Phòng ngừa, đẩy lùi nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

QĐND - Trong Chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, một trong những thủ đoạn hết sức thâm hiểm của chúng là thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta, nhằm tha hóa nhận thức của cán bộ, từ đó dẫn đến những thay đổi về đường lối, chính sách-những biểu hiện của chuyển hóa chế độ XHCN ở nước ta sang một quỹ đạo khác. Đặc biệt là trong thời điểm hiện nay, khi tổ chức đảng các cấp đang tiến hành đại hội để tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII thì việc chống phá càng ráo riết. Các thế lực thù địch, cơ hội, bất mãn sử dụng đủ mọi chiêu trò, kể cả những việc có tính xảo trá như: Dựng chuyện, làm giả công văn giấy tờ, gửi đơn nặc danh tới các cơ quan công quyền để khiếu nại, tố cáo... Tất cả những hành động ấy là nhằm mục đích gây chia rẽ nội bộ, làm cho cán bộ, đảng viên nghi kỵ lẫn nhau, đảng viên phai nhạt niềm tin, quần chúng thiếu tin tưởng vào cấp ủy, chính quyền.
Nhìn nhận một cách xác đáng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có cả nguyên nhân bên trong và nguyên nhân bên ngoài, nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, song quá trình và mức độ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chủ yếu do nguyên nhân bên trong, nguyên nhân chủ quan, tức là do chính chúng ta quyết định. Điều này đã được V.I.Lê-nin cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta… Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ”(1). Vì vậy, để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, đòi hỏi chúng ta phải kịp thời phát hiện và triệt tiêu các mầm mống, khả năng gây ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị. Thực tế cho thấy, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở mỗi con người, mỗi tổ chức trước hết và chủ yếu là về tư tưởng chính trị. Lĩnh vực này diễn ra hết sức phức tạp, đa dạng, với nhiều cấp độ, dần dần, nhỏ nhặt, mà biểu hiện cao nhất đó là sự suy thoái về tư tưởng chính trị trên các khía cạnh như: Phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng ta là Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đòi Đảng phải từ bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; phê phán lịch sử cách mạng Việt Nam một cách thiếu khách quan; đòi xét lại con đường đi lên CNXH ở nước ta, kêu gọi thay bằng chế độ TBCN; xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh lãnh tụ Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.
Thực tiễn cách mạng thế giới đã cho thấy, nếu tư tưởng chính trị chệch hướng sẽ làm cho bộ máy Đảng và Nhà nước bị chia rẽ, dẫn đến hệ lụy là nguy cơ “tự sụp đổ” chế độ chính trị khó tránh khỏi. Vì vậy, các thế lực thù địch luôn đặt trọng tâm thúc đẩy "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” nhằm vào các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, là nơi hoạch định ra đường lối, chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển đất nước. Tùy theo từng đối tượng và phạm vi tác động mà các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn, nội dung, hình thức, biện pháp để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị khác nhau.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế. Biểu hiện đó là sự phủ nhận đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước XHCN; đòi tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN... Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế càng trở nên nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế rất mạnh. Chúng tìm mọi cách lợi dụng những kẽ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, khoét sâu vào hạn chế, khuyết điểm của ta để cổ súy, thúc đẩy tư nhân hóa nền kinh tế, nhằm đến một lúc nhất định, khi sở hữu tư nhân TBCN đã giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, thực chất là chuyển hóa thành kinh tế TBCN, thì kiến trúc thượng tầng XHCN chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và “đổi màu”. Khi đó, chế độ kinh tế XHCN được thay thế bằng chế độ kinh tế TBCN.
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, đạo đức, lối sống. Biểu hiện của quá trình này ở việc sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản; từ bỏ các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc; thương mại hóa các hoạt động văn hóa một cách thái quá, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc; đề cao chủ nghĩa cá nhân, sống xa hoa, xa rời quần chúng...
Tổng cục Chính trị Công an nhân dân phối hợp với Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân tổ chức tọa đàm khoa học "Kinh nghiệm về đấu tranh chống diễn biến hoà bình và phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hoá trên lĩnh vực tư tưởng- văn hoá ở Việt Nam hiện nay". Ảnh minh họa/ Nguồn: QĐND
Nhận rõ tính chất nguy hại của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Nghị quyết Đại hội XI của Đảng nêu rõ: “Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta; khắc phục sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên”(2). Vì vậy, chúng ta cần làm tốt việc phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trước hết chú trọng vào một số biện pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, phải luôn giữ vững bên trong đi đôi với chủ động phòng ngừa, đấu tranh, phê phán những biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”. Giữ vững bên trong là giữ vững ổn định chính trị, xã hội; kiên định mục tiêu, lý tưởng XHCN; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; giữ vững truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc... Đồng thời, chủ động đấu tranh vạch rõ âm mưu, thủ đoạn hiểm độc của các thế lực thù địch tìm cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta ở mọi nơi, mọi lúc.
Thứ hai, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy "xây" làm cơ sở quyết định để “chống”. Trước hết, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải tập trung xây dựng, củng cố hệ thống chính trị luôn trong sạch, vững mạnh để  bảo đảm sự “miễn dịch” trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Phát hiện kịp thời các nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ khi còn ở dạng mầm mống, khả năng để làm cơ sở đấu tranh, phê phán, ngăn chặn hữu hiệu. Đồng thời, đấu tranh kiên quyết và triệt để với tệ nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu, coi đó như một thứ “giặc nội xâm”, không khác gì cuộc đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Thứ ba, phải coi trọng công tác tổ chức, cán bộ kết hợp với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên vừa “hồng” vừa “chuyên”. Cần làm tốt công tác tuyển chọn, bồi dưỡng, sắp xếp cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, chủ trì các cấp trong hệ thống chính trị, không để các thế lực thù địch lợi dụng để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Vì thế, phải coi trọng gắn kết chặt chẽ công tác tổ chức, cán bộ với tăng cường giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên về bản lĩnh chính trị, nâng cao trình độ lý luận cách mạng, năng lực công tác, trau dồi phẩm chất đạo đức, lối sống, để mỗi người không dao động tư tưởng trước những tình huống khó khăn, phức tạp.
Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch vẫn ráo riết thực hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn nham hiểm để hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta. Song, mọi mưu đồ của chúng có thực hiện được hay không, hoàn toàn phụ thuộc vào chính chúng ta. Vì vậy, cần khẳng định, khi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam luôn nhận rõ mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay; đồng thời, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng luôn vững niềm tin sắt son vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước, thì sẽ góp phần phòng ngừa, đẩy lùi được nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Th.S NGUYỄN ĐỨC THẮNG..................
(1) V.I.Lê-nin toàn tập, NXB Tiến Bộ, Mát-xcơ-va, 1977, tập 42, tr.311.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.257. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI.

Cảnh giác với những âm mưu phá hoại trước thềm đại hội Đảng các cấp

QĐND - Mỗi khi đất nước ta chuẩn bị tổ chức các sự kiện lớn, các thế lực thù địch, phản động ở ngoài nước lại tăng cường câu kết với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước ra sức chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta với nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đặc biệt là trước mỗi dịp đại hội Đảng các cấp, sự chống phá này ngày càng gia tăng, quyết liệt.
Thủ đoạn cũ, chiêu trò mới
Trong khi cả nước ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội chào mừng đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội lần thứ XII của Đảng, thì thời gian gần đây, trên nhiều trang mạng xã hội, blog ở hải ngoại và trong nước đã đăng tải những thông tin sai trái, độc hại, gây bất lợi cho sự ổn định an ninh chính trị và làm “ô nhiễm” môi trường thông tin xã hội. Một trong những thủ đoạn được chúng sử dụng ráo riết trong thời gian này là tận dụng triệt để internet để tung ra những “thông tin giả dối” nhưng lại được khoác dưới vỏ bọc “đóng góp trung thực, thẳng thắn vì nhân dân, vì đất nước”(!). Chẳng hạn như, chúng tung tin ông cán bộ cao cấp này sở hữu “hàng loạt ngôi biệt thự khủng”; vị lãnh đạo ngành kia cho con cháu “đứng tên” hàng chục “lô đất vàng” ở các thành phố lớn; ông quan đầu tỉnh nọ “chống lưng” cho nhiều doanh nghiệp giàu “khét tiếng” ở địa phương… Để cố tình tạo dựng lòng tin cho người xem, những thông tin này được “cắt, dán” thêm một số hình ảnh minh họa như biệt thự nguy nga tráng lệ, mảnh đất ở vị trí đắc địa, xe ô tô ngoại nhập hạng sang… Nhưng thực chất, đó chỉ là những hình ảnh “cắt, dán” thông qua công nghệ photoshop y như thật. Cùng với đó, chúng còn liều lĩnh tung tin rằng, trong Đảng đã có sự phân chia sâu sắc về “phe cánh”, có “phe cánh” nghiêng về quan hệ mật thiết với cường quốc này, có “phe cánh” ngả về thân thiết quan hệ với cường quốc kia(!); việc bầu bán nhân sự mới của Đảng diễn ra trong tình thế “giằng co quyết liệt” giữa các “nhóm lợi ích”(!)…
Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX. Ảnh: Qdnd.vn

Theo PGS, TS Nguyễn Hồng Vinh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học nghệ thuật Trung ương, thực ra những thủ đoạn các thế lực thù địch, phản động đưa ra rất cũ, nhưng tác hại, hậu quả lại hết sức khôn lường. Việc chúng cố tình rỉ tai nhau để “nói dối việc lớn”, ra sức nhào nặn, thêm thắt thông tin, lan truyền những tin đồn thất thiệt, bôi nhọ hình ảnh lãnh đạo cao cấp ở Trung ương và địa phương, thậm chí ngụy tạo băng ghi âm để xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng…đã gây nhiễu thông tin, tạo sự hoài nghi, phân tâm trong xã hội, khiến một bộ phận người dân mất phương hướng.
Trong khi đó, một số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị ở trong nước lại ngấm ngầm câu kết với những phần tử phản động ở nước ngoài để tung tin, viết bài, tán phát tài liệu chống phá chế độ, “khoét sâu, tô đậm” những hiện tượng tiêu cực mà thực chất là “bôi đen" xã hội ta, làm cho người nước ngoài có cái nhìn thiên lệch về Việt Nam. Số đối tượng này cũng thường xuyên xuất hiện trên một số trang mạng nước ngoài để đăng đàn, trả lời phỏng vấn với những thông tin, nội dung gây bất lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  
Tại sao những thông tin sai trái, phản động lại xuất hiện trong dịp này với mật độ dày, tần suất lớn? Lý do cho việc chúng cố tình “tăng tốc” chiến dịch chống phá ta trước các kỳ đại hội Đảng hòng làm mất ổn định nội bộ trong hàng ngũ lãnh đạo, gieo giắc hoài nghi, ngờ vực lẫn nhau, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng và chế độ. Việc “nhai đi nhai lại, nói tái nói hồi” những vấn đề chống phá đã cũ, cộng thêm những hình thức biểu đạt thông tin nham hiểm mới của chúng cũng chỉ nhằm mưu đồ cuối cùng là làm “mục ruỗng” chế độ, rồi tiến tới “sụp đổ từ bên trong"!
Quân đội ta đề cao cảnh giác trước những thông tin độc hại
Trước những “ma trận thông tin” sai trái, độc hại xuất hiện ngày càng nhiều trên internet, các đơn vị quân đội cần phải làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về những tác hại, nguy cơ của những thông tin bất lợi đó. Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường công tác quản lý chính trị nội bộ, xây dựng môi trường văn hóa, môi trường thông tin lành mạnh, tạo điều kiện cho bộ đội được tiếp cận, hưởng thụ những thông tin tin cậy, tích cực, nhân văn.
Một trong những vấn đề mà các đơn vị cần làm tốt hiện nay là tiếp tục sử dụng, phát huy sức mạnh tổng hợp, đồng bộ của các hình thức, nội dung, phương pháp giáo dục chính trị cho bộ đội; kịp thời cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng, tạo sự thống nhất, đồng thuận trong đơn vị. Cùng với đó, cần tích cực đổi mới công tác tuyên truyền miệng, nói chuyện thời sự, thông tin chuyên đề; duy trì nghiêm túc và hiệu quả chế độ đọc báo, xem thông tin thời sự hằng ngày… Mọi hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục phải hướng đến mục tiêu không ngừng bồi đắp, nâng cao bản lĩnh chính trị, lập trường cách mạng, tinh thần cảnh giác để cán bộ, chiến sĩ quân đội luôn trung thành tuyệt đối với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, không dao động, phân tâm tư tưởng trong mọi tình huống.
Muốn quản lý và định hướng tốt các nội dung thông tin hiện nay, cần đề cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy các cấp, nhất là ở đơn vị cơ sở. Ngoài những hiểu biết cơ bản về vai trò của công nghệ thông tin trong xã hội hiện đại, cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị cần có trình độ, khả năng xem xét, đánh giá các luồng thông tin sai trái, độc hại để không bao giờ bị “sập bẫy” trước những thông tin phản động của các thế lực thù địch; đồng thời biết định hướng, hướng dẫn bộ đội tìm đến những luồng thông tin chính thống, lành mạnh, bổ ích. Trong công tác giáo dục tư tưởng, cần chú trọng cung cấp đầy đủ, kịp thời những thông tin chính thống, chủ động làm rõ những thông tin "nóng" mà dư luận xã hội quan tâm; đồng thời phải biết phân tích, định hướng trước những thông tin phức tạp, nhạy cảm, tránh để những thông tin trái chiều xuất hiện trong đơn vị. Đặc biệt, cán bộ các cấp trong quân đội cần quán triệt và thực hiện nghiêm túc nội dung trong Quy định 47-QĐ/TW của Đảng, đó là: “Không cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước hoặc những việc chưa được phép công bố; không tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi giục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước”.
Trong bối cảnh xã hội thông tin bùng nổ, cấp ủy-chỉ huy các cấp cần tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của bộ đội về việc tiếp nhận, sử dụng, trao đổi thông tin trên mạng xã hội phải bảo đảm đúng pháp luật, đúng kỷ luật quân đội và có văn hóa. Khi ra ngoài doanh trại, đi công tác xa sự quản lý chỉ huy của đơn vị, không tự ý lên mạng tham gia bình luận, chia sẻ, trao đổi với những trang mạng xã hội, blog cá nhân có động cơ, dụng ý không lành mạnh; không tự ý đưa những thông tin, hình ảnh có thể gây ảnh hưởng không tốt đến tư cách, hình ảnh quân nhân và hoạt động quân sự. Bên cạnh đó, cần phải chú trọng giữ gìn lời ăn tiếng nói, thực hiện nghiêm túc kỷ luật phát ngôn ở mọi lúc, mọi nơi; không tùy tiện bàn luận, bàn tán về nhân sự cấp ủy khóa mới, nhằm phòng ngừa những thông tin gây “nhiễu” trong và ngoài đơn vị.
PHÚC NỘI

Chiêu trò đóng vai ‘người yêu nước’ gợi ý, kiến nghị không lừa được ai

Nhằm chuyển hóa chế độ xã hội ta sang mô hình thể chế chính trị “dân chủ”, “đa nguyên” ngoại nhập, một số người đóng vai “người yêu nước” đã viết bài post lên mạng, cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “đang bế tắc trong chọn lựa chính thể thích hợp để phát triển và giữ vững chủ quyền quốc gia”; đã để “vuột” (để lỡ) nhiều cơ hội và đang đứng trước một cơ hội lớn. Vậy xin bạn đọc hãy xem họ nói Việt Nam đã “vuột” cơ hội nào? đang đứng trước cơ hội gì? Và thực chất “gợi ý”, kiến nghị của họ ra sao?
Trước hết, chúng ta hãy xem họ nói Việt Nam đã bỏ lỡ những cơ hội nào?
Theo họ thì đó là những cơ hội sau: Trong năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội “bắt tay” với chính phủ Trần Trọng Kim lập chính phủ liên hiệp, theo chế độ Quân chủ lập hiến. Tiếp đó là cơ hội Đảng Cộng sản Việt Nam ra tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản “thật lòng” rồi “cử người sang gặp trực tiếp chính phủ Mỹ thiết lập quan hệ thì tình hình sẽ khác đi nhiều”. Theo họ trong những năm 1954-1968, Đảng Cộng sản Việt Nam còn bỏ lỡ cơ hội Mỹ đã chọn miền Nam Việt Nam làm đối tác chiến lược, xây dựng một xã hội tự do, dân chủ và giàu mạnh… Nói tóm lại theo họ thì Đảng Cộng sản Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội đưa Việt Nam trở lại chế độ người bóc lột người, trở lại chế độ thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc. Nếu nói là Đảng ta đã để lỡ cơ hội thì đó chỉ là “cơ hội” mất nước, “cơ hội” trở thành tay sai cho ngoại bang.
Thứ hai, theo họ, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lớn nào?
Đóng vai “người yêu nước”, họ cho rằng Việt Nam hiện nay đang đứng trước một cơ hội lớn: Đó là tất cả các nước phát triển phương Tây đang ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo trên Biển Đông. Bằng chứng là: “Việt Nam là tác nhân rất quan trọng trong chính sách “chuyển trục” của Mỹ. Các nước Mỹ, Nhật… đã công khai bày tỏ mong muốn cung cấp cho Việt Nam vũ khí nhằm ngăn chặn các xâm chiếm lãnh thổ của Trung Quốc... Chỉ cần Việt Nam bảo vệ được chủ quyền của mình trên hai quần đảo này là góp phần giải quyết phần quan trọng của vấn đề Biển Đông”.
Gắn liền với “cơ hội” này, theo họ đương nhiên là “cơ hội” để Việt Nam chuyển sang chế độ “dân chủ”, “đa nguyên” với những tiêu chí sau: “tự do lập hội: lập Công đoàn độc lập; thực hiện chế độ “đa đảng”; “tự do ứng cử, bầu cử chọn đảng thành lập chính quyền”; xây dựng nhà nước pháp quyền “tam quyền phân lập”; bảo đảm quyền “tự do ngôn luận” – báo chí tư nhân”… Có lẽ đến đây thì bạn đọc đã rõ thực chất những “bức xúc”, bản chất “lòng yêu nước” của họ là gì? Có thể nói đây là thủ đoạn chính trị thâm độc, lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân ta để hạ thấp, xuyên tạc, bôi nhọ vai trò lãnh đao, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự nham hiểm của thủ đoạn này là người ta đã chọn một thời điểm nhạy cảm để tác động vào tâm trạng của người dân nhằm chuyển hóa xã hội ta sang mô hình xã hội “dân chủ”, “nhân quyền”, “đa nguyên” ngoại nhập…, là cốt lõi của chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
Trở lại vấn đề “cơ hội” của cách mạng Việt Nam, những người có kiến thức và cách nhìn nhận khách quan về lịch sử cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX thì đều có thể thấy rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam đã tận dụng được nhiều cơ hội để đưa cách mạng nước ta tiến lên, hạn chế những tổn thất cho dân tộc. Chẳng hạn, chớp thời cơ Nhật đảo chính Pháp, Nhật đầu hàng Đồng Minh, nhân dân ta đã dùng bạo lực chính trị tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám, 1945, thiết lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước khi quân Đồng Minh vào Việt Nam. Hoặc tranh thủ thời cơ các nước XHCN đoàn kết, thống nhất Đảng ta đã lãnh đạo cuộc chiến tranh cách mạng, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Hiện nay, Việt Nam đang nắm bắt cơ hội ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo. Để nắm bắt được cơ hội này, Đảng Cộng sản Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới (mở đầu từ 1986 đến nay) đã nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại “độc lập,  tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ”; Việt Nam mong muốn  “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Văn kiện Đại hội XI, NXB CTQG, HN, 2011, Tr 46,  83). Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với hơn 180 nước. Trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với tất cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Hiện nay Việt Nam đang là thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc (khóa 2014-2016).
Để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, Việt Nam kiên trì nguyên tắc độc lập, tự chủ về chính trị; đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết. Trên lĩnh vực quân sự đó là thực hiện chính sách: không tham gia các liên minh quân sự, không để cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia. Nguyên tắc trên không chỉ là đường lối chính trị, chiến lược quốc phòng, an ninh mà còn là bản lĩnh, là phẩm giá của dân tộc ta.
Vọng Đức

Phải chăng kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế quốc dân?

QĐND - Theo dõi một số cuộc hội thảo khoa học và phương tiện truyền thông đại chúng gần đây cho thấy, có một số người đưa ra những quan điểm xa lạ với quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước ta. Đáng chú ý là những phát biểu đó ngày càng nhiều và cao giọng hơn trước. Tiếp sức còn có “cố vấn” đẳng cấp nước ngoài. Vấn đề trung tâm mà họ kêu gọi là tư nhân hóa nền kinh tế.
Trước hết, xin lược qua vấn đề sở hữu tư nhân ở nước ta trong mấy chục năm qua với những bước thăng trầm tùy từng thời kỳ lịch sử.
Còn nhớ những năm 1958-1960, thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở miền Bắc chúng ta đã lên án tư hữu, coi nó là biểu hiện của phương thức sản xuất lạc hậu, không tương thích với chủ nghĩa xã hội (CNXH). Vì vậy, đã phát động phong trào đưa nông dân ồ ạt vào hợp tác xã từ bậc thấp đến bậc cao. Lối làm ăn tập thể kiểu cũ kéo dài về cơ bản cho đến những năm 80 của thế kỷ trước. Những doanh nghiệp tư bản tư nhân được vận động tham gia công tư hợp doanh, nhưng về thực chất thì gần như bị quốc hữu hóa và hoạt động giống xí nghiệp quốc doanh. Tình hình đó còn lặp lại sau ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Ảnh minh họa / qdnd.vn
Không thể phủ nhận kinh tế hợp tác xã đã có vai trò to lớn trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo đảm hậu phương vững chắc cho tiền tuyến đánh giặc. Nhưng cũng không thể nói khác là kinh tế hợp tác xã theo kiểu chúng ta xây dựng, về cơ bản, đã kìm hãm lực lượng sản xuất, gần như triệt tiêu động lực tích cực và sáng tạo của người lao động. Trong khi đó, chỉ với 5% ruộng đất mà mỗi hộ xã viên được nhận để tự canh tác nếu sản xuất hiệu quả thì đã có thể nuôi sống cả gia đình.
Điều nói trên chứng minh tính đúng đắn trong luận điểm của C.Mác rằng, không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ.
Vậy mà sau chiến tranh một thời gian dài, kinh tế tập thể kiểu cũ vẫn được duy trì. Chúng ta không thừa nhận kinh tế tư nhân là một thành phần kinh tế cả trong đường lối, chính sách lẫn trong thực tế.
Chúng ta đã không chú ý đến lời giáo huấn của C.Mác và V.I.Lê-nin rằng, trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế không thuần nhất, vừa có thành phần kinh tế XHCN, vừa có thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa (TBCN), thậm chí có cả thành phần kinh tế tiền TBCN. Và câu nói nổi tiếng của Ph.Ăng-ghen: Bắt con ngựa TBCN cày trên mảnh đất của CNXH. Có nghĩa là sử dụng chủ nghĩa tư bản (CNTB) phục vụ CNXH.
Việc xa rời những chỉ dẫn quan trọng trong xây dựng CNXH đã dẫn đến căn bệnh “ấu trĩ tả khuynh”(1) mà V.I.Lê-nin đã từng căn dặn phải đề phòng.
Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) chúng ta mới thừa nhận có thành phần kinh tế tư nhân. Nghị quyết Đại hội viết sâu sắc về vấn đề này: Nền kinh tế nước ta kém phát triển không chỉ vì lực lượng sản xuất lạc hậu, mà còn vì quan hệ sản xuất đi trước quá xa tính chất và trình độ lực lượng sản xuất. Nói cách khác là không phù hợp.
Nhưng khắc phục tư duy cũ không phải là việc có thể hoàn thành trong “một sớm một chiều” mà đòi hỏi một quá trình. Còn nhớ hồi đầu năm 1987, ngay sau Đại hội VI, tháng 12-1986, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã đi thăm một số cơ sở sản xuất tư nhân ở nội và ngoại thành Hà Nội. Lúc bấy giờ đó là điều hiếm thấy, xa lạ với nhiều người, khiến một số đồng chí trong Đảng, kể cả cán bộ cấp cao, cũng băn khoăn. Nghị quyết của Đảng đã có, nhưng để đi vào cuộc sống thật không dễ dàng.
Trong sản xuất tập thể, đến năm 1981, Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư về khoán sản phẩm mới chỉ nói đến nhóm và người lao động. Nghĩa là còn phải nói đến tập thể-nhóm. Nhưng đến năm 1988, với “khoán 10” đã cho phép khoán đến hộ gia đình. Động lực mới cho sản xuất theo đó cũng được tăng lên.
Từ những năm 90 của thế kỷ trước, chúng ta đã cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đến năm 2002, Đảng ta ban hành nghị quyết riêng về kinh tế tư nhân. Nghị quyết coi kinh tế tư nhân là bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài. Nghị quyết yêu cầu sửa đổi một số cơ chế, chính sách, theo đó kinh tế tư nhân có thể thụ hưởng những chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với các ngành, các vùng, các sản phẩm và dịch vụ cần ưu tiên, khuyến khích phát triển không phân biệt thành phần kinh tế. Nhà nước có chính sách hỗ trợ về đào tạo, khoa học và công nghệ, về thông tin, xúc tiến thương mại. Đại hội X (năm 2006) thừa nhận kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Đại hội XI (năm 2011) khuyến khích thành lập các tập đoàn kinh tế tư nhân và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Tư nhân không chỉ hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu mà còn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Gần đây Nhà nước khuyến khích tư nhân đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng lớn, sử dụng rộng rãi hình thức công-tư trong hoạt động kinh tế...
Như vậy, về mặt pháp lý và thực tế, kinh tế tư nhân đã có chỗ đứng vững chắc trong nền kinh tế đất nước. Dĩ nhiên, chưa thể nói là tiềm năng của nó đã được huy động đầy đủ, mặc dù so với trước đây đã có những bước tiến khá dài.
Nhưng nếu từ đó mà kêu gọi tư nhân hóa nền kinh tế là một sự chệch hướng. Cần nhận thức đúng việc tư nhân góp vốn với các doanh nghiệp nhà nước và tập thể để mở rộng sản xuất, kinh doanh. Đó là phương thức kinh doanh công-tư kết hợp. Không thể đồng nhất việc tư nhân mua lại một số doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ, doanh nghiệp nhà nước có vai trò ít quan trọng trong nền kinh tế, doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả... với việc tư nhân hóa nền kinh tế, có nghĩa là chuyển nền kinh tế hiện nay sang chế độ sở hữu tư nhân.
Một quan điểm khác cho rằng, kinh tế nhà nước hoạt động kém hiệu quả, chỉ có kinh tế tư nhân mới là động lực chủ yếu để đưa nền kinh tế đi lên, nên hãy để cho tư nhân đảm nhiệm vai trò phát triển kinh tế. Nói như vậy cũng không ổn. Thực tế chứng minh rằng, cả kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân đều có những đơn vị hoạt động hiệu quả và những đơn vị làm ăn kém hiệu quả. Do quản lý kinh tế trong nước còn yếu kém nên cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua tác động đã làm cho hàng chục vạn doanh nghiệp ở nước ta đổ vỡ, trong đó có cả doanh nghiệp nhà nước, tập thể và tư nhân. Điều đó là khá rõ ràng. Cái đáng nói là, doanh nghiệp nhà nước với điều kiện thuận lợi hơn tư nhân mà làm ăn “bê bết” là không thể chấp nhận được.
Để thay đổi thực trạng này, một trong những vấn đề cần quan tâm là công tác quản lý. Có nhà kinh tế nước ngoài đã đúc kết bằng một mệnh đề “sở hữu công nhưng quản lý tư”. Hàm ý là tư nhân quản lý chặt đồng tiền của mình đã bỏ ra. Muốn như vậy phải chọn người thật đúng - “chọn mặt gửi vàng”. Không phải là chỉ định các chức vụ quản lý theo quan hệ thân quen, vì tiền bạc, hoặc bị chi phối theo “lợi ích nhóm”. Tất cả các chức vụ quan trọng phải bằng lựa chọn thi tuyển công khai, minh bạch. Trường hợp Vinashin quốc doanh của chúng ta là một trong những bài học đắt giá về công tác quản lý. Hơn 700 triệu USD công trái thu về đưa vào kinh doanh bị “bốc hơi”, thua lỗ và tham nhũng hết, hơn nữa còn nợ đọng lên tới mấy tỷ USD không trả được. Quản lý nhà nước cấp trên đến mức độ này mới biết chuyện, khi doanh nghiệp trên thực tế “đã chết” từ lâu rồi. Nếu sửa được những yếu kém trong công tác quản lý thì các đơn vị kinh tế nhà nước vẫn có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế.
Có người còn đẩy lên cao khi công khai cho rằng, kinh tế tư nhân là nền tảng của nền kinh tế quốc dân của chúng ta.
Trước đây chúng ta mắc sai lầm tả khuynh vì không sử dụng kinh tế tư nhân thì nay có người phạm sai lầm ngược lại, gán cho kinh tế tư nhân vai trò mà nó không thể làm được xét cả về lý luận và thực tiễn.
Không thể thượng tầng kiến trúc của chúng ta vận hành theo định hướng XHCN mà hạ tầng cơ sở dựa trên sở hữu tư nhân. Hoàn toàn mâu thuẫn, vì kinh tế tư nhân, như kinh nghiệm thế giới đã chỉ ra, nếu tự nó, sẽ vận động về hướng nào, chắc mọi người đã rõ.
Hạ tầng cơ sở của mỗi thời đại lấy quan hệ sản xuất đặc trưng, tiêu biểu của thời đại đó làm nền tảng. Những quan hệ sản xuất khác trước đó vẫn được sử dụng nếu thực tế có nhu cầu, nhưng không bao giờ lại đóng vai trò là nền tảng, là chủ đạo của nền kinh tế quốc dân. Đó là một chân lý bất di bất dịch của mọi thời đại.
Vậy nên Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo,... Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân”(2). Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ rõ “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”(3). Cương lĩnh và Hiến pháp nói như vậy là đúng về lý luận. Nhưng trên thực tế hiện nay, vai trò đó chưa được thực hiện đúng như yêu cầu, vẫn còn nhiều yếu kém. Điều này cũng dễ hiểu. Cương lĩnh đã lưu ý điều đó khi viết “ngày càng trở thành nền tảng” (tác giả nhấn mạnh).
Vấn đề này có nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Về chủ quan, Đảng và Nhà nước dù đã quan tâm nhiều đến việc củng cố và kiện toàn kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, nhưng so với yêu cầu vẫn chưa đạt và hiệu quả còn thấp.
Về khách quan, đây là công việc hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài. Phải trải qua một thời kỳ thử nghiệm và lựa chọn, thất bại và thành công, cuối cùng mới tìm ra được những mô hình tốt để hoàn thiện và nhân lên trên diện rộng, trở thành một xu thế bền vững, không thể đảo ngược.
Tầm vóc của nó thật là vĩ đại, vì đây “là việc đặt nền móng kinh tế cho tòa nhà mới, tòa nhà xã hội chủ nghĩa”(4).
V.I.Lê-nin đã nhiều lần đề cập đến vấn đề này sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, rằng “danh từ nước Cộng hòa xô-viết xã hội chủ nghĩa có nghĩa là chính quyền xô-viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội, chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế mới là chế độ xã hội chủ nghĩa”(5). Điều đó đòi hỏi một thời kỳ quá độ dài. Phải dùng chính quyền mới để tạo lập chế độ kinh tế mới phù hợp(6).
Đây là sự vận dụng mối quan hệ biện chứng giữa thượng tầng kiến trúc và hạ tầng cơ sở. Trong quá trình đó, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước cũng như tính chất nền tảng của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể sẽ lớn dần lên và đạt tới độ chín muồi khi cơ sở vật chất của CNXH và chế độ kinh tế mới tương ứng với chế độ chính trị được xây dựng xong về cơ bản. Không thể đòi hỏi sự tiến bộ vượt bậc của quan hệ sản xuất XHCN ngay đầu thời kỳ quá độ như một số người mong muốn. Đó cũng là một biểu hiện của bệnh “ấu trĩ tả khuynh” như V.I.Lê-nin đã vạch ra.
Những vấn đề nói trên mang tính quy luật đối với các nước tiền TBCN hoặc những nước TBCN kém phát triển tiến lên CNXH.
Trên đây chúng ta đã bàn về việc tại sao kinh tế tư nhân không đóng được vai trò là nền tảng của kinh tế quốc dân trong chế độ chúng ta.
Còn về mặt thực tế, tư nhân nước ta hiện nay và cả sau này khi phát triển hơn, xét về tổng thể, vẫn không thể đảm đương nổi vai trò này.
Tư nhân không muốn và không đủ sức đầu tư vào những công trình lớn, xây dựng dài ngày, hiệu quả đầu tư thấp, thu hồi vốn chậm; những công trình công ích lãi suất thấp hoặc phi lợi nhuận; còn những công trình quốc phòng-an ninh vốn là độc quyền của Nhà nước.
Vậy, Nhà nước định hướng tư nhân phát triển theo con đường nào?
Phần lớn những doanh nghiệp tư nhân vừa và lớn được khuyến khích phát triển theo con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước hay như thuật ngữ mà chúng ta quen dùng hiện nay là “đối tác công tư”, “công-tư kết hợp”.
Đó là con đường đầy triển vọng, không chỉ có lợi cho cả “công” và “tư” mà còn có lợi cho việc tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước. V.I.Lê-nin đánh giá cao con đường này. Người nói: “Trong một nước tiểu nông, trước hết các đồng chí phải bắc những chiếc cầu nhỏ vững chắc, đi xuyên qua chủ nghĩa tư bản nhà nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội”(7).
Hiện nay, chúng ta đang có bước khởi đầu đi trên con đường này. Đó là việc những đơn vị kinh tế tư nhân lớn tham gia góp vốn cùng kinh tế nhà nước để được nhượng quyền khai thác có điều kiện những cơ sở lớn thuộc kết cấu hạ tầng, như: Hải cảng, sân bay, đường cao tốc... theo hợp đồng. Nhà nước vẫn giữ quyền chi phối một số mặt quản lý quan trọng để bảo đảm hài hòa các lợi ích: Nhà nước-doanh nghiệp-người tiêu dùng. Chúng ta cần mở rộng hơn nữa hình thức này trên các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế.
Đối với vấn đề này hiện nay cũng đang có những quan điểm trái ngược nhau. Một số người cho rằng, làm như thế là tài sản Nhà nước bị xâm phạm, là tạo điều kiện cho tư nhân phát triển đi đôi với sở hữu XHCN bị thu hẹp... Họ không thấy rằng, nếu để cho Nhà nước độc quyền kinh doanh tất cả thì không làm nổi, hoặc dẫn đến tình trạng cơ sở vật chất kỹ thuật bị xuống cấp. Đó là chưa nói đến làm như vậy Nhà nước sẽ rút ra được một số tiền không nhỏ để đầu tư vào những công trình khác đang rất “khát” vốn. Một dự báo cho thấy trong 15 năm tới, số công trình thuộc kết cấu hạ tầng dự kiến triển khai sẽ rất lớn, trong đó Nhà nước chỉ bảo đảm được 30% tổng số vốn. Làm theo cách trên là một sự lựa chọn tốt, tìm lối ra cho nền kinh tế.
Tất nhiên, chúng ta phải đề phòng, ngăn chặn và đấu tranh quyết liệt với các hành vi tiêu cực, lợi dụng hình thức này để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm.
Còn quan điểm khác cổ súy tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế, Nhà nước không cần nắm gì, chỉ cần thông qua luật để điều tiết là đủ… “Tay không bắt giặc” cũng là phi thực tế. Tóm lại, hiện đang có hai xu hướng: Một là, Nhà nước nắm lấy tất cả; hai là, Nhà nước buông tất cả. Như vậy, chúng ta càng thấy luận điểm “Chủ nghĩa tư bản nhà nước” của V.I.Lê-nin là giải pháp đúng đắn biết nhường nào!
Nói về quá trình cổ phần hóa ở nước ta đang tiến hành hiện nay, có người cho đó là quá trình tư nhân hóa. Có lẽ gọi đó là quá trình xã hội hóa (đầu tư) thì đúng hơn.
Quá trình tư nhân hóa điển hình diễn ra ở nước Nga thời Tổng thống B.En-xin đầu những năm 90 của thế kỷ trước. Lúc đó người ta bán rẻ cho tư nhân những cơ sở kinh tế lớn hoặc vừa, quan trọng nhiều hoặc ít. Có những người chớp thời cơ, qua một đêm trở thành tỷ phú. Về sau, dưới thời Tổng thống V.Pu-tin đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt để lấy lại một phần tài sản quốc gia bị mất vào tay những kẻ tài phiệt.
Còn ở nước ta, thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, xét về chủ trương, không mang tính chất tư nhân hóa. Đối tượng cổ phần hóa do Nhà nước quyết định: Cổ phần doanh nghiệp nào, toàn bộ hoặc một phần. Nhà nước có thể không tham gia cổ đông, hoặc tham gia với tư cách là cổ đông thường hay cổ đông chi phối. Tiền thu về hoặc để đầu tư trở lại doanh nghiệp hoặc đầu tư để phát triển doanh nghiệp mới. Người mua cổ phần đa dạng: Đó chính là doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp tập thể; là nhà đầu tư nước ngoài (coi trọng nhà đầu tư chiến lược) bao gồm nhà nước và tư nhân; nhà đầu tư tư nhân trong nước; bản thân người lao động. Như vậy là toàn xã hội có thể cùng tham gia cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Quá trình cổ phần hóa ở nước ta hiện nay hết sức tránh lấy tốc độ hoàn thành vào năm 2015 làm mục tiêu duy nhất mà xem nhẹ chất lượng cổ phần hóa. Phải chú ý xây dựng phương án quản trị doanh nghiệp, phương án sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Chính điều này quyết định tính hiệu quả và sự thành công của cổ phần hóa doanh nghiệp.
Tóm lại, vai trò, vị thế của kinh tế tư nhân ở nước ta đã có một bước tiến dài so với trước. Chúng ta phải tiếp tục hoàn thiện về thể chế, nhất là chỉ đạo tổ chức thực tiễn để thực hiện đúng đường lối, chính sách, phát huy hơn nữa tiềm năng của kinh tế tư nhân. Nhưng đừng bao giờ quên rằng đây là kinh tế tư nhân hoạt động dưới CNXH, chịu sự chi phối của Nhà nước pháp quyền XHCN, có nhiệm vụ góp phần xây dựng CNXH thành công. Đừng bao giờ gán cho kinh tế tư nhân vai trò và nhiệm vụ mà nó không thể có và không thể nào thực hiện được.
Giáo sư LÊ XUÂN TÙNG
 (Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội)
(1) V.I.Lê-nin toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.36, tr.347
 (2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.73-74
 (3) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2014, tr.25
 (4) V.I.Lê-nin toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.44, tr.188
 (5) V.I.Lê-nin: Sđd, t.36, tr.362
 (6) V.I.Lê-nin: Sđd, t.36, tr.208, 210; t.42, tr.33
 (7) V.I.Lê-nin: Sđd, t.44, tr.189

Về một số quan điểm xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lê-nin hiện nay

QĐND - Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) năm 2011 của Đảng, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước và nhiều văn kiện các Đại hội Đảng đã khẳng định: "Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động". Sự khẳng định đó phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua hơn 85 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng yêu cầu cán bộ, đảng viên phải kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, xuất hiện trên mạng internet và một số ấn phẩm in, tán phát những quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin để từ đó phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hãy phân tích một số trong những quan điểm đó.
1- Quan điểm quy chủ nghĩa Mác - Lê-nin về tư tưởng "Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội".
Như chúng ta biết, phát hiện ra vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp không phải là công lao của Mác. Trong thư gửi Vây-đơ-mai-ơ ngày 5-3-1852, Mác viết: "...Tôi không có công lao là đã phát hiện ra sự tồn tại của các giai cấp trong xã hội hiện đại, cũng không có công lao là đã phát hiện ra cuộc đấu tranh giữa các giai cấp với nhaụ Các nhà sử học tư sản trước tôi rất lâu đã trình bày sự phát triển lịch sử của cuộc đấu tranh giai cấp đó, còn các nhà kinh tế học tư sản thì đã trình bày sự giải phẫu kinh tế của các giai cấp. Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1- Sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định của sản xuất; 2- Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3- Bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp" (1).
Như vậy, Mác không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có đối kháng giai cấp mà thôị Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp nên chưa có đấu tranh giai cấp, và sau này trong tương lai, khi xã hội không còn phân chia giai cấp nữa thì cũng không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hộị
Quan điểm khoa học về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác không phải là áp đặt, bịa đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: Bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn.
Tuy nhiên, chủ nghĩa Mác không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. Ngoài động lực này, như Mác đã từng chỉ ra, còn một loạt những động lực khác như: Sự phát triển của lực lượng sản xuất, nhu cầu, lợi ích, lý tưởng, khoa học-kỹ thuật v.v.. Vì vậy, không nên cường điệu động lực đấu tranh giai cấp.
Đồng thời, việc nhận thức và giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử-cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trước đây khi phân tích so sánh về đấu tranh giai cấp ở các nước phương Tây và phương Đông, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở phương Tây, đấu tranh giai cấp rất quyết liệt, còn ở phương Đông, những nước như "Ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây"(2). Đối với Việt Nam cũng vậy, vì Việt Nam vốn là một xã hội phương Đông cổ truyền, nông nghiệp lạc hậu, hơn 90% là nông dân, phân hóa giai cấp chưa sâu sắc. Từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, yêu cầu đoàn kết dân tộc nổi lên hàng đầu để tập hợp các lực lượng, các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội nhằm thực hiện nhiệm vụ cứu nước, giải phóng dân tộc. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán quan điểm giáo điều của một số người về đấu tranh giai cấp ở Việt Nam: "Nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng"(3).
Ở đây không được phép lẫn lộn quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan điểm hữu khuynh phủ nhận đấu tranh giai cấp hoặc quan điểm tả khuynh cường điệu đấu tranh giai cấp, thiên về trấn áp bạo lực, hoặc mượn danh đấu tranh giai cấp để đấu tố trấn áp những người không ăn cánh, không theo đường lối của mình, có tính chất bè phái như đã từng xảy ra ở một số nước xã hội chủ nghĩa trước đâỵ
Trong thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những nhận thức mới về chuyên chính vô sản và đấu tranh giai cấp. Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (3-1989), lần đầu tiên đã sử dụng khái niệm "hệ thống chính trị" thay cho khái niệm "hệ thống chuyên chính vô sản". Từ đó về sau, trong Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh 2011, trong các văn kiện từ Đại hội VII đến Đại hội XI ít sử dụng thuật ngữ "chuyên chính vô sản". Đây là một bước tiến của nhận thức, phù hợp hơn với điều kiện tình hình mớị
Về đấu tranh giai cấp, Đại hội IX của Đảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiềụ Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực thiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc.
Đại hội IX cũng xác định động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế toàn xã hộị
Như vậy, Đảng ta không phủ nhận đấu tranh giai cấp trong thời kỳ quá độ, song quan niệm đấu tranh giai cấp cũng như động lực phát triển đất nước phù hợp hơn với sự thay đổi về kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với nhiệm vụ của cách mạng trong thời kỳ đổi mớị
Các Mác  và Vla-đi-mia I-lích Lê-nin. Ảnh: Tạp chí Tuyên giáo
2- Về cái gọi là "chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan thể hiện dưới hình thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin". Quan điểm này đem quy chủ nghĩa Mác - Lê-nin về chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan, đối lập với tư tưởng "đoàn kết và thống nhất của học thuyết Hồ Chí Minh".
Đây là sự quy chụp, áp đặt cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin một cách vô căn cứ. Bởi vì chia rẽ, cực đoan không phải là bản chất của chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà đó là tư tưởng và hành động sai lầm của những người theo chủ nghĩa chia rẽ, bè phái, tả khuynh hoặc hữu khuynh… Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học phản ánh những quy luật khách quan của thế giới, dựa trên phương pháp biện chứng duy vật với các quan điểm khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể và thực tiễn chứ không phải dựa trên chia rẽ và cực đoan, phiến diện, không thể đồng nhất, lẫn lộn những sai lầm đó với chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Trên thực tế, như chúng ta biết, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin luôn nêu cao tinh thần đoàn kết, thống nhất trong phong trào cách mạng. Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác và Ăng-ghen đã đưa ra khẩu hiệu "Vô sản toàn thế giới hãy đoàn kết lại!". Về sau này, Lê-nin bổ sung thêm: "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức hãy đoàn kết lại". Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, xây dựng các chính đảng cách mạng, Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đều yêu cầu phải đoàn kết, thống nhất để tạo thành sức mạnh của tổ chức cách mạng. Lê-nin coi giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng Cộng sản như giữ gìn con ngươi của mắt mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn Đảng. Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy khi nào đoàn kết thì thắng lợi, chia rẽ là thất bạị Đảng đấu tranh chống lại tư tưởng và hành động cực đoan, phiến diện, duy ý chí, chia rẽ, bè pháị Coi chia rẽ, bè phái là một trong những tội nặng nhất, làm phá hoại tổ chức Đảng. Tổng kết 80 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trong Cương lĩnh 2011 của Đảng đã rút ra bài học quan trọng: "Không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế". Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công". Đảng cũng khẳng định, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng "ngày nay chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan làm cho Việt Nam hòa bình đã gần 40 năm, song vẫn còn bị chia rẽ".
Ý kiến trên đây là cực đoan, bất chấp thực tế lịch sử. Trước kia đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị-xã hội khác nhau là do sự xâm lược của đế quốc Mỹ muốn xâm chiếm Việt Nam, chia cắt đất nước tạ Để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, nhân dân ta phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trong suốt 20 năm. Đến ngày 30-4-1975, với Chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước được hòa bình, thống nhất, đất nước làm gì còn bị chia rẽ nữẳ!). Đối với những người đã từng tham gia chế độ cũ trước đây, đường lối của Đảng và Nhà nước ta là khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, lấy lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc làm mẫu số chung để đoàn kết toàn dân, lấy dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm mục tiêu chung, làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, tôn trọng những người có ý kiến khác, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; thực hiện hòa hợp dân tộc, đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tăng cường đồng thuận xã hội, tập hợp, đoàn kết mọi người vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có những người sau 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước nhưng vẫn ôm mối hận thù dân tộc, vẫn bị định kiến chi phối, không vượt qua được sự mặc cảm của quá khứ mới tách mình ra khỏi dân tộc, thậm chí tìm cách chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Một bộ phận nhỏ người Việt Nam ở nước ngoài, do thiếu thông tin khách quan, trung thực về tình hình trong nước, vẫn ôm hận thù với Nhà nước Việt Nam, tìm cách chống phá Đảng và Nhà nước ta, vu khống Việt Nam đàn áp tôn giáo, dân tộc thiểu số, vi phạm dân chủ, nhân quyền, vận động các thế lực thù địch tiếp tục chống phá Việt Nam. Chính những người này mới là lực lượng theo chủ nghĩa chia rẽ và cực đoan.
3- Về quan điểm coi "Đảng lãnh đạo mắc sai lầm trong việc kiên định quá lâu mô hình xã hội chủ nghĩa kiểu Xô-viết của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, một mô hình lạc hậu của một hệ thống tư tưởng lỗi thời và từ lâu đã bị xếp vào kho tàng lịch sử, làm cho Việt Nam tuy đã có gần 40 năm hòa bình, thống nhất, song đến nay vẫn trì trệ, suy thoái", "hiện đang bên bờ khủng hoảng"(!).
Quan điểm này thực chất là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, phủ nhận những thành tựu của nước ta sau 30 năm đổi mớị
Trước hết, phải khẳng định quan điểm cho rằng Việt Nam kiên định quá lâu mô hình chủ nghĩa xã hội Xô-viết là không đúng thực tế. Với công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo từ năm 1986 đến nay, Đảng đã từ bỏ mô hình này, một mô hình có nhiều "khuyết tật" như: Dựa trên cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phủ nhận kinh tế thị trường, triệt tiêu nhiều động lực phát triển… Đảng ta đã tự phê bình sai lầm giáo điều trong việc áp dụng mô hình Liên Xô trước đâỵ Đảng đã tiến hành đường lối đổi mới, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn để xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Cương lĩnh năm 2011 của Đảng đã xác định 8 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 8 phương hướng cơ bản và 8 mối quan hệ lớn cần nắm vững là sự khái quát lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước tạ Lý luận đó cần được tiếp tục nghiên cứu, tổng kết, bổ sung và phát triển để đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn cách mạng.
Còn chủ nghĩa Mác - Lê-nin ngày nay vẫn là học thuyết tiên tiến của loài người, điều đó không chỉ những người mác-xít thừa nhận mà cả một số học giả tư sản cũng thừa nhận. Ví dụ, Giắc Đê-ri-đa, nhà triết học nổi tiếng người Pháp coi Mác không chỉ là nhà tư tưởng của thế kỷ XX mà còn là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI, ông khẳng định nhân loại không thể thiếu Mác được. Chương trình Thời đại chúng ta trên sóng phát thanh radio 4 của đài BBC tại Anh tổ chức thăm dò với 3 vạn phiếu phát rạ Kết quả, trong số 20 triết gia vĩ đại được đưa ra để lựa chọn, C.Mác được chọn là triết gia vĩ đại nhất của nhân loại từ trước đến nay bởi những cống hiến khoa học xuất sắc của ông. Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Lancaste (Vương quốc Anh) Te-ri Y-gờ-tơn (Terry Eagleton) trong tác phẩm "Tại sao Mác đúng?" vẫn khẳng định tính đúng đắn của những quan điểm của Mác trong điều kiện thế giới ngày nay, ông phản bác ý kiến cho rằng "chủ nghĩa Mác đã chết và không còn nhắc đến nữa". Ở các nước xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Trung Quốc, Cu-ba, Lào và ở nhiều Đảng Cộng sản và công nhân trên thế giới như Đảng Cộng sản Liên bang Nga, Đảng Cộng sản Pháp, Đảng Cộng sản Nhật Bản… vẫn khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa xã hội khoa học.
Khi đánh giá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cần phân biệt những giá trị bền vững của những nguyên lý cơ bản của nó với một số luận điểm cụ thể của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin đúng trong thời đại của các ông nhưng đã bị lịch sử vượt qua trong điều kiện mới của thời đại, nhất là không được lẫn lộn chủ nghĩa Mác - Lê-nin với những nhận thức sai và làm trái với chủ nghĩa Mác - Lê-nin của những người lãnh đạo Đảng này hay Đảng khác, ở nước xã hội chủ nghĩa này hay nước xã hội chủ nghĩa khác trước kia hoặc hiện naỵ Cần phân biệt chủ nghĩa Mác - Lê-nin với quan điểm chủ nghĩa xét lại, cơ hội giả danh mác-xít, cố tình xuyên tạc, vu khống chủ nghĩa Mác - Lê-nin để chống chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Cần nhận thức rõ rằng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một học thuyết mang bản chất cách mạng và khoa học, nó không phải là giáo điều mà là kim chỉ nam cho hành động, nó không phải nhất thành bất biến. Vì vậy, phải vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin cho phù hợp với thời đại, với điều kiện lịch sử mỗi nước, mỗi giai đoạn. Lê-nin đã từng nói, áp dụng chủ nghĩa Mác ở Nga phải khác với ở Đức, Anh, Pháp…; vì chân lý luôn luôn là cụ thể nên cách mạng phải sáng tạọ Phân tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể là bản chất, linh hồn sống của chủ nghĩa Mác.
Đối với cách mạng Việt Nam, vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã được khẳng định trong hơn 85 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chỉ khi đến được với chủ nghĩa Mác - Lê-nin mới tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Năm 1924, khi đọc Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã thấy "đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta"(4). Trong cuốn Đường Cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc viết rằng, bây giờ chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin. Về sau trong nhiều tác phẩm, bài diễn văn của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và yêu cầu học tập, tu dưỡng, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Người coi chủ nghĩa Mác - Lê-nin là "cái cẩm nang" thần kỳ, "kim chỉ nam" cho cách mạng Việt Nam. Người viết: "Đảng ta nhờ kết hợp được chủ nghĩa Mác - Lê-nin với tình hình thực tế của nước ta, cho nên đã thu được nhiều thắng lợi trong công tác"(5); "Học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin… là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta"(6); "Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về chủ nghĩa Mác - Lê-nin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp chủ nghĩa Mác - Lê-nin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước tạ Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng xã hội chủ nghĩa thích hợp với tình hình nước ta"(7).
Việc đem đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin để phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin là rất sai lầm về quan điểm và phương pháp, về lịch sử và logic. Bởi vì, về mặt lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh có cội nguồn và được hình thành từ các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa văn hóa của nhân loại mà đỉnh cao là chủ nghĩa Mác - Lê-nin thông qua hoạt động trí tuệ và thực tiễn của Ngườị Chủ nghĩa Mác - Lê-nin chính là nguồn gốc lý luận, là cơ sở chủ yếu nhất hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh đã vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lê-nin để nghiên cứu thực tiễn và tìm ra con đường cách mạng Việt Nam, vượt lên trước những nhà yêu nước đương thời, khắc phục được sự khủng hoảng về con đường tiến lên của dân tộc Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong thời đại mớị Như vậy về mặt logic, về bản chất, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin chứ không có sự đối lập với chủ nghĩa Mác - Lê-nin như một số người tưởng tượng rạ Và do đó cũng không có cái gọi là "cuộc nội chiến về tư tưởng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin" từ năm 1930 đến nay ở Việt Nam như có người nhận định. Hồ Chí Minh là người đã vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, đưa cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Do vậy, không thể nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh để hạ thấp, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Vì thế, Cương lĩnh năm 2011 khẳng định: "Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh"(8).
Còn ý kiến cho rằng sau 40 năm giải phóng đến nay đất nước vẫn trì trệ, suy thoái, hiện đang bên bờ khủng hoảng (!)
Nói như vậy là nhắm mắt trước thực tế, bất chấp lịch sử, không khách quan.
Sau 30 năm đổi mới, như Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận-thực tiễn của Đảng đã khẳng định, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành, phát triển. Chính trị-xã hội ổn định; quốc phòng-an ninh được tăng cường. Văn hóa, xã hội có bước phát triển, bộ mặt đất nước và đời sống nhân dân có nhiều thay đổị Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống chính trị được đẩy mạnh. Sức mạnh mọi mặt của đất nước được tăng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng caọ
Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục phát triển trong những năm tới, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đạị Những thành tựu đó khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo, được quảng đại nhân dân thừa nhận và bạn bè quốc tế đánh giá caọ
Tuy nhiên, bên cạnh đó, đất nước ta cũng đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, còn nhiều hạn chế, yếu kém phải khắc phục, phấn đấu nỗ lực vượt qua, tận dụng thời cơ, đẩy lùi thách thức, biến thách thức thành cơ hội phát triển đất nước nhanh và bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa.
LÊ HỒNG
(1). C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, tập 28, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.661-662.
(2). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 1, Nxb CTQG, 2011, tr.508, 509.
(3). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5, HN, Nxb CTQG, 2011, tr.312.
(4). Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, t.10, tr.127.
(5, 6, 7). Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 11, Nxb CTQG, H, 2011, tr.97; 611, 92.
(8). Văn kiện Đại hội XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr.66.

Chiêu trò ‘hạ bệ thần tượng’ và lối suy diễn chủ quan

Nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta, các thế lực thù địch đã sử dụng nhiều thủ đoạn, trong đó có thủ đoạn được gọi là “hạ bệ thần tượng”, xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. 
Cuộc cách mạng của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam được dẫn dắt bởi Chủ nghĩa Mác-Lênin do Chủ tịch Hồ Chí Minh nghiên cứu, tiếp thu, vận dụng và phát triển một cách sáng tạo đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, làm nên những thành quả vĩ đại. Đó là Cách mạng giành lại độc lập dân tộc; các cuộc kháng chiến đầy hy sinh gian khổ chống lại thực dân, đế quốc xâm lược hùng mạnh nhất thời đại, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và ngày nay đang giành được những thành tựu quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế.
Thế nhưng, trên một số mạng, có kẻ đã xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rằng: Các cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, thống nhất đất nước là do Nguyễn Ái Quốc đã du nhập “học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra”, rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn “đặt lợi ích của Đảng, của “ý thức hệ” lên trên lợi ích của dân tộc”… Lịch sử đã hoàn toàn bác bỏ những lập luận xuyên tạc, vu cáo đó. Là một nước nhỏ, yếu để chống lại các cường quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta không thể không tranh thủ sự giúp đỡ của các quốc gia XHCN và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới (trong đó có nhân dân Mỹ, Pháp…). Song chưa bao giờ Hồ Chí Minh và Đảng ta xa rời mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH vì lợi ích của nhân dân.
Tại cuộc Hội thảo quốc tế “Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, Nhà văn hóa lớn” (Hà Nội, 3/1990), Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương, ông Modagat Ahmet, nói: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”.
Chính vì vậy mà có người còn nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là George Washington vừa là Abraham Lincoln của đất nước mình”. Là George Washington vì Hồ Chí Minh là người lãnh đạo cuộc đấu tranh giành lại độc lập dân tộc cho dân tộc ta; là  Abraham Lincoln vì Người đã lãnh đạo cuộc đấu tranh xóa bỏ chế độ thực dân - phong kiến ở Việt Nam. Công cuộc xây dựng xã hội mới, xã hội XHCN do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta thực hiện.
Để thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hiểm nguy vừa lao động kiếm sống, vừa học tập và hoạt động cách mạng. Theo một thống kê chưa đầy đủ, Nguyễn Ái Quốc đã trải qua hơn 20 nghề, trong đó có những nghề rất vất vả và nguy hiểm như: Phu khuân vác, cào tuyết, … Người đã từng làm nhiều nghề của giới trí thức, văn nghệ sỹ, như  giảng dạy, viết báo, viết kịch, vẽ đồ giả cổ…
Một thống kê khác cho thấy Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là nhà cách mạng đi nhiều nhất vào những năm đầu thế kỷ XX. Người đã từng đặt chân đến tất cả các các châu lục, đến các nước phát triển (đương thời), như Anh, Pháp, Mỹ, Đức, Nga… Theo một thống kê Người đã đến 37 quốc gia, trong đó có tới 25 nước Người đã đến trước khi nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời.
Để hoạt động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc phải hy sinh tuổi trẻ, đời tư, hoạt động bí mật. Năm 1929, tòa án Vinh đã tuyên án tử hình vắng mặt Người.
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lợi ích của dân tộc luôn luôn đặt trên hết. Người đã từng nói: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Tuy nhiên nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là ở chỗ toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị (Tổ chức Đảng, Chính quyền các cấp, Mặt trận, các đoàn thể…) không có mục đích tự thân mà đều nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân, đặc biệt là dựa trên tôn trọng và bảo đảm vai trò làm chủ của nhân dân mà Người thường nói là “lấy dân làm gốc”.
Nhân đây cần nói thêm rằng không có chuyện Hồ Chí Minh đặt “lợi ích của Đảng” của “ ý thức hệ” lên trên lợi ích của dân tộc, của nhân dân Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Không có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ XHCN”. Người còn nói: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”.
Bởi vậy có thể nói những kẻ xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng làm bộc lộ nhân cách xấu xa của họ mà thôi.
Bắc Hà