác định việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Thông báo của Hội nghị khẳng định: “Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là công việc hệ trọng cần được tiến hành chặt chẽ, khoa học, dưới sự lãnh đạo của Đảng; động viên sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học và lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân”.
Như vậy, cả Đảng Cộng sản Việt Nam và Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều đánh giá cao vai trò đặc biệt quan trọng của nhân dân trong việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp. Thực tế trong lịch sử lập hiến của nước ta, việc xây dựng, ban hành Hiến pháp năm 1959, năm 1980, năm 1992 và sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992 (vào năm 2001) đều tiến hành tổ chức lấy ý kiến nhân dân. Các ý kiến tâm huyết của nhân dân đều được Ban soạn thảo tiếp thu, đưa vào dự thảo.
Việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 được kế thừa kinh nghiệm xây dựng các bản Hiến pháp trước đây, trong đó có kinh nghiệm quan trọng nhất là phải phát huy đầy đủ và sâu sắc dân chủ xã hội chủ nghĩa. Tờ trình của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trình Quốc hội cho rằng: “Để việc lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả, thực sự là đợt sinh hoạt chính trị - pháp lý quan trọng, rộng lớn trong nhân dân và cả hệ thống chính trị, Ủy ban đề nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992”.
Thực tế đã rõ ràng như vậy mà vẫn còn có ý kiến lạc lõng trên một số diễn đàn cho rằng, “việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 là độc quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam”, “Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm thay công việc của Quốc hội”…
Ai cũng biết rằng, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp là một việc làm bình thường, đúng pháp luật, phù hợp với tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước. Thực tiễn cho thấy, nước ta đã trải qua 4 lần sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và cả 4 lần đều thu được kết quả tốt đẹp góp phần đưa đất nước tiến lên theo đúng mục tiêu đặt ra là nhà nước ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Nghị quyết của Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đóng góp dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: Tổ chức lấy ý kiến nhân dân với các hình thức thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi để các tầng lớp nhân dân cả ở trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia vào việc xây dựng Hiến pháp. Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân phải được tiến hành dân chủ, khoa học, công khai; bảo đảm tiến độ, chất lượng, thiết thực và tiết kiệm. Ý kiến đóng góp của nhân dân phải được tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác; phải được nghiên cứu tiếp thu nghiêm túc để hoàn thiện, nâng cao chất lượng dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan thông tin đại chúng trong việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến; phản ánh trung thực, kịp thời ý kiến tham gia của nhân dân.
Việc sửa đổi bổ sung Hiến pháp là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân dân Việt Nam, Hiến pháp và các văn bản pháp luật của Việt Nam luôn tôn trọng luật pháp quốc tế, tôn trọng chủ quyền và biên giới quốc gia của các nước, tôn trọng quyền tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ các nước, đồng thời góp phần xây dựng và bảo vệ nền hòa bình của khu vực và thế giới.
Nhân dân Việt Nam hiểu và tôn trọng những thành quả mà Đảng, Bác Hồ và toàn thể nhân dân đã giành được từ trong khổ đau lầm than và nô lệ. Chúng ta quyết không chấp nhận những kẻ cố tình quay lưng lại với con đường cách mạng Việt Nam, cố tình xuyên tạc, nói xấu và đi ngược lại lợi ích của dân tộc và của nhân dân Việt Nam trong tiến trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước.
Tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội đã đề nghị để việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Hiến pháp mới không bị lợi dụng, xuyên tạc, cần có quy định cấm về hành vi xuyên tạc, bôi xấu trong việc lấy ý kiến. Mọi ý kiến của nhân dân phải được tiếp thu tối đa, chỗ nào tiếp thu cần nói rõ, chỗ nào không tiếp thu cũng cần giải thích rõ để nhân dân hiểu.
ĐỖ PHÚ THỌ

Ông Phil toan tính điều gì?


QĐND - Ngày 21-11, Tòa án nhân dân Tối cao mở phiên tòa phúc thẩm và đã tuyên y án sơ thẩm (6 năm tù) đối với Đinh Đăng Định về tội “tuyên truyền chống Nhà nước...” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự. Ngay sau khi phiên phúc thẩm kết thúc, ông Phil Robertson, Phó giám đốc khu vực châu Á của tổ chức Theo dõi nhân quyền ở Mỹ đã lên tiếng rằng “Việc truy tố như thế đã làm dấy lên những quan ngại cơ bản về ý định của Việt Nam đối với quyền tự do bày tỏ trên internet”. Trong một bản thông cáo tung lên một số trang web phản động ở nước ngoài, ông ta còn lộ rõ quan điểm bênh vực, che chắn cho Đinh Đăng Định.
Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam của Đinh Đăng Định là rất rõ ràng. Kết quả điều tra cho thấy, Đinh Đăng Định đã ngông cuồng soạn thảo, tán phát nhiều tài liệu chống đối các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; câu kết, móc nối với các phần tử, tổ chức phản động trong và ngoài nước để hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Núp dưới bí danh “Văn Nguyễn”, Định đã soạn thảo, phát tán nhiều tài liệu có nội dung phản động. Định đã liên lạc, câu kết với Nguyễn Trung Lĩnh (ở Hà Nội) để thành lập ra cái gọi là “Đảng tự do dân chủ ở Việt Nam”. Ngoài ra Định còn tham gia nhiều diễn đàn, trả lời phỏng vấn các cơ quan báo chí phản động của tổ chức khủng bố Việt Tân ở nước ngoài với nội dung chống đối Đảng, Nhà nước... Định đã sản xuất, tàng trữ và lưu hành nhiều tài liệu có nội dung nói xấu, xuyên tạc thân thế sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh; tạo điều kiện để các tổ chức phản động ở nước ngoài xuyên tạc, bóp méo sự thật chống phá Việt Nam. Qua kiểm tra, cơ quan chức năng phát hiện trong máy tính của Định có chứa 19 bộ tài liệu, với 195 trang mang nhiều nội dung xuyên tạc thân thế, sự nghiệp của lãnh tụ, chống lại đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Những tài liệu đó đã được Định cấu kết với các phần tử phản động ngoài nước tung lên mạng...
Mọi sự rõ như ban ngày, thế nhưng trong con mắt của ông Robertson, Định chỉ là “nhà chính trị ôn hòa”, chỉ “thực hiện quyền tự do ngôn luận”, “bày tỏ quan điểm cá nhân”,… chứ không phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”. Ông Robertson nói trong thông cáo rằng: “Lẽ ra ông không thể bị bắt bởi vì tất cả những gì ông làm là thực hiện quyền cơ bản tự do bày tỏ ý kiến…”. Phát biểu của ông Robertson cho thấy rõ cái nhìn thiển cận, phiến diện về Công ước quốc tế và luật pháp Việt Nam. Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, tại Điều 29 của chính văn bản này cũng khẳng định: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”. Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki moon cũng chỉ rõ rằng: “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng”. Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong khuôn khổ luật pháp. Ví như Điều 18 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”... Rõ ràng hành vi của Định vừa trái với Công ước quốc tế, vừa vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam công nhận, bảo đảm việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Vậy tại sao ông Phil Robertson lại bảo vệ Đinh Đăng Định, ông ta đang toan tính điều gì? Dư luận chẳng lạ gì tâm địa của ông và cái gọi là tổ chức Theo dõi nhân quyền. Lâu nay, tổ chức này ở Mỹ và một số trang mạng có quan điểm chống Việt Nam ở nước ngoài thường lợi dụng những vụ việc tương tự để tuyên truyền xuyên tạc, gây sức ép đòi Việt Nam thay đổi Điều 88-Bộ luật Hình sự quy định về tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Rõ ràng ông Phil Robertson đang đội lốt “theo dõi nhân quyền” để can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.
KIM NGỌC

Làm chủ mạng xã hội để tập hợp và giáo dục thanh niên


QĐND - Tuần trước, đóng góp vào Dự thảo văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, Phó chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam Nguyễn Quang Thông đã đưa ra con số, ở Việt Nam hiện có 5, 43 triệu người dùng facebook, đa số nằm trong độ tuổi từ 18  - 34… Dùng mạng xã hội đã trở thành nhu cầu thực sự của giới trẻ nhưng mạng xã hội lại phát triển tự phát, thiếu định hướng và nguy cơ “Diễn biến hòa bình” tác động đối với giới trẻ từ đây cũng rất lớn. Các Mác từng nói: Vũ khí của sự phê phán không thể thay thế được sự phê phán bằng vũ khí. Đã đến lúc, cuộc đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” trên internet cần có những lực lượng tiến bộ tiên phong để tập hợp, định hướng giới trẻ…
Những “đốm sáng” tự phát
Gần 50.000 thành viên yêu thích (like), khoảng 10.000 người thường xuyên trao đổi bàn luận hằng ngày, hàng trăm tới hàng nghìn bình luận sau mỗi bài viết. Đó là con số mà trang facebook mang tên “Hội những người ghét bọn phản động” đạt được trên internet sau 2 năm hoạt động. Với nội dung phần lớn các bài viết phê phán, vạch trần thủ đoạn của các thế lực phản động, chống cộng bằng một ngôn ngữ khá “xì -tin” cùng những hình ảnh vui nhộn, dẫn nguồn nhiều bài viết phù hợp với giới trẻ trên báo chí, trang facebook này đã thu hút, tập hợp được một lực lượng không nhỏ thanh niên. Loại trừ một số hạt sạn, một số bình luận tiêu cực, nhìn một cách tổng thể, đây là một trang có nhiều điều hữu ích cho giới trẻ. Trang này đã đưa ra các vấn đề nóng và có tính tương tác cao giữa các thành viên, phản bác nhiều luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cũng như các trang mạng chống Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, trang này do ai lập ra, có thực sự đáng tin cậy không thì vẫn thật khó thẩm định vì nó vẫn thuộc về “thế giới ảo”, không thuộc một đoàn thể, tổ chức chính thống để tập hợp giới trẻ.
Một câu chuyện mang tính thời sự hơn vừa xảy ra trên một trang mạng xã hội khác. Trong thời điểm toàn Đảng ta đang đẩy mạnh triển khai Nghị quyết Trung ương 4 về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, có không ít trang mạng xấu độc nêu quan điểm tiêu cực, cho rằng đó chỉ là một cuộc “ném đá ao bèo” khiến giới trẻ có thể dao động thì một mạng xã hội của giới trẻ đã đăng lại bài “Đọc bản đảng viên tự kiểm điểm trước đây, suy nghĩ về đảng viên tự kiểm điểm hiện nay” của Tạp chí Cộng sản. Đó là bản tự kiểm điểm định kỳ trong đợt “chỉnh cán chỉnh cơ” của ông Nguyễn Sinh Chưng  - Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Quảng Bình. Trong suốt 6 trang viết kiểm điểm, ông Chưng chỉ nêu rất ít ưu điểm và tự phê phán rất nghiêm khắc những khuyết điểm của bản thân mình ở cả 4 phần của bản tự kiểm điểm như: “Một dịp tôi bị thương nhẹ, nhân đó tôi cho cơ quan chuyển về chiến khu vùng miền núi". ông tự phê phán: “Đó là vì động cơ sợ chết, sợ bị thương. Đó là tư tưởng khiếp sợ địch. Tôi đã không nghĩ đến nhân dân đang kiên trì bám trụ dưới tầm bom đạn của giặc…”. “Tôi đã lấy lý do công tác, lấy lý do bị thương để về sống với vợ con gần 2 tháng. Những lần sống thiếu thốn vất vả quá, vợ tôi khuyên tôi về đầu hàng giặc... Có lần tôi đã định cắt đứt tình vợ chồng, thả vợ về với địch”. Ông tự phê phán: “…7 năm trường kỳ kháng chiến, được vợ chăm sóc đùm bọc nhưng do chỉ một câu nói của vợ thiếu suy nghĩ mà tôi đã vội cho rằng vợ tôi là người phản động. Nếu vợ đã nghe lời tôi thì địch sẽ dựa vào đó để phản tuyên truyền và phá vỡ các cơ sở của ta. Tôi đã thiếu phương pháp tuyên truyền thuyết phục đối với gia đình …”. Sau khi bài báo thú vị trên đăng lên mạng xã hội, đã có tới hàng nghìn lượt đọc và rất nhiều ý kiến bạn đọc sẻ chia, tán thành, tin tưởng hơn vào công cuộc chỉnh đốn Đảng nếu như Đảng ta tiếp tục có cách làm nghiêm túc như đã làm năm xưa. Điều này minh chứng sự lan tỏa, kết nối của mạng xã hội, giúp bài báo thu hút giới trẻ, đến với giới trẻ nhanh hơn so với nếu chỉ dừng lại ở việc đăng trên tạp chí
Sau hơn một năm hoạt động, trang “Hội những người yêu màu Tổ quốc” cũng thu hút được gần 3000 thành viên yêu thích. Chỉ bằng một lời kêu gọi cùng nhau thể hiện tình yêu Tổ quốc bằng cách “nhuộm đỏ” blog, facebook nhân các ngày lễ kỷ niệm và lịch sử, các dịp Tết đến Xuân về, nhiều trang mạng hiện nay đã trở thành nơi chia sẻ tình yêu Tổ quốc trong sáng, từ những điều tưởng như đơn giản mà không giản đơn.
Vậy mà thật đáng tiếc, các tổ chức thanh niên nhiều năm qua gần như “bỏ trống” một trận địa quan trọng trên mặt trận tư tưởng này. Không có nhiều tổ chức Đoàn sử dụng internet, mạng xã hội như một công cụ hữu hiệu để tập hợp thanh niên và tổ chức các phong trào hành động cách mạng.
Nguy cơ tiềm ẩn
Trong khi đó, các thế lực thù địch lại khá “nhanh chân” trong việc lôi kéo giới trẻ thông qua internet, mạng xã hội. Số liệu từ một cuộc  hội thảo “Phòng chống tự diễn biến, tự chuyển hóa trong tình hình hiện nay” tổ chức gần đây cho thấy: Lợi dụng tâm lý thích khám phá cái mới, sự non nớt, bồng bột, thiếu kinh nghiệm của giới trẻ, các thế lực thù địch luôn tìm cách lôi kéo, chuyển hóa thanh niên làm “ngòi nổ”, là “lực lượng xung kích” trong các hoạt động chống phá chế độ. Từ năm 2007 đến nay, thông qua các trang web, cơ quan chức năng đã phát hiện hàng chục vụ kích động sinh viên biểu tình…
Trong bối cảnh còn rất thiếu những “kênh” hữu hiệu để tập hợp, vận động, giáo dục thanh thiếu niên trên internet thì trên mạng lại tràn lan các trang có quan điểm “tốt xấu, thật giả lẫn lộn” khiến giới trẻ rất dễ “lạc lối trên mạng”. Xin nêu ví dụ về việc nhận diện các trang mang tên “yêu nước”, “chống phản động”, “ghét bọn phản động” hiện nay. Có trang tiếng là “chống phản động” nhưng nội dung lại rất phản động, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; bôi nhọ lãnh tụ. Có trang mang danh “yêu nước” nhưng nội dung lại kích động hận thù. Có trang lập lờ giữa bài có nội dung tốt với bài có nội dung xấu khiến giới trẻ sa vào ma trận thông tin, khó phân biệt nổi “chính -tà”.
Bàn về vấn đề này, nhiều ý kiến cho rằng, các phong trào thanh niên gần đây ít có sự tương tác với thanh niên bằng những công cụ hiện đại. Môi trường mạng xã hội luôn ẩn chứa nhiều giá trị ảo, nếu bỏ trống hoặc định hướng không tốt sẽ khiến giới trẻ quá sa đà, chạy theo giá trị ảo mà xa rời cuộc sống thực; thậm chí dễ bị lôi kéo .
Mở những con đường sáng
Không thể phủ nhận vai trò của mạng xã hội trong tập hợp giới trẻ nói chung, tập hợp vào cuộc đấu tranh phòng chống “Diễn biến hòa bình” ngày càng tăng. Nhưng tập hợp như thế nào để internet không trở thành con dao hai lưỡi không phải là điều đơn giản. 
 Trước hết, cần nhận thức rằng, sự phát triển vũ bão của khoa học công nghệ luôn tạo ra những công cụ mới, phương thức mới, cộng đồng mới trên internet. Vài năm trước, trào lưu “chơi blog” từng làm mưa làm gió trong việc thu hút giới trẻ nhưng giờ đây, câu chuyện blog đã lắng xuống nhường chỗ cho facebook. Những văn bản pháp lý về quản lý blog còn chưa hoàn thiện để thực thi thì câu chuyện xung quanh hoạt động của facebook ở Việt Nam đã làm nóng cộng đồng mạng suốt mấy tuần qua. Một khảo sát  trên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam về việc sử dụng facebook chỉ trong một tuần đã thu hút hơn 13.000 người tham gia, đủ thấy nhu cầu sử dụng mạng xã hội của giới trẻ cao như thế nào. Cho nên, cùng với việc tăng cường quản lý mạng xã hội, hạn chế thấp nhất những tác động tiêu cực của nó, thì đòi hỏi cũng phải biết sống chung với nó, khai thác những ưu việt của nó, nhất là trong việc tập hợp giới trẻ, đang là một đòi hỏi bức thiết hiện nay.
Đã đến lúc, các tổ chức, đoàn thể liên quan đến thanh, thiếu niên, sinh viên, học sinh cần có nhiều hơn những kênh tập hợp giới trẻ trên internet, bằng những trang chính thống, có tổ chức, có nội dung và hình thức hấp dẫn, thu hút. Gần đây, đã có nhiều kiến nghị dự thảo văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc cần bổ sung, tăng cường các hình thức kết nối, tương tác thân thiện trên các mạng xã hội. Kinh nghiệm từ Tỉnh đoàn Bắc Giang gần đây có thể gợi mở một hướng đi phù hợp. Anh Mai Sơn, Bí thư Tỉnh đoàn Bắc Giang cho biết: Nhiều mô hình hay về “Tập hợp thanh niên trên internet” được xây dựng và hoạt động hiệu quả, nhiều câu lạc bộ, diễn đàn trên internet đượcthànhlập như: tinhdoanbg.gov.vn;bacgiangonline.net;bacgiangview;xaydungbg.com; svbacgiang.net; tusononline.net; phuongson.tk; thphchuyenbacgiang.edu.vn… thu hút được đông đảo thanh niên trong tỉnh Bắc Giang và thanh niên Bắc Giang đang làm việc, học tập trên mọi miền Tổ quốc. Nhiều phong trào như: “Tiếp bước chân em đến trường, “Em tôi đi thi”; "Sắc xanh trên quê hương Bắc Giang", “Thắp nến tri ân”, “áo ấm tặng Bà”, “Mùa đông ấm trên vùng cao Lục Ngạn”… đều khởi phát từ các diễn đàn internet, sau đó trở thành hoạt động thực tiễn sôi nổi.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: Một tấm gương sống có giá trị hơn hàng vạn bài diễn văn tuyên truyền. Trong tập hợp, giáo dục thanh niên trên internet nói chung, đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên internet nói riêng hiện nay cũng vậy. Cần xây dựng, chọn ra các tổ chức, cá nhân tiêu biểu làm công cụ để định hướng, chia sẻ, dẫn dắt, giáo dục thanh niên thông qua mạng xã hội, tăng tính gần gũi, thân thiện của công tác giáo dục của Đoàn với các bạn trẻ. Hằng năm, chúng ta đã tổ chức các cuộc thi tìm hiểu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xây dựng nhiều Câu lạc bộ bổ ích. Những hoạt động này, những câu lạc bộ này hoàn toàn có thể được tổ chức trên internet. Đặc biệt, những câu lạc bộ, những hạt nhân xung kích điển hình trong đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động do tổ chức Đoàn khởi xướng và tổ chức chặt chẽ chắc chắn sẽ thu hút giới trẻ và hoạt động hiệu quả hơn so với những trang tự phát hiện nay. 
Một công việc rất cần làm nữa là phải có chiến lược đầu tư cho được hệ thống mạng xã hội của Việt Nam, do chúng ta lập ra và quản lý. Còn nhớ, năm 2009, mạng xã hội zingme từng tuyên bố đã phát triển vượt bậc và trở thành mạng xã hội phổ biến nhất Việt Nam. Vậy mà chỉ sau 2 năm, từ năm 2011 đến nay, mạng này đã phải “ngậm ngùi” nhường chỗ cho facebook. Không thể tập hợp, giáo dục giới trẻ hiệu quả với công cụ “mượn” của “người ngoài”. Hiện nay, các mạng xã hội ở Việt Nam có không ít mạng rất tiện ích sử dụng nhưng do thiếu chiến lược, con đường tiếp cận nên người dùng vẫn ưa dùng “hàng ngoại” hơn. Trao đổi với phóng viên TS Phạm Hùng Phong, Tổng giám đốc Công ty VietNet, từ bài học thành công khi xây dựng hệ thống quán cà phê  - internet đầu tiên ở Hà Nội trước đây cho thấy: Cần gắn các mạng xã hội Việt Nam với các hoạt động chính thống của các đoàn thể xã hội. Khi giới trẻ sử dụng mạng xã hội nội địa thì việc quản lý, ngăn chặn những nhân tố xấu sẽ thuận lợi hơn rất nhiều; đặc biệt là việc phát hiện, xử lý những đối tượng cực đoan, thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình”. ông Phong cũng cảnh báo nguy cơ một vài mạng xã hội Việt Nam bị đối tác nước ngoài mua lại sẽ tiếp tục gia tăng những “lỗ hổng” đáng tiếc.
NGUYỄN VĂN MINH

"Thừa nước đục thả câu"


QĐND - Sau khi Nguyễn Phương Uyên, sinh viên Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh, bị cơ quan an ninh bắt giữ để điều tra về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, một số hội, đoàn, tổ chức người Việt lưu vong mượn danh, ngụy tạo chứng cứ đã ngay lập tức tung lên mạng những bức thư kiến nghị của tập thể gửi Chủ tịch nước và Tâm thư gửi những nhân sĩ, trí thức ủng hộ cho Nguyễn Phương Uyên. Bên cạnh đó, trên một số phương tiện thông tin truyền thông ở nước ngoài cũng rộ lên những thông tin xuyên tạc trắng trợn vụ việc này.
Phòng Công tác Chính trị - Học sinh sinh viên, Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh khẳng định: Nguyễn Phương Uyên chỉ là sinh viên bình thường nhưng họ đã khoác cho nhân vật này những cái danh như "cán bộ đoàn trường", "phát thanh viên của nhà trường"... Hành vi tuyên truyền chống Nhà nước của Nguyễn Phương Uyên là rất rõ ràng. Sau khi bị bắt, Uyên rất ân hận và thành thật nhận tội: “Bản thân tôi nhận thấy việc mình làm đã vi phạm pháp luật Nhà nước Việt Nam, chống lại Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam, giúp cho tổ chức phản động chống Đảng, Nhà nước”, thế nhưng họ lại nói rằng, Uyên chỉ nhận tội "tham gia hoạt động chống đối Trung Quốc". Cùng với đó họ tung ra danh sách 109 sinh viên của trường đã đồng ký đơn gửi lên Chủ tịch nước đòi trả tự do cho Nguyễn Phương Uyên. Thế nhưng cơ quan chức năng của Trường Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh khẳng định: Kiểm tra danh sách 109 sinh viên được cho là đã ký đơn gửi lên Chủ tịch nước thì thấy mã số thẻ của những sinh viên này mà nhà trường quản lý là không đúng. Các sinh viên có tên trong đơn rất bức xúc trước việc đã có kẻ mạo danh mình để làm bậy, khẳng định họ không hề biết gì về lá đơn và phủ nhận việc ký tên vào lá đơn nói trên...
Thâm độc, nham hiểm hơn họ còn phỏng vấn một số người thân của Phương Uyên rồi tự đưa ra nhận xét mơ hồ rằng: Có thể đã có một kịch bản từ phía cơ quan điều tra và chính quyền được xây dựng nên để chống lại Phương Uyên cũng như để "đàn áp học sinh, sinh viên" ngăn cản họ lên tiếng vì lòng yêu nước... Để rồi từ đó họ tiếp tục kêu gọi sinh viên hãy lên tiếng bảo vệ Phương Uyên.
Những thủ đoạn trên của một số tổ chức phản động, phần tử thiếu thiện chí với Việt Nam thực chất là trò "thừa nước đục thả câu" để hòng tiếp tục lừa bịp, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin. Sự thật về vụ việc vi phạm pháp luật của sinh viên Nguyễn Phương Uyên đã được các cơ quan chức năng làm rõ. Sự mơ hồ về chính trị, ngộ nhận về lòng yêu nước, cách suy nghĩ và lối sống thực dụng đã khiến Nguyễn Phương Uyên mắc sai lầm và Phương Uyên sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước pháp luật. Từ sự việc của Nguyễn Phương Uyên, mỗi người chúng ta hãy cảnh giác để không làm tổn thương lòng yêu nước chân chính, không để kẻ xấu lợi dụng, làm mất đi giá trị đích thực của bản thân trước gia đình, cộng đồng và Tổ quốc.
KIM NGỌC

Một sự hẫng hụt


QĐND - Cuộc chạy đua, đầy kịch tính vào ghế Tổng thống Hoa Kỳ giữa Barack Obama - Mitt Romney, hai ứng cử viên của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa đã kết thúc. Tổng thống Barack Obama một lần nữa trở thành ông chủ của Nhà trắng thêm 4 năm nữa. Cũng trong cuộc bầu cử này, theo kết quả được công bố: Đảng Cộng hòa vẫn tiếp tục nắm đa số tại hạ viện, Đảng Dân chủ nắm thượng viện. Những người theo dõi nhóm cử tri gốc Việt mới ngộ ra rằng, các tổ chức chuyên hành nghề chống Cộng đã từng lợi dụng cơ hội cuộc bầu cử này để gây sức ép đối với các ứng cử viên Tổng thống và trở thành nghị sĩ hạ viện, thượng viện chỉ là một trò chính trị rẻ tiền, mình tự lừa dối mình mà thôi. 
1- Nhằm lợi dụng cơ hội của cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ, tháng 3-2012, các tổ chức chống Cộng tại Mỹ đã tổ chức cái gọi là “Chiến dịch vận động nhân quyền” rầm rộ tại Oa -sinh-tơn DC. Cuộc vận động nhằm ký tên vào “Thỉnh nguyện thư” để xin được vào Nhà trắng (!)bày tỏ ý nguyện Tổng thống gây sức ép với “chính quyền Cộng sản Hà Nội” thực hiện dân chủ nhân quyền cho Việt Nam. Và vào lúc “Chiến dịch Vận động nhân quyền” đạt đến đỉnh caob, người ta đã tung lên mạng rằng chỉ ứng cử viên nào ủng hộ vấn đề nhân quyền cho Việt Nam mới hy vọng giành được những lá phiếu của cử tri gốc Việt ở Mỹ. Nhiều cử tri có thiện chí với ông Obama đã bắt đầu lo lắng liệu cử tri gốc Việt có bỏ phiếu cho ứng cử viên da màu này nữa không? 
Trong nhiều cuộc bầu cử Tổng thống và bầu cử hạ viện, thượng viện trước đây đa số cử tri gốc Việt chống Cộng thường bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa. Thế nhưng kết quả  nhiều cuộc thăm dò dư luận trước cuộc bầu cử Tổng thống vừa qua ở Mỹ cho thấy, hầu hết những cử tri gốc Việt đã có sự thay đổi về nhận thức trên lĩnh vực này. Tuy đến nay vẫn còn những kẻ muốn chính phủ mới gây “áp lực mạnh hơn với nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam để cải thiện nhân quyền, phục hồi dân chủ và trả lại tự do cho đồng bào trong nước”, thì tuyệt đại đa số cử tri gốc Việt, nhất là lớp trẻ đã và đang chuyển sang ủng hộ Đảng Dân chủ hoặc giữ quan điểm độc lập. Tiêu chí nhân quyền đã không còn là tiêu chuẩn quan trọng nhất mà là quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia… Đơn giản vì điều này liên quan đến làm ăn, sinh sống thường nhật của mọi người, không kể họ mang quốc tịch gì. Cử tri gốc Việt đã suy nghĩ như thế nào trong cuộc bầu cử này? Ngày nay nhóm cử tri gốc Việt cũng có chung quan điểm như cử tri Mỹ, họ quan tâm nhiều hơn đối với những vấn đề thiết thân của mình tại quốc gia sở tại. Nhiều người nói, họ bỏ phiếu cho những ứng cử viên nào đáp ứng được đời sống người dân, như công ăn việc làm, y tế, giáo dục, bảo tồn văn hóa của cộng đồng, giúp ích cho lợi ích cá nhân, cộng đồng của người Việt tị nạn. 
2- Cũng có chung mục đích chớp cơ hội cuộc bầu cử Tổng thống để gây sức ép, mặc cả với ứng cử viên và các fan (người hâm mộ) của hai ứng cử viên Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa, đầu năm nay những lực lượng cực hữu trong Hạ viện Hoa Kỳ trong đó có ông Crít Xmít (Chris Smith), nghị sĩ Cộng hòa tiểu bang Niu Giơ -xi (New Jersey), thành viên cao cấp của ủy ban Đối ngoại Hạ viện, được nhóm người Việt chống Cộng tích cực ủng hộ và tổ chức Theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch) đã đệ trình “Dự luật nhân quyền Việt Nam”, có tên là: “Dự luật Nhân quyền Việt Nam năm 2012” (The Vietnam Human Rights Act of 2012). Dự luật đã được Tiểu bang nhân quyền Hạ viện thông qua vào ngày 8-2 và ngày 11-9 đã được Hạ viện thông qua. Liệu Dự luật Nhân quyền Việt Nam 2012 có được Thượng viện và Tổng thống thông qua đó vẫn còn là một ẩn số!
Nếu như trước đây nhiều người đã ảo tưởng rằng Hoa Kỳ có thể áp đặt quan điểm nhân quyền của mình cho Việt Nam thì ngày nay người ta có quan điểm cầu thị hơn - thừa nhận sự khác biệt nào đó giữa hai quốc gia trên lĩnh vực này. Những gì mà chính quyền Obama đã làm trước đây để thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam đã được ghi nhận như là một việc làm có trách nhiệm. Có người nói: “Ngay từ đầu khi tranh cử 4 năm trước, ông Obama ủng hộ nhân quyền ở Việt Nam, và ông vẫn làm thế. Mỗi khi đến Việt Nam, Ngoại trưởng Hillary Clinton đều nêu vấn đề nhân quyền”.
 Hơn nữa, với kết quả bầu cử hạ viện và thượng viện: Hai đảng nắm hai viện sẽ làm cho việc thông qua “Dự luật nhân quyền Việt Nam 2012” sẽ không thể đi đến hồi kết như nhóm nghị sĩ cực hữu của Đảng Cộng hòa mong muốn. Theo luật pháp Hoa Kỳ bước tiếp theo, văn bản này sẽ được đệ trình lên thượng viện. Và nếu được thượng viện thông qua, thì cuối cùng Dự luật muốn có hiệu lực, phải được Tổng thống phê chuẩn. Điều này là khó có thể xảy ra nếu Chính phủ mới của Hoa Kỳ vẫn muốn duy trì và phát triển quan hệ với Việt Nam.
Mặc dù hiện nay Việt Nam còn không ít những vấn đề về dân chủ và nhân quyền, như hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, (trong đó có Luật Đất đai); tình trạng phân hóa giàu nghèo có khuynh hướng mở rộng; tình trạng quan liêu, tham nhũng chưa bị đẩy lùi… nhưng những thành tựu bảo đảm quyền con người của Đảng và Nhà nước ta là không thể phủ nhận. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. 
Có thể nói, gần 70 năm qua, từ khi dân tộc ta giành được độc lập đến nay, tôn trọng và bảo đảm quyền con người là nội dung xuyên suốt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta. Điều này xuất phát từ mục tiêu, lý tưởng của Đảng và thể hiện tính nhất quán trong chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nó hoàn toàn không phải xuất phát từ sức ép nào đó từ trong và ngoài nước.
Với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, với truyền thống gắn bó máu thịt với nhân dân, nhất định các quyền con người của nhân dân ta sẽ được bảo đảm ngày càng tốt hơn.
Phương Anh