Phạm tội vì người bạn làm quen trên mạng



QĐND - Nghe Hội đồng xét xử tuyên mình phải lĩnh 3 năm 6 tháng tù giam và 2 năm quản chế tại địa phương khi mãn hạn tù vì tội "Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam", Lô Thanh Thảo không ngờ rằng chỉ bắt đầu từ một mối quen biết vu vơ trên internet mà ra nông nỗi này.
Tại phiên tòa công khai do Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh tiến hành ngày 8-1-2013, cáo trạng của VKSND đã nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của Lô Thanh Thảo.
Vào đầu năm 2010, Lô Thanh Thảo lên mạng và quen một người là Nguyễn Thị Nhi (Việt kiều tại Mỹ). Sau đó cả hai trao đổi nick chát và thường xuyên liên lạc với nhau. Sau một thời gian trò chuyện, hai người tỏ ra “tâm đầu ý hợp”... nhưng Lô Thanh Thảo đâu ngờ rằng, đó chính là chiêu trò móc nối của Nhi. Cuối năm 2010, Nguyễn Thị Nhi về Việt Nam tìm gặp và tặng cho Thảo 1 điện thoại di động, 1 máy tính xách tay và 3 lần gửi cho 490USD. Những tưởng đó là một món quà tặng vô tư, xuất phát từ tình cảm thật, nhưng không ngờ sau đó Nhi lôi kéo Thảo vào hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam…
Sau khi trở lại Mỹ, ngày 19-3-2012, Nguyễn Thị Nhi gửi email cho Thảo với nội dung chống phá Nhà nước và yêu cầu Thảo in ra từ 1000 đến 2000 tờ để phát tán. Nhận được email, Thảo đã tiến hành điều chỉnh kích cỡ, in nội dung Nhi gửi thành 62 tờ khổ A4, mỗi tờ có 8 mẫu nhỏ rồi cắt ra thành 496 tờ. Theo sự chỉ dẫn của Nhi, Thảo mang những tài liệu trên đến cầu Thủ Thiêm, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, vứt toàn bộ xuống mặt cầu rồi về nhà.
Chưa dừng ở đó, Nhi tiếp tục lôi kéo Thảo vào sâu các chiêu trò chống phá như: In truyền đơn đem dán ở trung tâm và một số nơi trên địa bàn quận 1, TP Hồ Chí Minh rồi quay phim, chụp ảnh gửi qua email cho Nhi… Theo sự chỉ đạo của Nhi, ngày 26-3-2012, Thảo đã đến đường Lê Duẩn, quận 1, TP Hồ Chí Minh để tìm cách quay cảnh người khiếu kiện nhưng bất thành. Ngày hôm sau, Thảo đến Văn phòng tiếp dân của Trung ương Đảng đóng tại quận Bình Tân để chụp ảnh người khiếu kiện tập trung trong khu vực cấm thì bị Công an quận Bình Tân bắt giữ…
Tại phiên tòa xét xử, Thảo thành khẩn nhận tội và khai động cơ phạm tội chỉ vì tình cảm riêng tư với Nhi. Mặc dù ăn năn hối hận và đã được hưởng sự khoan hồng của luật pháp, nhưng Lô Thanh Thảo vẫn phải nhận 3 năm 6 tháng tù giam. Không chỉ là bản án xứng đáng cho cá nhân Thảo, đây còn là bài học cảnh tỉnh cho những kẻ đang mơ hồ, ảo tưởng trước những âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch, phản động.
KIM NGỌC

Một cách nhìn chủ quan, phiến diện



QĐND - Gần đây, trên một số trang mạng và cơ quan truyền thông ở nước ngoài, trong đó có hãng BBC xuất hiện bài viết dưới nhan đề “So sánh hai biến cố tháng Tám”- so sánh Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và cuộc chính biến tháng 8-1991 ở Liên Xô dựa vào những cảm nhận của ông Nguyễn Minh Cần - theo bài viết là người đã chứng kiến cả hai sự kiện đó. Đọc bài viết nói trên, những người Việt Nam yêu nước và có lòng tự trọng không khỏi bức xúc, bất bình trước sự so sánh khập khiễng với dụng ý xuyên tạc sự thật và những ý kiến cá nhân mang tính tư biện, suy diễn một cách chủ quan, phiến diện của ông Cần.
Khi được hỏi cảm nhận về Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, ông Nguyễn Minh Cần nói rằng: “Chúng tôi tham gia Cách mạng tháng Tám với ý nghĩ chân thành, đất nước được tự do, độc lập với những lời hứa hẹn của Việt Minh lúc bấy giờ là mở rộng dân chủ, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, hội họp, ngôn luận… Đáng tiếc là khi Đảng Cộng sản lên cầm quyền những điều đó đã không được thực hiện”. Ông Cần càng tỏ rõ sự hồ đồ khi cho rằng: Cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam và "cách mạng Dân chủ" (theo cách nghĩ của ông Cần) ở Nga năm 1991, đều thất bại (!), vì đã "không đem lại dân chủ, tự do thực sự cho người dân...". Không hiểu ông Cần lấy tư cách gì mà phán như vậy?      
Nhiều người đặt câu hỏi: Ông Nguyễn Minh Cần là người như thế nào mà cố tình bóp méo lịch sử, ngoảnh mặt, quay lưng lại với đất nước, xúc phạm lòng tự tôn dân tộc như vậy? Được biết, ông Nguyễn Minh Cần sinh ra ở Huế, năm nay 85 tuổi, từng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và là Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội... Đầu những năm 60 của thế kỷ trước, trong khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dốc lòng, dốc sức xây dựng và bảo vệ miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam và thống nhất Tổ quốc, Nguyễn Minh Cần được Nhà nước ta cử ra nước ngoài học tập để trở về phục vụ đất nước, nhưng với những toan tính cá nhân cơ hội, thực dụng, ông ta đã xin cư trú tại nước ngoài từ đó đến nay. Những tưởng ở tuổi xế chiều, Nguyễn Minh Cần sẽ sống yên phận và nuôi hy vọng có cơ hội trở về quê hương - nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng ông ta đã đăng đàn trên một số trang mạng với giọng điệu hằn học, cay độc, cố tình bôi đen lịch sử và xuyên tạc tình hình ở Việt Nam, phủ nhận những thành quả của cách mạng, bài xích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Cách mạng tháng Tám năm 1945 là bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đập tan ách thống trị của thực dân và phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa XHCN Việt Nam), một nhà nước với thể chế chính trị dân chủ đầu tiên ở Đông Nam Á, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng vượt qua những chặng đường đầy gian khổ, hy sinh, đánh thắng những kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình gấp nhiều lần về tiềm lực kinh tế và tiềm lực quân sự, khẳng định bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên CNXH.
Vào giữa thập kỷ 80 của thế kỷ XX, dân tộc ta tiếp tục vượt qua “cơn lốc lớn” làm sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu, giữ vững chế độ XHCN ở Việt Nam, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy dân chủ XHCN, xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Hơn 25 năm qua, công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng, đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo được thế và lực mới để xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Những thắng lợi đó đã tạo nên sự tiến bộ rõ nét của con người và xã hội Việt Nam, đưa nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến trở thành một quốc gia độc lập, tự do, ổn định và phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân, chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện…” và nhấn mạnh: “Con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể của phát triển”, "Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước". Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có những cố gắng rất lớn trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam đã hoàn thành sớm một số mục tiêu như: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực; phổ cập giáo dục tiểu học; cơ bản hoàn thành mục tiêu về bình đẳng giới và nâng cao vị thế của phụ nữ; bước đầu ngăn chặn được sự lây lan HIV và đang ở “ngưỡng cửa” hoàn thành mục tiêu giảm tử vong ở trẻ em v.v... Mặc dù phải đương đầu với nhiều khó khăn, thách thức nhưng với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, năm 2012, nước ta đã đạt được những chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Chúng ta đã cơ bản thực hiện được mục tiêu tổng quát đề ra, đặc biệt đã thực hiện được mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý (tăng trưởng hơn 5%); các chính sách an sinh xã hội được quan tâm, bảo đảm (tỷ lệ hộ nghèo giảm được 1,76%); chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh được giữ vững; vai trò và vị thế của đất nước tiếp tục được nâng cao.     
Dù còn không ít khó khăn và hạn chế, song những thành tựu của Việt Nam về phát triển con người, thực thi dân chủ đã và đang được thực tiễn chứng minh và khẳng định, không thể phủ nhận. Không phải ngẫu nhiên, ngày 28-5-2012, khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam thường trú tại Mỹ, Thượng nghị sĩ John McCain - người từng là ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hòa - đã đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, nhất là những tiến bộ đáng kể trong đời sống của nhân dân. Thượng nghị sĩ John McCain nhấn mạnh: “Với những bước tiến đó đã tạo nên hình ảnh và tầm ảnh hưởng của Việt Nam không chỉ trong khu vực ASEAN, mà còn ở các tổ chức quốc tế khác”. Rồi nữa, ngay tướng Nguyễn Cao Kỳ - người từng được coi là có tư tưởng chống Cộng cực đoan - đã xúc động không cầm nổi nước mắt khi lần đầu tiên được trở về cội nguồn (tháng 1-2004), sau 30 năm ở nơi đất khách quê người. Từ đó, sau nhiều lần về thăm quê hương, cảm nhận trực tiếp những phát triển của đất nước và đời sống của nhân dân, Nguyễn Cao Kỳ bày tỏ niềm tin tưởng: “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đủ trí tuệ để chèo chống và đưa đất nước tiến lên” và nguyện vọng của ông ta là sau khi nhắm mắt, xuôi tay được yên nghỉ nơi quê cha đất tổ.
Nếu thực sự còn tỉnh táo thì tại sao ông Nguyễn Minh Cần,  “người được chứng kiến cả hai sự kiện lịch sử” nói trên, lại có thể đánh đồng Cách mạng tháng Tám 1945 - một sự kiện lịch sử hào hùng, thiêng liêng của dân tộc và có ý nghĩa thời đại sâu sắc với cuộc chính biến tháng 8 -1991 ở Liên Xô - một trang sử đau buồn của nhân dân Xô-viết và của nhân loại tiến bộ? Chính những nhận định hồ đồ này cho thấy ông chỉ là người “cưỡi ngựa xem hoa”, đứng ngoài những sự kiện lịch sử trọng đại, thờ ơ, vô cảm với vận mệnh của dân tộc và sự thịnh suy của đất nước. Tuy vậy, ông đã ngộ nhận, lầm tưởng mình là một “vĩ nhân am hiểu thời thế”, lại thêm những bức xúc cá nhân do quá đề cao “cái tôi” mà cố tình tráo trở phương pháp, rắp tâm lợi dụng những khó khăn, hạn chế trong quá trình đi lên của đất nước để phủ nhận sạch trơn những thành tựu mà cách mạng đã mang lại cho đất nước và dân tộc.
Những tiếng nói lạc điệu của ông Nguyễn Minh Cần có thể ít nhiều tác động đến một số người nhẹ dạ, cả tin và sự “trở cờ” của ông càng làm cho chúng ta cảm nhận sâu sắc thêm về cuộc đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ không chỉ mang tính cấp thiết, mà còn rất gay go, quyết liệt, lâu dài, liên quan trực tiếp đến sự sống còn của chế độ và sự an nguy của đất nước.
PHÙNG KIM LÂN

Suy diễn vô căn cứ



QĐND - Ngay sau vụ xét xử 14 bị cáo ở Nghệ An về tội “Hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân”, theo Điều 79, Bộ luật Hình sự, năm 1999, trên một số trang mạng và báo chí nước ngoài, một số người đã có những bình luận và phản ứng khác nhau. Họ biện minh rằng, những bị cáo “chẳng làm gì hơn là sử dụng các quyền tự do ngôn luận, báo chí đã được luật quốc tế về quyền con người và Hiến pháp quốc gia ghi nhận” và lớn tiếng cho rằng, Nhà nước ta là độc tài(!). Đáng chú ý là một số bài viết còn suy diễn thiếu căn cứ, móc nối vụ việc trên với những vấn đề trong quan hệ quốc tế giữa nước ta và các nước khác. Họ cho rằng, việc gần đây Việt Nam “liên tiếp trấn áp giới bất đồng chính kiến” có liên hệ đến quan hệ với Hoa Kỳ, đặt vấn đề “phải chăng đây là dấu hiệu chuyển hướng ngoại giao của Việt Nam?”; “đây là cuộc đấu tranh giữa hai phái bảo thủ và cấp tiến trong đảng, liên quan đến quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với một số nước lớn”… (!)
Theo suy luận của họ, việc Nhà nước ta đưa ra xét xử các vụ án về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” là vì “Hoa Kỳ đứng đằng sau”; “Hoa Kỳ là “điểm hội tụ” của các thế lực thù địch bên ngoài… nhằm lật đổ thể chế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”… Rồi suy diễn: “Phe bảo thủ trong Đảng đang dùng các vụ xử nhà báo và blogger này để phá hoại mọi nỗ lực nhượng bộ với Hoa Kỳ của phe cấp tiến”…(!)
Vậy thực chất của vụ án xét xử 14 bị cáo ở Nghệ An về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, theo khoản 1 và khoản 2 - Điều 79 - Bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam như thế nào? Đây là vụ án đặc biệt nghiêm trọng cả về quy mô và tính chất hoạt động của các bị cáo. Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ đầu năm 2009 đến cuối năm 2011, các bị cáo đã được tổ chức “Việt Nam canh tân cách mạng đảng” (gọi tắt là Việt Tân) - một tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài kết nạp, đưa sang Thái Lan, Mỹ, Phi-líp-pin, Cam-pu-chia... để huấn luyện. Họ đã nhận tiền, phương tiện của Việt Tân và được tổ chức phản động này giao nhiệm vụ về nước, lên kế hoạch hành động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân . Về nước họ đã phát triển lực lượng trên nhiều địa bàn; lợi dụng chiêu bài đấu tranh chống tham nhũng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, họ đã viết bài đưa lên mạng xã hội xuyên tạc quan điểm, đường lối chính sách của Ðảng, Nhà nước…
Trước tòa với những chứng cứ “hai năm rõ mười” các đối tượng đều đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, hứa sẽ cải tạo, sửa đổi để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, không bao giờ tái phạm. Như vậy là tội trạng của các bị cáo đã rõ. Và việc đưa ra xét sử vụ án là đúng người, đúng tội nhằm bảo đảm an ninh quốc gia của đất nước, tuyệt nhiên không có liên quan đến chính sách đối ngoại của Đảng ta và càng không phải của “phe, nhóm” nào.
Đây không phải là cá biệt, mà đã thành tiền lệ, hầu hết các vụ án liên quan đến tội xâm phạm an ninh quốc gia đều được các thế lực chống phá cách mạng nước ta cả trong và ngoài nước lợi dụng để tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh; phá hoại quan hệ quốc tế, tiến tới tập hợp lực lượng, xây dựng căn cứ, trang bị vũ khí cho lực lượng chống đối trong nước nhằm từng bước đi đến lật đổ Nhà nước CHXHCN Việt Nam.
Việc người ta tung lên mạng những điều suy đoán, bình luận hỏa mù nói trên không nằm ngoài ý đồ chính trị thâm độc đó.
Trước hết, người ta xuyên tạc đường lối đối ngoại độc lập tự chủ của Đảng ta, phá hoại quan hệ quốc tế của Nhà nước ta, cho rằng những nỗ lực của Việt Nam trong thời gian qua chỉ là những thủ đoạn chính trị nhất thời, lúc thì ngả theo nước này, lúc thì theo nước khác...
Thứ hai, người ta gây ảo tưởng trong nhân dân rằng có thể dựa vào nước lớn này hoặc nước khác để bảo vệ Tổ quốc mà xao nhãng tinh thần độc lập dân tộc, ý chí tự lực tự cường và tinh thần sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc, của quân và dân ta.
Ba là, nhân sự kiện xét xử các bị cáo tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, họ bịa đặt, dựng chuyện để bôi nhọ hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế, rằng sở dĩ các bị cáo bị đưa ra xét xử chẳng qua chỉ là để “điều chỉnh quan hệ quốc tế giữa các phe phái trong Đảng mà thôi”(!)
Thiết nghĩ vẫn cần phải nhắc lại đường lối đối ngoại trước sau như một của Đảng ta đã được ghi trong Văn kiện Đại hội lần thứ XI: Việt Nam “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ hòa bình, hợp tác và phát triển… vì lợi ích quốc gia, dân tộc… là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”(1).
Việt Nam ngày nay tuy không quên quá khứ nhưng luôn luôn hướng tới tương lai, xây dựng và phát triển các quan hệ quốc tế với tất cả các nước, theo nguyên tắc “bình đẳng, cùng có lợi", trước hết vì lợi ích của dân tộc.
NGỌC THƯ
 (1)  - Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội XI, NXBCTQG, HN, Tr 83, 84

Điều 88 Bộ luật Hình sự với quyền con người và quyền công dân



QĐND - Trong những ngày gần đây, nhiều trang mạng trong và ngoài nước dấy lên đòi hỏi Nhà nước ta thực hiện quyền con người (QCN). Người ta kêu gọi: “Chính quyền… thực thi những QCN đã được Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam và những Công ước quốc tế nhân quyền mà Việt Nam tham gia”. Trong những quyền đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin, quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo Điều 69, Hiến pháp năm 1992  và “Điều 19, Điều 21, Điều 22 Công ước quốc tế nhân quyền, năm 1966, mà Việt Nam gia nhập năm 1982”.
Có người còn đưa ra “sáng kiến” k?ý tên vào “Lời kêu gọi Quốc hội Việt Nam” đòi hủy bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự về “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” và Nghị định 38/2005/NĐ-CP của Chính phủ “Quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng”. Những hoạt động trên mạng này đã được nhiều phương tiện truyền thông phương Tây đăng tải và “tăng âm”, khiến một số người nghi ngờ về hệ thống pháp luật và bản chất của chế độ ta.
Theo họ, Điều 88 Bộ luật Hình sự “Quy định một cách mù mờ về tội danh tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam, thực chất là bóp nghẹt quyền tự do ngôn luận”, là “gây nguy hiểm cho trí thức”…
Vậy nội dung và thực chất Điều 88, Bộ luật Hình sự như thế nào?
Điều 88 quy định như sau: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam… bao gồm:
a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Tuyên truyền những luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân; c) Làm ra, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, văn hóa phẩm có nội dung chống Nhà nước CHNXHCN Việt Nam.
Cũng trên những trang mạng đã đưa tin này, người ta nhắc lại nhiều bản án đã tuyên như vụ án Cù Huy Hà Vũ, vụ án “Câu lạc bộ nhà báo tự do” để làm bằng chứng.
Để làm rõ vấn đề này, trước hết cần nhận rõ sự thống nhất và khác biệt giữa quyền công dân (QCD) và QCN.
Dựa trên Bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”, 1948 và “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966"; “Công ước quốc tế về các quyền Kinh tế, xã hội và văn hóa, 1966”[1] có thể hiểu QCN như sau: Với tư cách là một giá trị đạo đức, QCN là một giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người. Những giá trị này bao gồm: Nhân phẩm, tự do, bình đẳng, tinh thần nhân đạo, khoan dung và trách nhiệm của mỗi người với cộng đồng. Với tư cách là một giá trị pháp lý, QCN là các quy định pháp luật (trong luật quốc tế và còn được nội luật hóa trong luật quốc gia) nhằm bảo vệ nhu cầu về các mặt: Dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của mọi người và nghĩa vụ của mỗi người đối với cộng đồng.
So với khái niệm QCN, khái niệm QCD mang tính xác định hơn. Khái niệm này gắn liền với chế độ xã hội, những đặc thù về lịch sử, văn hóa của mỗi dân tộc. Trong Hiến pháp Việt Nam cũng như Hiến pháp của nhiều quốc gia khác, QCD thường được gắn liền với nghĩa vụ công dân, hình thành khái niệm Quyền và nghĩa vụ công dân (Q&NVCD) được quy định trong pháp luật quốc gia.
Vấn đề bảo vệ chế độ chính trị, giữ ổn định xã hội đã được các quốc gia trong cộng đồng quốc tế quan tâm từ lâu. Tại “Hội nghị quốc tế về quyền con người” ở Viên (Áo), năm 1993, đại diện các quốc gia đã ra Tuyên bố khẳng định: "Tất cả các QCN đều mang tính phổ cập…Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo;…”[2].
Trong “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, năm 1966" nhiều quyền và tự do của con người cũng bị hạn chế, trong đó có Điều 19. Điều này quy định: …“2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận… Việc thực hiện những quyền quy định ở mục 2 của điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, để: a) Tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”[3].
Không phủ nhận rằng Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước này từ năm 1992, song điều đó không có nghĩa Việt Nam không có quyền đưa ra những hạn chế luật định về quyền tự do ngôn luận. Do đó Điều 88, Bộ luật Hình sự, 1999 là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với “Tuyên bố Viên và chương trình hành động; phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”.
Không chỉ trong pháp luật Việt Nam mà trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có cả những quốc gia phương Tây đã đưa ra những quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí và tự do internet. Những quy định này tùy thuộc vào tình hình chính trị xã hội và quan điểm của những quốc gia đó.
Ngày nay, trong khi đánh giá cao vai trò của internet, người ta cũng thấy rõ những mặt trái của nó. Quan điểm cực đoan về tự do ngôn luận, báo chí của phương Tây đã phải trả giá đắt. Chẳng hạn những vụ việc được các phương tiện truyền thông đưa tin như vụ một mục sư đạo Tin lành Mỹ đòi đốt kinh Cô-ran, vụ việc lính Mỹ đốt kinh Cô-ran ở Áp-ga-ni-xtan, vụ họa sĩ Đan Mạch vẽ tranh biếm họa và bộ phim được cho là báng bổ nhà tiên tri Mô-ha-mét được sản xuất ở Mỹ năm ngoái…, về khách quan đã “kích hoạt” những mâu thuẫn xã hội, làm cho sự bất bình của một bộ phận nhỏ dân cư bùng lên trở thành bạo loạn xã hội.
Ở Việt Nam, trên một số trang mạng, với những lý do khác nhau, người ta  không chỉ tuyên truyền, áp đặt các quan điểm dân chủ, nhân quyền ngoại nhập, mà còn xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ, vu cáo trắng trợn Đảng và Nhà nước, thậm chí xuyên tạc lịch sử  Cách mạng Việt Nam, xúc phạm lãnh tụ. Đó là chưa kể người ta còn khuyến khích những phần tử cực đoan trong tôn giáo, dân tộc thiểu số gây rối, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đòi thành lập nhà nước riêng (nhà nước Đề-ga, nhà nước H‘Mông) trong lòng nước CHXHCN Việt Nam.
Kêu gọi xóa bỏ Điều 88 Bộ luật Hình sự, 1999 chính là một bước đi quan trọng trong âm mưu, thủ đoạn nguy hiểm của các thế lực thù địch nhằm tước bỏ công cụ pháp lý cơ bản bảo vệ chế độ xã hội và Nhà nước của nhân dân ta.
Không phủ nhận rằng ở Việt Nam còn nhiều vấn đề xã hội phải giải quyết, thậm chí có những bức xúc xã hội, nhất là tình trạng phân hóa giàu nghèo, “lợi ích nhóm”, tình trạng có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư  tưởng chính trị, đạo đức lối sống như Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra.
Hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, tăng cường quyền được thông tin, quyền giám sát, quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội của người dân là một yêu cầu tất yếu, để phát triển mọi mặt xã hội ta. Đồng thời đó cũng là biện pháp cơ bản để chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, công chức trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.
Khắc phục những mặt tiêu cực này là một công việc lớn lao, phức tạp, lâu dài, không thể làm trong một sớm, một chiều. Việc Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm, như tiếp tục triển khai Nghị quyết Trung ương 4, lấy ý kiến nhân dân để sửa đổi Hiến pháp 1992 đều hướng tới mục tiêu nói trên.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị hiện nay, chúng ta không thể xem nhẹ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những quyền tự do ngôn luận, báo chí nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ, gây mất ổn định chính trị, từng bước đi đến xóa bỏ chế độ ta xã hội XHCN và Nhà nước của nhân dân ta.
[1] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “ Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002, Tr 28, 249, 284
[2] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002. Tr 44
[3] - Trung tâm nghiên cứu quyền con người, “Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người”. HN, 2002. Tr 259
ĐỨC GIANG