Cần hiểu đúng nội dung về Đảng lãnh đạo trong Dự thảo Hiến pháp



QĐND - Ngay sau khi các phương tiện thông tin đại chúng của nước ta đồng loạt đăng tải toàn văn Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để lấy ý kiến toàn dân vào văn kiện đặc biệt quan trọng này, nhiều trang mạng ở hải ngoại và các phần tử phản động lại tiếp tục xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội được quy định tại Điều 4 của Hiến pháp.
Một quy định tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử
Để “tấn công” vào Điều 4, một số ý kiến lập luận rằng, Hiến pháp các năm 1946 và 1959 không có điều nào quy định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, nhưng Đảng “vẫn lãnh đạo nhân dân đánh thắng thực dân đế quốc xâm lược và hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thì cũng không nhất thiết phải xác nhận lại vai trò lãnh đạo của Đảng như trong Hiến pháp hiện tại”(!).
Lập luận này là lập lờ, thiếu toàn diện, không có quan điểm lịch sử cụ thể. Sở dĩ Hiến pháp năm 1946 không có quy định vai trò lãnh đạo của Đảng, vì trước đó ngày 11-11-1945, do tình thế đặc biệt của cách mạng, Đảng ta đã ra tuyên bố tự giải tán, nhưng sự thật là rút lui vào hoạt động bí mật, giữ vững vai trò lãnh đạo. Trong thập niên 50 của thế kỷ XX, đế quốc Mỹ nhảy vào can thiệp miền Nam, đất nước ta bị chia cắt, Đảng bộ miền Nam cũng chưa ra hoạt động công khai vì bộ luật 10-59 của ngụy quyền Sài Gòn nhằm “tiêu diệt cộng sản” cực kỳ hà khắc, man rợ. Vì vậy, Hiến pháp 1959 cũng chưa đề cập đến vai trò lãnh đạo của Đảng. Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội, dân tộc ta có chung một bản Hiến pháp mới, trong đó khẳng định Đảng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Điều này là tất yếu, phù hợp với yêu cầu lịch sử, nhiệm vụ cách mạng mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và thực hiện đúng cơ chế vận hành “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở nước ta.
Điều 4 Hiến pháp năm 1980 ghi rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết Mác - Lê-nin, là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”.(1)
Kế thừa tinh thần đó, Điều 4 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.(2)
Trên cơ sở Điều 4 Hiến pháp năm 1992, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 xác định: “1. Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; 2. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.
Việc quy định Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ là tư tưởng xuyên suốt, nhất quán để khẳng định vị trí, vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng, mà còn là một nguyên tắc bất di bất dịch của cách mạng Việt Nam, phù hợp với thể chế chính trị - xã hội mà Việt Nam đã lựa chọn.
Đảng không “đứng ngoài” Hiến pháp và pháp luật
Với mưu đồ xuyên tạc Điều 4 Hiến pháp, một số luận điệu thường nhấn mạnh một vế là: Nếu chỉ có một Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội sẽ dẫn tới chuyên quyền, độc đoán, mất dân chủ. Thế nhưng, họ cố tình không nhắc tới hay “phớt lờ” một điểm then chốt được khẳng định trong Điều 4 là: Các tổ chức của Đảng đều hoạt động trong khuổn khổ Hiến pháp - với tư cách là đạo luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Khẳng định vai trò cầm quyền của mình đối với Nhà nước và xã hội, nhưng trách nhiệm của Đảng trước đất nước, trước nhân dân ngày càng được đề cao, nhấn mạnh rõ ràng, cụ thể hơn trong mỗi bản Hiến pháp. Nếu như Điều 4 Hiến pháp năm 1980 xác định “Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp”, thì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Tiếp tục tinh thần đó, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm về việc tuân thủ, thi thành Hiến pháp và pháp luật đối với mọi đảng viên.
Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội không chỉ bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức và kiểm tra; mà phần cốt yếu là thông qua đội ngũ tiền phong của mình là những cán bộ, đảng viên tiêu biểu về bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất và năng lực. Vì vậy, việc Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 khẳng định “Các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” nhằm bảo đảm cho Đảng giữ vững bản chất, mục tiêu, lý tưởng của mình, đồng thời là giải pháp quan trọng hàng đầu để phòng, chống, ngăn ngừa mọi nguy cơ thoái hóa, biến chất có thể xảy ra trong điều kiện một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Mặt khác, việc xác định trách nhiệm của các đảng viên trong việc tự giác, gương mẫu thực hiện, chấp hành Hiến pháp và pháp luật cũng không ngoài mục đích làm cho “đội ngũ tiên phong của Đảng” phải thường xuyên nêu cao ý thức, thái độ, trách nhiệm cả về suy nghĩ và việc làm, tư tưởng và hành động trong việc sống, làm theo Hiến pháp và pháp luật, làm gương cho nhân dân noi theo.
Có ý kiến băn khoăn: Liệu có phải “luật hóa” vai trò cầm quyền của Đảng không? Phải khẳng định rằng, dù không có một đạo luật cụ thể về Đảng, nhưng Đảng đã tự nguyện, tự giác đưa mọi hoạt động của mình vào khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Hơn nữa, không chỉ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, Đảng hoạt động còn dựa trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết, Quy chế làm việc của Đảng và các chỉ thị liên quan đến việc điều chỉnh các vấn đề trong nội bộ Đảng cũng như điều chỉnh các mối quan hệ của Đảng với Nhà nước, xã hội và nhân dân. Thực tế trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều chỉ thị thể hiện trách nhiệm của Đảng trước đất nước và nhân dân như: Quy định 76-QĐ/TW ngày 15-6-2000 của Bộ Chính trị (khóa VIII) “Về việc đảng viên đang công tác ở cơ quan, doanh nghiệp thường xuyên giữ vững mối quan hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ nơi cư trú”; Quy định 115-QĐ/TW ngày 7-12-2007 của Bộ Chính trị (khóa X) về những điều đảng viên không được làm và gần đây được thay thế bằng một văn bản có tính pháp lý cao hơn là Quy định 47-QĐ/TW ngày 1-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7-6-2012 của Ban Bí thư (khóa XI) về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, v.v.. Chứng tỏ rằng, Đảng ta luôn tự nghiêm khắc với chính mình thông qua việc ban hành các chỉ thị, quy định nhằm giáo dục, rèn luyện, đưa mọi hoạt động của các tổ chức Đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên vào khuôn khổ ý thức tổ chức, kỷ luật, qua đó bảo đảm cho Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên không trượt ra khỏi “đường ray” Hiến pháp và pháp luật.
Đảng không “đứng trên” nhân dân
Muốn hiểu được bản chất của một đảng cầm quyền, phải nhận thức rõ mục đích hoạt động của đảng đó là vì ai, mang lại lợi ích cho ai. Đảng Cộng sản Việt Nam, như Bác Hồ đã khẳng định “Ngoài lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Vì vậy, Điều 4 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã bổ sung: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình”.
Việc nhiều lần Đảng ta tiến hành tự chỉnh đốn, mà gần đây nhất là đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp ủy, tổ chức đảng trong toàn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” bước đầu mang lại nhiều hiệu ứng tích cực, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tại Hội nghị Trung ương 6 (khóa XI) vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương công khai thừa nhận và thành thật nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về những yếu kém, tồn tại trong công tác xây dựng Đảng và về những suy thoái, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Điều đó đã thể hiện tinh thần cầu thị nghiêm túc của Đảng, đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm đẩy lùi những khuyết điểm, yếu kém để Đảng không ngừng nâng cao sức chiến đấu, phẩm chất, trí tuệ, năng lực lãnh đạo, ngày càng ngang tầm với trọng trách được giao.
Đối với nhân dân Việt Nam, nói đến Đảng là nói đến tình cảm tự nhiên, thiêng liêng, là thể hiện niềm tin và tình yêu son sắt nhân dân dành cho Đảng. Có một sự thật mà hầu như mọi người Việt Nam ai cũng biết đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược giành thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp thống nhất Tổ quốc, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 26 năm đổi mới vừa là minh chứng thực tiễn sinh động, vừa là cơ sở khoa học thực tiễn để khẳng định về vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với dân tộc và nhân dân Việt Nam.
----------
(1), (2): Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992), Nxb CTQG, HN,
1995, trang 76 và 137, 138

THIỆN VĂN

Thực chất của cái gọi là “Trà đàm dân chủ”



QĐND - Thời gian qua, trên mạng internet xuất hiện một tổ chức có tên gọi là “Trà đàm dân chủ” hay còn gọi là “Đảng người Việt yêu người Việt”. Không chỉ thường xuyên bịa đặt tình hình trong nước, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, những kẻ cầm đầu của tổ chức này còn dụ dỗ, lôi kéo một số đồng bào dân tộc thiểu số trốn ra nước ngoài để tham gia vào tổ chức của chúng. Vậy sự thật cái gọi là “Trà đàm dân chủ” là gì?

Trần tình từ các nạn nhân
Năm 2005, Krajan Thuil ở thôn Bon Đưng 1, thị trấn Lạc Dương (Lạc Dương, Lâm Đồng) được Nhà nước hỗ trợ đi xuất khẩu lao động tại Ma-lai-xi-a. Nghe lời xúi giục của một số kẻ xấu, tháng 8 năm 2008, Krajan Thuil cùng 6 người bạn vượt biên sang Thái Lan. Anh này cho biết:
- Một số người bạn ở Thái Lan gọi điện nói, có một tổ chức người Việt sẵn sàng giúp đỡ chúng tôi đi tị nạn chính trị ở Mỹ, nếu không đi được họ cũng sẽ bố trí cho một công việc phù hợp và thu nhập cao hơn nhiều so với ở Ma-lai-xi-a.
Chỉ sau 3 ngày trốn sang Thái Lan, nhóm của Krajan Thuil bị cảnh sát địa phương bắt giữ và đưa vào Trung tâm giam giữ người nhập cư trái phép (IDC) ở số 507 Soi Suan Phlu, đường South Sathorn, thủ đô Băng Cốc. Tại đây, họ gặp Nguyễn Hùng Phong, “cố vấn cao cấp” của “Trà đàm dân chủ”. Mượn danh nghĩa nhân viên từ thiện, Nguyễn Hùng Phong thường xuyên vào trung tâm tổ chức các buổi tuyên truyền nói xấu Đảng và Nhà nước ta đồng thời dụ dỗ, mua chuộc người trong trại tham gia “Trà đàm dân chủ”. Khi được sự đồng ý của những người bị lừa, Nguyễn Hùng Phong bắt họ đứng chụp ảnh, cầm cờ của chế độ Việt Nam cộng hòa cũ, đọc “lời tuyên thệ” do chúng soạn sẵn rồi chụp ảnh, ghi hình, ghi âm.
Krajan Thuil cho biết: “Mọi người cũng không tin lắm, nhưng vì ai nhận lời sẽ được ông ta cấp cho vài bộ quần áo cũ, một ít nước và bánh ngọt nên họ gật đầu đại".
Ở trong trại 31 tháng, mọi người vẫn không thấy được đi Mỹ định cư. "Thỉnh thoảng, chúng tôi hỏi thì ông ta nói là đang làm thủ tục. Chúng tôi biết ông ta nói dối. Thực ra chẳng có ai được định cư ở Mỹ cả. Ngày 9-2-2010, chúng tôi được nhà chức trách Thái Lan trả về ViệtNam”, Krajan Thuil cho biết.
Sự thật về cái gọi là “Trà đàm dân chủ”
"Trà đàm dân chủ” là tổ chức phản động do Đỗ Hữu Nam lập ra đầu năm 2007 ở Cam-pu-chia (khi trả lời một số báo, đài nước ngoài, Nam nói bừa là thành lập tại TP Hồ Chí Minh). Bản chất cũng giống một số tổ chức phản động người Việt lưu vong khác là nhằm vu cáo, bôi nhọ chính sách của Đảng và Nhà nước ta, kích động hận thù dân tộc, tôn giáo; chia rẽ khối đại đoàn toàn kết dân tộc, âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân.
Đỗ Hữu Nam, sinh năm 1958 tại xã Hải Tân (Hải Lăng, Quảng Trị). Năm 1980 khi có lệnh gọi nhập ngũ, Nam trốn sang Cam-pu-chia kiếm sống bằng nghề xe ôm, cờ bạc sau đó tham gia tổ chức phản động “Đảng nhân dân hành động” do Nguyễn Sỹ Bình "nặn" ra ở Mỹ với chức danh “Phó ban trật tự”. Tháng 7-1997, Đỗ Hữu Nam thâm nhập vào Việt Nam để tuyên truyền, lôi kéo những người nhẹ dạ, cả tin tham gia vào tổ chức của chúng. Tuy nhiên, hắn đã bị cơ quan an ninh của ta bắt tại cửa khẩu và bị kết án 8 năm tù về tội danh trốn ra nước ngoài để chống lại chính quyền nhân dân.
Sau khi mãn hạn tù, tháng 10-2005, Nam vượt biên sang Cam-pu-chia rồi liên lạc với Đỗ Thành Công, để lập ra cái gọi là “Phong trào dân chủ cho Việt Nam” nhằm moi tiền viện trợ của Nguyễn Sỹ Bình và một số tổ chức phản động người Việt tại Mỹ (Đỗ Thành Công bị cơ quan an ninh của ta bắt vào ngày 14-8-2006 vì âm mưu khủng bố lãnh sự quán Mỹ ở TP Hồ Chí Minh và bị trục xuất khỏi Việt Nam ngày 21-9-2006). Sau một thời gian hoạt động, tháng 1-2007, Nam đổi tên phong trào trên thành “Trà đàm dân chủ” hay còn gọi "Đảng người Việt yêu người Việt". Bên cạnh Đỗ Hữu Nam, danh sách "lãnh đạo" tổ chức này còn có Mã Phi Danh, Nguyễn Hùng Phong, Trần Kim Tiến, Liang Hot E Đaur..
Để dụ dỗ những người nhẹ dạ, cả tin tham gia, Đỗ Hữu Nam và đồng bọn khoác lác: Nếu là thành viên của “Trà đàm dân chủ”, mỗi người sẽ được lĩnh 50USD/tháng, được cấp điện thoại, xe máy và được bảo lãnh cho tị nạn chính trị ở Mỹ. Tuy nhiên, cách làm này tỏ ra không hiệu quả vì nhiều người thừa biết chỉ là lời hứa hão, nên Đỗ Hữu Nam và đồng bọn bèn quay sang tiếp cận một số người Việt là lao động nghèo đang sinh sống, làm ăn trên đất Thái Lan, Cam-pu-chia và ra điều kiện: Nếu ký vào bản danh sách trở thành thành viên “Trà đàm dân chủ”, cầm cờ và nói theo những lời do chúng soạn ra để cho chúng chụp ảnh, ghi hình thì sẽ được nhận 5kg gạo và 200 baht. Nhiều người dù chẳng biết “Trà đàm dân chủ” là gì nhưng vì được ít tiền và gạo nên họ đồng ý. Với phương thức này, Nam có được danh sách “thành viên” đưa lên website của mình, qua đó giúp y nhận tiền viện trợ từ Nguyễn Sỹ Bình để tiêu xài.
Về trường hợp một số đồng bào dân tộc thiểu số tại tỉnh Lâm Đồng và một số tỉnh Tây Nguyên tham gia tổ chức “Trà đàm dân chủ”, cơ quan an ninh của ta cho biết: Năm 2005, 2006 trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên có một số người dân tộc thiểu số được Nhà nước hỗ trợ đi xuất khẩu lao động tại Ma-lai-xi-a. Trong số đó, một số người do thu nhập thấp, lại bị chủ phân biệt đối xử nên tìm cách trốn về nước bằng đường bộ (từ Ma-lai-xi-a sang Thái Lan - Cam-pu-chia rồi về ViệtNam). Khi sang đất Thái Lan, một số bị cảnh sát địa phương bắt giữ. Một số không bị bắt, nhưng do trình độ thấp, khó kiếm việc làm nên phải sống vất vưởng. Lợi dụng sự thiếu hiểu biết và thiếu thốn về vật chất của những người này, các đối tượng cốt cán của tổ chức “Trà đàm dân chủ” đã tìm cách tiếp cận, cho họ một ít tiền, gạo, nhu yếu phẩm để dụ dỗ, lôi kéo họ tham gia. Từ các đối tượng đầu tiên này, Đỗ Hữu Nam và đồng bọn chỉ đạo họ dùng điện thoại gọi cho bạn bè, người thân ở Ma-lai-xi-a và Việt Nam để rủ rê, hướng dẫn trốn đi. Tuy nhiên, khi sang tới nơi, nhiều người mới biết mình bị lừa.
Liên quan đến tổ chức này, vừa qua, Công an tỉnh Lâm Đồng đã khởi tố vụ án "Tổ chức đưa người trốn đi nước ngoài trái phép" đối với 2 đối tượng là Cil Chè và Kră Jăn Hô. Tòa đã tuyên phạt Cil Chè mức án 2 năm tù (nhưng cho hưởng án treo) và ra lệnh truy nã đối tượng Kră Jăn Hô đã trốn khỏi địa phương. Thượng tá Đỗ Văn Tường, Trưởng công an huyện Lạc Dương (Lâm Đồng) cho biết: “Trong 26 đối tượng là người dân tộc thiểu số trên địa bàn trốn ra nước ngoài tham gia tổ chức phản động “Trà đàm dân chủ”, 8 người đã trở về Việt Nam". Trao đổi với phóng viên, đồng chí Trần Công Chánh, Phó bí thư thường trực Huyện ủy Lạc Dương cho biết: Huyện ủy đã chỉ đạo kiểm điểm, làm rõ trách nhiệm một số đảng viên là cán bộ chủ trì các xã, thị trấn trong công tác quản lý hành chính. Bên cạnh đó, huyện đã tổ chức rút kinh nghiệm về công tác xuất khẩu lao động; đưa một số đối tượng vi phạm ra kiểm điểm trước nhân dân; kết hợp với các tổ chức tôn giáo trên địa bàn phát động toàn dân cam kết không nghe và làm theo lời xúi giục của kẻ xấu;  động viên, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để những người lầm lỡ tái hòa nhập cộng đồng; kết hợp cùng gia đình, dòng họ tuyên truyền, vận động con em đang ở nước ngoài trở về Việt Nam...
Bài và ảnh: VŨ ĐÌNH ĐÔNG

Bản án đúng luật pháp Việt Nam và phù hợp với công ước quốc tế



QĐND - Phiên tòa phúc thẩm ba công dân Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải đã kết thúc hôm 28-12. So với phiên sơ thẩm cách đây 3 tháng, bản án dành cho bị cáo Nguyễn Văn Hải và Tạ Phong Tần là không đổi...
Cũng như lần trước, mang danh Giám đốc khu vực châu Á của cái gọi là tổ chức theo dõi nhân quyền Human Rights Watch, trên một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam, ông Phil Robertson lại viết rằng: "Không ai trong số ba thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo tự do - Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần và Phan Thanh Hải - đáng bị bắt giữ, họ không đáng bị xử tù vì thực thi quyền biểu lộ quan điểm dưới các hình thức khác nhau…".
Cách nói của ông Phil Robertson chứng tỏ ông rất thiếu thông tin về chính sách và luật pháp Việt Nam. Bộ luật Hình sự hiện hành cũng như tất cả các đạo luật khác của Việt Nam đều được Quốc hội thông qua và được ban hành dựa trên các nguyên tắc, trình tự xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, trong đó có việc lấy ý kiến của đông đảo tầng lớp nhân dân... Do đó, Bộ luật Hình sự của Việt Nam phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm tính dân chủ và sự đồng thuận của xã hội. Quá trình xây dựng pháp luật, Việt Nam luôn nghiên cứu kỹ các công ước quốc tế đã tham gia để vận dụng. Do đó pháp luật Việt Nam luôn bảo đảm tính phù hợp với công ước quốc tế.
Điều 88 Bộ luật Hình sự của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam quy định tội phạm gồm các hành vi: Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hoá phẩm có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam... Điều 2 của Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền được thông qua ngày 10-12-1948 nêu rõ: “Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do được công bố trong Bản tuyên ngôn này” nhưng phải “căn cứ trên cơ chế chính trị, nền tảng luật pháp hay quy chế quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ đó…”. Điều 19 của Công ước quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16-12-1966 và có hiệu lực từ ngày 23-3-1976 quy định: "Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận". Nhưng cũng tại Điều 29 của Công ước này quy định: "... Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người chỉ phải chịu những hạn chế do luật định, và những hạn chế này chỉ nhằm mục tiêu bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng nhân quyền, và quyền tự do của những người khác, cũng như nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng, và nền an sinh chung trong một xã hội dân chủ."
Hành vi thành lập Câu lạc bộ Nhà báo tự do, tự thiết kế blog mang tên câu lạc bộ, sau đó thành lập thêm các trang phụ, thông báo cho các thành viên tham gia sử dụng; liên tục viết và đăng những bài có nội dung tuyên truyền, xuyên tạc sự thật, bôi nhọ sự lãnh đạo, đả kích đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; đăng lại nhiều bài từ blog, trang web của các tổ chức hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam; trực tiếp tham gia khóa huấn luyện về phương pháp đấu tranh bất bạo động do Tổ chức phản động Việt Tân tiến hành… của các đối tượng là rất rõ ràng và đã vi phạm Điều 88 Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Trong thực tiễn, trên thế giới không có quốc gia nào có quyền tự do ngôn luận tuyệt đối, quyền này thường bị hạn chế bởi các quy định của pháp luật. Tại Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bày tỏ chính kiến của mình, song quyền này phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không xâm phạm đến lợi ích của người khác và lợi ích quốc gia. Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.
Hành vi lợi dụng tự do dân chủ để tuyên truyền chống Nhà nước của Nguyễn Văn Hải và các đối tượng là biểu hiện của chủ nghĩa tự do cực đoan, gây ảnh hưởng đến lợi ích của quốc gia, dân tộc. Hậu quả của tình trạng tự do vô chính phủ ấy là sự mất an ninh trật tự, gây rối loạn xã hội... Cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt giữ, xét xử ba đối tượng trên về tội “tuyên truyền chống Nhà nước” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng luật pháp Việt Nam và phù hợp với công ước quốc tế.
KIM NGỌC

Một ngộ nhận về "diễn biến hòa bình"


QĐND - Gần đây, trên một số phương tiện truyền thông trong và ngoài nước đang truyền bá quan điểm coi "diễn biến hòa bình" như là “một sự vận động bình thường”, chứ “không có màu sắc gì cả”, đồng thời, kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam phải quan tâm thực hiện "diễn biến hòa bình" của chính mình trong Đảng.
Thực tế cho thấy, nhận thức đó là sự mơ hồ trong lý luận, sự ngụy biện giả khoa học, thậm chí ngộ nhận về chính trị, đặc biệt là có sự lẫn lộn, mập mờ, đánh lộn giữa khái niệm và nội dung thực tiễn công cuộc tự đổi mới của một Đảng, một nhà nước mang tính cách mạng cao ...
Những biến thể của cuộc chiến mang tên hòa bình
Từ hàng ngàn năm trước, nhiều nước và triều đại trên thế giới đã sử dụng các thủ đoạn đưa thông tin vu khống khiến người trung thực bị cô lập và bạc đãi, gian thần nịnh hót, ngu dốt được trọng dụng, khoét sâu mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ và gây hoang mang, nghi ngờ lý tưởng và sự chính danh của đối phương… để chinh phục thành công các nước và triều đại khác vốn bị coi là kẻ thù của mình. Nói cách khác, lịch sử nhân loại đã, đang và sẽ còn cho thấy, dù trước hay sau, thậm chí bên cạnh các cuộc chiến tranh nóng bỏng với khói lửa và tiếng gầm của đại bác, luôn tồn tại một cuộc chiến “diễn biến hòa bình” đa dạng và phức tạp, không kém phần quyết liệt, cam go, với cùng mục tiêu chung là làm suy yếu và giành chiến thắng cả về tư tưởng, quân sự, khuất phục toàn diện đối phương…
Cần khẳng định rằng, suốt thời gian qua, cuộc chiến “diễn biến hòa bình” dưới mọi hình thức và thủ đoạn chưa một phút giây nào ngưng nghỉ, thậm chí còn được nâng cấp và mở rộng về đối tượng và quy mô, còn nội dung, công cụ, thủ đoạn và hình thức thực hiện cũng ngày càng đa dạng và tinh vi hơn… Đặc biệt, thúc đẩy quá trình "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” trong nội bộ đối phương ngày càng trở thành là tâm điểm của “diễn biến hòa bình” do các đế quốc, thế lực thù địch, cũng như các nhóm lợi ích quốc tế và trong nước tiến hành, với mục tiêu không thay đổi là nhằm giành lấy sự chiến thắng tuyệt đối của các giá trị mà chúng muốn áp đặt cho các nước, các dân tộc; làm tan rã hoàn toàn, triệt để những nhận thức, tinh thần, niềm tin và các giá trị của lý tưởng cộng sản, cũng như nhằm làm sụp đổ các chế độ đi theo lý tưởng này trên toàn thế giới; đồng thời phục vụ tham vọng can thiệp thô bạo vào chủ quyền quốc gia, vẽ lại bản đồ, uốn nắn và áp đặt thế giới theo trật tự và mục đích vị kỷ.
Hơn nữa, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy, “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến hòa bình” đã, đang và sẽ còn tiếp tục được các thế lực đế quốc hoặc lợi ích nhóm quốc tế sử dụng đắc lực phối hợp với các thủ đoạn mới, như cáo buộc gian lận bầu cử, biểu tình đối lập và kích động bạo loạn đường phố trong “kịch bản mẫu”, nhằm tạo áp lực thúc đẩy thay đổi chính trị, và thậm chí thay đổi thủ lĩnh hay ekip lãnh đạo “khó bảo”, “không phù hợp” ở những nước, quốc gia “cựu thù” hoặc “không thân thiện”, có nguy cơ đe dọa “lợi ích chiến lược” hay “lợi ích cốt lõi” về kinh tế hoặc chính trị của mình,… dù đó là nơi mà lý tưởng XHCN không phải hoặc không còn là sự lựa chọn chính thức của chính đảng cầm quyền nước đó. Những sự kiện chính trị phức tạp xảy ra liên tiếp ở nhiều nước thuộc các chế độ chính trị-xã hội khác nhau trên thế giới, tiêu biểu là ở một số quốc gia châu Âu thuộc không gian “hậu Xô-viết” trong thời gian qua chứng tỏ điều đó.
Đặc biệt, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) vừa công bố sẽ đóng cửa các văn phòng của mình ở Nga sau hơn 20 năm hoạt động, với tổng chi gần 3 tỷ USD cho “các chương trình viện trợ và dân chủ” trên đất Nga... Trước đó, Chính phủ Nga đã yêu cầu USAID chấm dứt hoạt động ở Nga với hạn chót tới ngày 1-10-2012. Theo lời phóng viên BBC Steve Rosenberg tại Mát-xcơ-va, Nga ngày càng nghi ngờ các tổ chức phi chính phủ (NGOs) đang hoạt động trên đất Nga đã dùng tài trợ nước ngoài để kích động bất ổn chính trị, Đầu năm 2012, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã cáo buộc các cuộc biểu tình phản đối việc ông đắc cử được giật dây bởi các tổ chức phi chính phủ được Mỹ cấp tiền. BBC cũng cho biết, trong khi tuyên bố đóng cửa các văn phòng USAID, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Victoria Nuland nói: "Chúng tôi vẫn cam kết hỗ trợ dân chủ, nhân quyền, và sự phát triển của một xã hội dân sự mạnh mẽ hơn ở Nga và mong muốn được tiếp tục hợp tác với các tổ chức phi chính phủ của Nga"…
Sự khác biệt giữa "tự đấu tranh" và "tự chuyển hóa"
Đối với Việt Nam ngày nay, cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình” và phòng, chống "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” có mối quan hệ hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau. Các thế lực phản động và thù địch càng đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình” bao nhiêu, chúng ta càng cần phải chủ động, tích cực và quyết liệt phòng chống “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” hơn bấy nhiêu. Đặc biệt là phải cảnh giác đối phó hiệu quả với các thủ đoạn tuyên truyền, ép buộc, mua chuộc và khống chế, làm nhiễu hệ giá trị, tác động tư tưởng, khiến các lãnh đạo, cán bộ, đảng viên và người dân từng bước tự thay đổi nhận thức, suy thoái, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, tự “đổi màu”, phủ nhận và tách dần khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, tự phủ nhận những thành quả, giá trị và mục tiêu mà mình từng theo đuổi và phải trả giá bằng sinh mạng hàng triệu người, phá tan những thành quả mà nhiều thế hệ mới có được, làm rệu rã khối đoàn kết và suy yếu sức mạnh quốc gia.
Đồng thời, để “ngăn chặn từ xa” nguy cơ “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” và hỗ trợ trực tiếp cho thắng lợi của cuộc chiến chống “diễn biến hòa bình” đó, chúng ta cũng cần đẩy mạnh đấu tranh chống tiêu cực, chống tham nhũng, chống chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, các biểu hiện lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc, lối tư duy nhiệm kỳ và các lợi ích nhóm… Hơn nữa, phải coi đây là tâm điểm và việc làm có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh chủ động chống "diễn biến hòa bình”. Tinh thần này đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, tiêu biểu mới đây nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI), cũng như đã được quy định thành pháp luật như Pháp lệnh Chống tham nhũng (1998), Luật Phòng, chống tham nhũng (2005), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng chống tham nhũng (2007)…
Đề cao vai trò “chống tự diễn biến” trước các nguy cơ “diễn biến hòa bình”, "tấn công mềm" và thúc đẩy "tự diễn biến" của các thế lực thù địch, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã yêu cầu các cấp, ngành và lãnh đạo, cán bộ, đảng viên cần phải nắm được kịp thời và chính xác ý đồ của các thế lực thù địch về chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa tư tưởng, tăng cường công tác quản lý cán bộ chặt chẽ.
Cần nhấn mạnh rằng, quá trình “tự diễn biến” sẽ tăng tốc và không thể ngăn chặn nếu coi nhẹ việc xây dựng và thực thi hiệu quả cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia và trọng dụng nhân tài; buông lơi đấu tranh bảo vệ và phát triển các chuẩn giá trị chung tạo nền tảng tư tưởng khoa học và cách mạng của Đảng. Cần đề cao sự làm gương và trách nhiệm người đứng đầu cơ quan, của các cán bộ, đảng viên có chức, có quyền trên thực tế. Bên cạnh đó, cần tăng cường thông tin định hướng, chủ động phát hiện sớm và giải tỏa kịp thời tâm lý bất bình trong xã hội, cũng như các mâu thuẫn nội bộ trong Đảng, chính quyền và các tầng lớp nhân dân. Phải nghiên cứu, làm rõ bản chất và xu hướng các trào lưu, hiện tượng và sự kiện xã hội mới; chủ động phê phán, bác bỏ các quan điểm và ý đồ cơ hội, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng các quan hệ, các công cụ và thiết chế kinh tế, tài chính, tiền tệ, internet, lợi dụng mở cửa, giao lưu văn hóa, giáo dục - đào tạo để quảng bá, tuyên truyền, phổ biến hệ thống giá trị, những chuẩn mực đạo đức, lối sống không phù hợp nhằm thúc đẩy chuyển hóa tư tưởng, ý thức của giới trí thức, sinh viên, học sinh, thế hệ trẻ...
Đẩy mạnh phát triển bền vững, bảo đảm an sinh và công bằng xã hội; thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo; mở rộng dân chủ trong xã hội để tạo sự đồng thuận, đoàn kết dân tộc, tôn giáo; khuyến khích phản biện xã hội mang tính xây dựng; giảm thiểu và xử lý đúng đắn, kịp thời những "điểm nóng” xã hội vừa trên cơ sở pháp luật, vừa hài hòa với truyền thống, đạo lý dân tộc. Cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ đối ngoại và đối nội, giữ vững độc lập, tự chủ trong quan hệ đối ngoại; bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững, sự bất khả xâm phạm, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc…
Tiến sĩ MINH TRÍ