Có thực “bất thường” ở những kỳ họp Quốc hội bất thường? - Bài 1: Họp bất thường là việc bình thường

Thứ hai, 24/04/2023 - 20:21

LTS: Từ sau những kỳ họp bất thường chưa từng có tiền lệ trong lịch sử Quốc hội nước ta, cho đến nay, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị không ngừng bịa đặt hàng loạt thông tin nhằm bôi nhọ, phủ nhận vai trò của Quốc hội. Sự thật đằng sau những luận điệu vu khống ấy là gì? Câu trả lời sẽ được Báo Quân đội nhân dân Điện tử làm rõ trong loạt bài “Có thực “bất thường” ở những kỳ họp Quốc hội bất thường?”.

“Quốc hội họp bất thường là vi hiến, trái luật...” - Chắc rằng tác giả của những ngoa ngôn này không biết hoặc cố tình mị dân khi tung ra luận điệu trên, bởi trường hợp Quốc hội họp bất thường đã được quy định rõ trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Thành công của những kỳ họp Quốc hội bất thường vừa qua là sự phủ định đanh thép trước lời lẽ vu khống của các phần tử cơ hội.

Hợp hiến, hợp pháp, hợp lòng dân

Ngay trong kỳ họp bất thường đầu tiên của Quốc hội khóa XV, một số trang mạng hải ngoại viết tiếng Việt đã thêu dệt: “Quốc hội đánh úp đại biểu khi triệu tập họp bất thường để ép buộc nhấn nút đồng ý với những quyết nghị đã được định sẵn”. Chúng lộng ngôn rằng: “Quốc hội đang dắt mũi cử tri và nhân dân dưới vỏ bọc chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước”, rồi dùng tầm nhìn của “ếch ngồi đáy giếng” để quy kết Quốc hội họp bất thường là vi hiến, trái với luật của chính nước sở tại. Thật đáng nực cười thay cho những kẻ cố tình ném đá giấu tay khi đưa ra phán xét mà chẳng hề hay biết (hoặc cố tình không biết) về Hiến pháp, pháp luật Việt Nam.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo chúc mừng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, tại Kỳ họp bất thường lần thứ tư. Ảnh: quochoi.vn. 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo chúc mừng Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, tại Kỳ họp bất thường lần thứ tư. Ảnh: quochoi.vn. 

Trong Hiến pháp năm 2013, tại khoản 2 Điều 83 đã hiến định: “Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường”. Điều 90 Luật Tổ chức Quốc hội quy định: “Quốc hội họp thường lệ mỗi năm hai kỳ. Trường hợp Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu thì Quốc hội họp bất thường”. Rõ ràng, việc Quốc hội họp bất thường là việc bình thường và hoàn toàn hợp hiến, hợp pháp.

Tại cuộc họp báo về kỳ họp bất thường lần đầu tiên, đồng chí Bùi Văn Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, khẳng định: Theo quy định của pháp luật, Quốc hội có hai kỳ họp là họp thường kỳ và họp bất thường khi cần xem xét những vấn đề cần thiết, cấp bách. Cái tên bất thường ấy cũng gắn với yếu tố cấp bách, chứ không có nghĩa là thảm họa hay vấn đề gì ghê gớm. Quốc hội sẽ tiếp tục có những kỳ họp bất thường nếu như cuộc sống và thực tiễn phát triển đất nước yêu cầu.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu khai mạc Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Ảnh: quochoi.vn. 

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu khai mạc Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Ảnh: quochoi.vn. 

Xin thưa với những người thích đi chụp mũ, lèo lái dư luận, đổi trắng thay đen rằng, chẳng có việc “đánh úp” đại biểu bởi kỳ họp bất thường lần thứ nhất đã được lên kế hoạch, bàn thảo từ trước. Ngày 13-11-2021, kết thúc Kỳ họp thứ 2 Quốc hội  khóa XV, trước những vấn đề cấp bách đặt ra từ thực tiễn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ trình hồ sơ 5 nội dung để có cơ sở xem xét, đề xuất việc tổ chức kỳ họp bất thường của Quốc hội (dự kiến vào cuối tháng 12-2021).

Tại một số phiên họp sau đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã báo cáo về các phương án tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ nhất và được nhiều đại biểu cho ý kiến. Trong phiên họp ngày 10-12-2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất chủ trương có một kỳ họp bất thường, song các nội dung cần phải chuẩn bị kỹ lưỡng, tránh trường hợp vừa phê duyệt, sửa đổi song phát sinh bất cập. Chính bởi yêu cầu tất cả các cơ quan liên quan phải sát sao, công khai, vô tư, khách quan, minh bạch, không được để sơ suất nên Kỳ họp bất thường lần thứ nhất đã lùi đến đầu năm 2022.

Nối tiếp thành công của kỳ họp bất thường đầu tiên, 3 kỳ họp bất thường tiếp theo của Quốc hội để lại dấu ấn với những quyết nghị hệ trọng, đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi cấp bách của thực tiễn. "Nhiều dự án, nhiều vấn đề hay đề nghị của địa phương, doanh nghiệp rất cần tiến độ thời gian, mà nếu chúng ta chậm cho ý kiến có thể khiến dự án của họ mất đi cơ hội cạnh tranh. Do đó, chúng ta cần phải linh hoạt. Kỳ họp bất thường thể hiện sự đồng hành của Quốc hội cùng Chính phủ giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra", Tổng Thư ký, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Bùi Văn Cường nhấn mạnh.

Quốc hội khóa XV khai mạc trọng thể Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Ảnh: quochoi.vn 
Quốc hội khóa XV khai mạc trọng thể Kỳ họp bất thường lần thứ nhất. Ảnh: quochoi.vn 

Đông đảo đại biểu, cử tri, nhân dân cả nước bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ bởi trong điều kiện hiện nay, khi thực tiễn cuộc sống có những biến chuyển hết sức nhanh chóng thì việc tổ chức các kỳ họp bất thường là rất cần thiết để Quốc hội kịp thời giải quyết những vấn đề thuộc thẩm quyền. Đây cũng là việc cần làm để xây dựng một Quốc hội hoạt động chuyên nghiệp hơn, hiệu quả hơn, đáp ứng cao nhất yêu cầu phát triển của đất nước, đồng thời bám sát định hướng về đổi mới hoạt động của Quốc hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII.

Theo Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, kỳ họp bất thường là hoạt động bình thường, bởi khi thực tiễn cuộc sống yêu cầu thì những quyết sách cần phải nhanh chóng ra đời để bảo đảm sự phát triển của xã hội và đời sống của người dân. Sự bình thường của phiên họp bất thường cũng thể hiện trách nhiệm của Quốc hội, của các đại biểu Quốc hội với những vấn đề “nóng” của đất nước.

Rõ ràng, chẳng có gì bất thường ở một phiên họp mà tất cả cùng hướng đến mục đích vì sự phát triển của đất nước, vì sự no ấm và hạnh phúc của nhân dân!

Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước. Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực của Nhà nước ở địa phương... Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Những vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước trong phạm vi toàn quốc đều do Quốc hội quyết định.

Chủ tịch HỒ CHÍ MINH

Không để “bắc nước sôi chờ gạo người"

Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nhấn mạnh, Quốc hội sẽ không để xảy ra tình trạng “bắc nước sôi chờ gạo người”, không chờ các dự án luật được các cơ quan soạn thảo trình sang xong mới cho ý kiến, mà Quốc hội sẽ giữ vai trò chủ động dẫn dắt công tác lập pháp, vào cuộc từ sớm, từ xa, thậm chí “đặt hàng” cho các cơ quan Chính phủ trong việc hoàn thiện thể chế pháp luật. Bởi vậy, những kỳ họp bất thường vừa qua của Quốc hội đã thể hiện rõ sự chủ động, khẩn trương, tinh thần trách nhiệm trước những vấn đề cấp bách liên quan đến quốc kế dân sinh.

Kỳ họp bất thường đầu tiên của Quốc hội (từ ngày 4 đến 11-1-2022) diễn ra trong bối cảnh đất nước gặp những khó khăn, thách thức mới gay gắt hơn do dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, khó lường tại nhiều địa phương trong cả nước. Quốc hội họp bất thường để xem xét, quyết định một số vấn đề lớn, quan trọng, cấp bách về kinh tế, xã hội, tài chính, ngân sách để hỗ trợ cho chương trình phòng, chống dịch và phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội.

Các đại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) tại Kỳ họp bất thường lần thứ hai. Ảnh: quochoi.vn 
Các đại biểu Quốc hội ấn nút biểu quyết thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) tại Kỳ họp bất thường lần thứ hai. Ảnh: quochoi.vn 

Theo PGS, TS Lê Bộ Lĩnh, nguyên Phó tổng thư ký Quốc hội, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, đại dịch Covid-19 diễn ra là một cuộc khủng hoảng toàn cầu tác động đến tất cả các quốc gia, đặt các cơ quan, tổ chức, trong đó có các nghị viện phải thay đổi phương thức hoạt động như họp trực tuyến, bàn thảo và quyết định những vấn đề cấp bách, mới nảy sinh. Quốc hội Việt Nam không phải là ngoại lệ và cùng với Chính phủ, việc tổ chức Kỳ họp bất thường lần thứ nhất Quốc hội khóa XV là một sự chủ động, xuất phát từ chính vai trò của Quốc hội, từ đòi hỏi của cuộc sống, của cử tri và tình hình đất nước.

Như vậy, rất khác xa và trái ngược với luận điều mà những kẻ phản động thường rêu rao. Trước đây, chúng cho rằng Quốc hội chỉ ngồi trong nghị trường, bàn những điều rời xa thực tế và quyết nghị những việc đã được Trung ương “dắt mũi” theo lối biểu quyết hình thức. Thế nhưng, lần này Quốc hội tiến hành họp bất thường để thể hiện rõ tinh thần “nghị trường” gắn chặt với đời thường, thì những kẻ hiềm khích, chống phá lại trở mặt, lật lọng, suy diễn việc họp bất thường là cách làm dị thường, có vấn đề.

Rõ ràng, những vướng mắc, bất cập nảy sinh từ thực tế cuộc sống không thể chờ đợi quyết sách tại các kỳ họp mang tính định kỳ của Quốc hội. Hơi thở cuộc sống cần phải được kịp thời chuyển tải vào nghị trường để cấp bách cho ra đời những chính sách bắt kịp với bước chuyển của thời đại và từng giai đoạn cụ thể, bám sát với thực tiễn đất nước và từng cơ quan, đơn vị, địa phương.

Không khó để thấy rõ, trước khi họp bất thường, bằng nhiều kênh tiếp nhận thông tin từ cử tri và người dân khác nhau; nhất là việc các đại biểu Quốc hội trực tiếp chỉ đạo phòng, chống dịch, có mặt ở những điểm nóng, khu vực cách ly, chữa trị Covid-19 để lắng nghe ý kiến của cử tri và nhân dân. Lúc bấy giờ những vấn đề nóng bỏng nhất, cần kíp nhất và tâm tư, nguyện vọng của quần chúng được tổng hợp, phản ánh và đưa ra nghị sự với tinh thần tất cả vì sự an toàn, bình yên, hạnh phúc của nhân dân; bảo vệ lợi ích chính đáng và tính mạng, sức khỏe của nhân dân. Đây là thực tế sinh động, thuyết phục giúp phủ định tuyệt đối các luận điệu mà thế lịch thù địch cố tình ngụy tạo, suy diễn, bóp méo.

Tương tự, các kỳ họp bất thường tiếp theo của Quốc hội đã quyết nghị các chính sách hệ trọng, vừa có tính chiến lược phát triển lâu dài, vừa cấp bách giải quyết các vấn đề dân sinh trước mắt. Trước hết là kịp thời tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc, không chỉ trong việc thực hiện nhiệm vụ của năm 2023 mà còn của các năm tiếp theo, nhất là đối với vấn đề có tầm quan trọng, ảnh hưởng lớn như Quy hoạch tổng thể quốc gia, các vấn đề về thể chế, chính sách trong lĩnh vực y tế... 

Các đại biểu bỏ phiếu tại Kỳ họp bất thường lần thứ ba. Ảnh: quochoi.vn 

Các đại biểu bỏ phiếu tại Kỳ họp bất thường lần thứ ba. Ảnh: quochoi.vn 

Đặc biệt, công tác nhân sự thuộc thẩm quyền tại Kỳ họp bất thường thứ ba và thứ tư của Quốc hội nhận được sự quan tâm của nhân dân cả nước. Đây cũng chính là vấn đề mà các thế lực thù địch, cơ hội, phản động tập trung xuyên tạc, cố tình gieo rắc sự hoài nghi trong cử tri và người dân Việt Nam. Chúng tung tin thất thiệt rằng các kỳ họp bất thường của Quốc hội chỉ với mục đích “phế truất cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước theo kịch bản đã được vạch sẵn”. Thế nhưng, luận điệu ấy sớm bị đập tan trước sự tin tưởng, đồng tình ủng hộ của đông đảo cử tri, nhân dân khi công tác nhân sự được tiến hành thận trọng, thực hiện đúng chủ trương của Đảng, bảo đảm quy trình, thủ tục chặt chẽ theo quy định, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, công khai, minh bạch. Các đại biểu đã nghiên cứu, trao đổi dân chủ, thể hiện rõ chính kiến, sáng suốt lựa chọn người xứng đáng đảm nhận vị trí quan trọng của đất nước.

PGS, TS Đinh Xuân Thảo, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu lập pháp cho rằng, các kỳ họp bất thường của Quốc hội đưa ra những quyết định về công tác nhân sự là quyết sách lớn mang tầm quốc gia, có tầm ảnh hưởng lớn đến toàn xã hội. Nếu như Quốc hội không có những đột phá mới, việc kiện toàn nhân sự cấp cao không thể tiến hành nhanh chóng, những cơ hội mới, quan trọng của đất nước cũng có thể bị lỡ nhịp theo sự chậm trễ này.

Các kỳ họp bất thường cho thấy quyết tâm của Quốc hội khóa XV tiếp tục kế thừa và "gạn đục, khơi trong" để tìm kiếm dư địa hoạt động mới, thực sự đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn cuộc sống, thể hiện đúng tinh thần Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước CHXHCN Việt Nam; Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Đặc biệt, việc Quốc hội tổ chức kỳ họp bất thường đã khẳng định thông điệp về một Quốc hội luôn đổi mới, hành động quyết liệt vì lợi ích của nhân dân. 

Việc tổ chức thành công các kỳ họp bất thường thể hiện sự tích cực, chủ động, trách nhiệm cao của Quốc hội trước đòi hỏi của thực tiễn đất nước và mong muốn, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp, sự phối hợp chặt chẽ của Chính phủ và chuẩn bị kỹ lưỡng của các cơ quan Quốc hội trong tổ chức kỳ họp. Kết quả của các kỳ họp khẳng định Quốc hội và các cơ quan, tổ chức hữu quan thường xuyên lắng nghe ý kiến của cử tri và nhân dân, không ngừng nỗ lực, quyết tâm đổi mới, kiến tạo để phát triển nhằm kịp thời có những quyết sách quan trọng, giải quyết hiệu quả các vấn đề thực tiễn đặt ra.

Tinh thần và kết quả của Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV đã tạo ra những khí thế mới, thời cơ mới, cùng với các chính sách mới được ban hành, sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, sự vào cuộc của các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ, đồng lòng của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, chúng ta tin tưởng sẽ thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2022 và cả giai đoạn 2021-2025.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội VƯƠNG ĐÌNH HUỆ

NGUYỄN TẤN TUÂN - ĐÀO HỒNG THẠNH

(Còn nữa)

Tái diễn những luận điệu lạc lõng trong ngày hội thống nhất non sông

Thứ Hai, 24/04/2023, 07:23

Với mọi người Việt Nam, 30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại - ngày hội thống nhất non sông, Bắc Nam một dải. Đó là thắng lợi vẻ vang của toàn thể dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đánh bại những thế lực thực dân, đế quốc hùng mạnh.

Những luận điệu sai trái, lạc lõng

Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới rằng, dân tộc Việt Nam luôn có khát vọng thống nhất Tổ quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, đây là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với chính nghĩa trong tay làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại, khiến nhân loại phải kính phục mà sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu, quyết định sự phát triển và thắng lợi của cuộc kháng chiến.

Đại thắng mùa Xuân 1975 được ghi vào lịch sử dân tộc ta là một trong những trang sử chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Tuy nhiên, một số đối tượng xấu vẫn cố tình xuyên tạc, bóp méo bản chất cuộc kháng chiến và vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá.

Tái diễn những luận điệu lạc lõng trong ngày hội thống nhất non sông -0
Xe tăng Quân giải phóng húc đổ cổng Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975. Ảnh tư liệu

Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã sử dụng không gian mạng đẩy mạnh tấn công tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mỗi năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, các đài báo, trang mạng xã hội của các tổ chức, thế lực thù địch, phản động cố tình xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đại thắng mùa xuân 1975 của chúng ta là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh”; vu cáo đây là cuộc “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền Nam - Bắc, “không có kẻ thua, người thắng, chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”; cho rằng cuộc chiến tranh ở Việt Nam là “không cần thiết” và hoàn toàn “có thể tránh khỏi” …

Gần đây, trên một số trang mạng, website, blog cá nhân của các phần tử cơ hội chính trị phát tán nhiều tin, bài xuyên tạc lịch sử. Họ đưa ra luận điệu sai lệch, đòi “định danh lại ngày 30-4 cho phù hợp” vì không chấp nhận 30/4 là Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; cho rằng “không nên gọi ngày 30/4 là ngày giải phóng”; xuyên tạc “người Việt trẻ gọi 30/4 là một biến cố buồn”; nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam Việt Nam ngày nay phát triển không kém gì Hàn Quốc, vượt xa Thái Lan… Đây là những luận điệu lạc lõng và hoàn toàn sai trái, bịa đặt, đã phủ nhận sự thật lịch sử một cách trắng trợn.

Đại thắng mùa xuân 30/4/1975 là sự tôn vinh sức mạnh và niềm tự hào của mỗi người dân, của cả cộng đồng dân tộc Việt Nam. Những phần tử chống phá coi ngày 30/4 là ngày “quốc hận” - một cái nhìn sai lạc và xuyên tạc sự thật lịch sử, đi ngược lại tinh thần khoan dung, đồng thuận, đoàn kết của toàn dân ta; chính họ tự gieo rắc hận thù, chia rẽ, đi ngược với trào lưu lịch sử. Họ nuối tiếc chính quyền tay sai, phản động để gieo rắc ý thức “quốc hận” là đi ngược với dòng chảy lịch sử, phản lại chính đồng bào, dân tộc mình. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi dưỡng, kích động thù hằn, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, trực tiếp tiếp tay cho kẻ thù phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Ngoài ra, các đối tượng trên còn cố tình xuyên tạc chiến thắng 30/4/1975 và sự nghiệp kháng chiến của dân tộc ta ròng rã mấy thập kỷ, cho rằng đó là cái giá phải trả quá đắt, là một sai lầm, làm cho dân tộc đau thương, chậm phát triển. Từ đó, họ quy trách nhiệm cho Đảng ta và con đường mà Đảng và Bác Hồ lựa chọn. Đây là một nhận thức phi lịch sử, phủ nhận chiến thắng của nhân dân ta, đồng thời là phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH mà lịch sử đã lựa chọn. Cách nhìn ấy muốn đánh đồng người chiến thắng và kẻ thất bại, xóa nhòa mục đích, bản chất của sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Thậm chí, dưới danh nghĩa hòa hợp, hòa giải dân tộc, các đối tượng cơ hội chính trị, phản động, chống phá còn đưa ra luận điệu cho rằng chỉ khi nào Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ quyền lãnh đạo đất nước, chỉ khi nào Việt Nam lựa chọn đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có thể thực hiện việc hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Hài hước hơn, một số kẻ đánh lừa quần chúng bằng cách đưa ra lập luận phải coi việc xóa bỏ chế độ cộng sản là một “mệnh lệnh của lương tâm, là tương lai của dân tộc”. Thực tiễn, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn nhất quán chủ trương hòa hợp, hòa giải dân tộc; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc để xây dựng và phát triển đất nước. Tuy nhiên, hòa hợp, hòa giải dân tộc phải dựa trên sự tôn trọng lịch sử; bảo đảm lợi ích của quốc gia, dân tộc; xuất phát từ sự chân thành, thiện chí của tất cả các bên. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử. Với cuộc kháng chiến này, quân và dân Việt Nam chiến đấu chống kẻ thù xâm lược là đế quốc Mỹ và lực lượng ngụỵ quân, nguỵ quyền chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, không có chuyện “nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”.

Ngày 30/4/1975, miền Nam thoát khỏi ách thống trị của kẻ thù xâm lược của đế quốc Mỹ cùng với bè lũ tay sai và là sự kiện đánh dấu lãnh thổ đất nước Việt Nam được trả lại đúng nghĩa đã có trong lịch sử, đáp ứng nguyện vọng của cả dân tộc Việt Nam.

Ngày hội thống nhất non sông, gìn giữ giá trị trường tồn

Lịch sử hàng ngàn năm của đất nước ta đã chứng kiến nhiều thời kỳ phân tranh, cát cứ, chia cắt núi sông như: Loạn sứ quân chia đất nước thành 12 vùng ảnh hưởng khác nhau; chiến tranh Nam - Bắc giữa nhà Mạc và nhà Trịnh, nhà Lê, rồi tiếp đến là thời Trịnh, Nguyễn phân tranh, đất nước thành Đàng trong, Đàng ngoài. Chia cắt thời Tây Sơn, ở phía Nam gọi là Nam Hà, có thực lực và độc lập do nhà Tây Sơn nắm, còn ở phía Bắc, gọi là Bắc Hà. Đến chia cắt thời Pháp thuộc là chia cắt đô hộ, một nước bị chia ra làm ba miền, ba xứ, với ba hệ thống cai trị khác nhau, là Bắc Kỳ, Trung kỳ và Nam Kỳ.

Sau Hiệp định Giơnevơ được ký kết, cầu Hiền Lương, sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) của tỉnh Quảng Trị trở thành giới tuyến quân sự tạm thời phân chia nước ta thành 2 miền Nam - Bắc. Theo Hiệp định, sau 2 năm sẽ tiến hành tổng tuyển cử để thống nhất đất nước. Thế nhưng, với âm mưu chia cắt lâu dài nước ta, Mỹ đã cho quân xâm lược miền Nam và tìm mọi cách để đánh chiếm miền Bắc, buộc nhân dân ta phải sống, chiến đấu anh dũng suốt 21 năm ròng rã. Đến ngày 30/4/1975, sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước ta mới trọn niềm vui thống nhất, Bắc - Nam sum họp một nhà đúng như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Hơn hai mươi năm, dân tộc ta đã đi qua một cuộc trường chinh muôn vàn gian khổ, chồng chất cam go và mất mát, hy sinh để giải phóng đất nước, thống nhất non sông. Đấy là chân lý thời đại, là cái "dĩ bất biến" của một dân tộc yêu nước, yêu hòa bình, chứ không phải là ý niệm và hành động của kẻ hiếu chiến, kích hoạt xung đột. Một dân tộc lấy yêu thương làm cốt lõi tinh thần, lấy minh triết dân gian “Thương người như thể thương thân” để ứng xử là một dân tộc có văn hiến. Bản lĩnh dân tộc cũng sinh ra từ đấy. Và điều đó lý giải vì sao dân tộc Việt Nam đã từng chiến thắng những kẻ thù to lớn hơn mình.

Chiến thắng 30/4/1975 đã tích hợp được đầy đủ các ý nghĩa trọng đại nhất: khẳng định độc lập, tự do của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng; khẳng định sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, non sông liền một dải. Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, một chiến thắng quân sự lớn lao lại mở ra một ngày hội mới: Ngày hội thống nhất non sông.

Nhìn lại hành trình phát triển và mở mang đất nước, bờ cõi xứ sở của chúng ta đã mở rộng về phương Nam. Đất nước đã thành một dải kéo dài từ địa đầu Móng Cái tới đất mũi Cà Mau, rồi mở mang ra vùng biển, những Côn Đảo, Phú Quốc, Trường Sa, Hoàng Sa… Quá trình này đã định hình hình thể đất nước từ đầu thế kỷ 17 đến khoảng giữa thế kỷ 18 thì trọn vẹn như ngày hôm nay…

Ngày nay, đại thắng mùa xuân 30/4/1975 được coi là ngày hội thống nhất non sông không chỉ của người dân sinh sống tại Việt Nam mà còn là ngày hội của hàng triệu đồng bào ta đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Ngày hội thống nhất non sông mang ý nghĩa cao cả và có tầm vóc lớn gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc ta. Quá khứ được ghi ơn một cách trân trọng, sâu sắc và điều quan trọng hơn là lời nhắc nhở về tinh thần yêu quý hòa bình, hòa giải, hòa hợp và đoàn kết dân tộc.

Bình Nguyễn – Hạnh Nguyễn
    

Tư tưởng "một người làm quan..." đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm

Thứ năm, 20/04/2023 - 05:51

Lâu nay, ai cũng phê phán, bức xúc với những cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, vì như thế là thoái hóa biến chất, không xứng đáng là "công bộc” và “đầy tớ của nhân dân". Thế nhưng, ở chiều ngược lại, ít ai nhận ra có thể chính mình cũng vô tình góp phần "đẩy" những người thân quen là cán bộ, đảng viên trượt vào vi phạm, tham nhũng, lợi dụng chức quyền...

1. Chuyện thật như bịa là: Bạn tôi mới được bổ nhiệm làm phó vụ trưởng mà... không dám về thăm quê, bởi anh chưa về thì đã nhận được nhiều cuộc điện thoại nhờ vả và "xin tài trợ"(!) Nào là: "Dòng họ mình muốn lập quỹ khuyến học và sửa nhà thờ mà chỉ biết trông chờ vào cháu"; "Cổng làng đang xây thì thiếu tiền cháu ạ"; "Con trai bác đang công tác ở xa, nhờ cháu xin chuyển về gần nhà và cho nó ở vị trí có đồng ra đồng vào để gia đình đỡ vất vả"; "Anh tặng đội bóng đá của xã bộ quần áo và giày thi đấu nhé"; "Đồng chí ơi, cả huyện chỉ còn mỗi xã ta là chưa có bộ dụng cụ tập thể dục ngoài trời thôi. Các sếp trước đã ủng hộ xã nhiều rồi. Còn việc này thì nhờ đồng chí nhé" v.v..

Rồi không chỉ họ hàng, làng xã nhờ vả, mà cả các hội đồng ngũ, đồng niên, đồng khóa cũng chúc mừng "bạn lên sếp to" kèm lời gợi ý tổ chức "khao", ủng hộ quỹ, thậm chí còn "cho bọn tớ xin chuyến du lịch"...

Tư tưởng "một người làm quan..." đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm. Ảnh minh họa: thuvienphapluat.vn 
Tư tưởng "một người làm quan..." đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm. Ảnh minh họa: thuvienphapluat.vn 

Thấy tình hình quá gay, bạn tôi lần lữa chưa dám về quê thì bố mẹ gọi điện thoại, bảo: "Từ hôm đọc báo biết tin con lên chức, họ hàng và đại diện các tổ chức ở quê liên tục đến chúc mừng, hỏi thăm khi nào con về để nhờ giúp đỡ. Bố mẹ vừa mừng vừa lo. Con làm cán bộ to mà không giúp được gì thì anh em họ hàng và dân làng lại xì xào, chê trách đấy"...

2. Trong những chuyến công tác cơ sở, chúng tôi được nghe nhiều cán bộ, đảng viên kể về những nỗi niềm khó nói. Chuyện là, dù lương "ba cọc ba đồng", nhất là những người giữ chức danh không chuyên trách (như phó trưởng công an, phó chỉ huy trưởng quân sự, một số chủ tịch và phó chủ tịch các hội cấp xã, bí thư chi bộ và trưởng thôn...) chỉ được hưởng phụ cấp, thù lao từ vài trăm nghìn đồng đến khoảng 2 triệu đồng, thế nhưng cán bộ cơ sở thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, quen biết không chỉ khắp địa bàn mà cả trong ngành và liên ngành, thành ra họ phải đi rất nhiều đám hiếu, đám hỷ, thăm nom...

Nhiều đồng chí cán bộ xã đã thành thật bày tỏ: Lo nhất là thường xuyên được mời ăn cỗ. Người dân quý trọng cán bộ nên mời chào, đón tiếp rất nhiệt tình, chu đáo. Hơn nữa, đa số bà con ở quê đều nghĩ cán bộ, công chức thì điều kiện kinh tế tốt hơn, vì thế nếu mình mừng ở mức bình dân thì cũng ngại, có người lại xì xào “cán bộ gì mà keo kiệt”. Thế là đành... nghiến răng đi ăn cỗ! Có thể khẳng định, hầu hết cán bộ cơ sở đều trong cảnh lương, phụ cấp không đủ tiêu vào việc hiếu, việc hỷ và đi lại, thăm nom...

Phải chăng, không ít cán bộ, công chức, viên chức đã "tặc lưỡi làm liều" cũng một phần vì lẽ đó?

3. Thực tế có khá nhiều cán bộ khi được bầu hoặc bổ nhiệm giữ cương vị người đứng đầu cơ quan, đơn vị đã bị áp lực lớn vì phải tìm cách "lo cho đời sống của nhân viên được nâng lên", bởi trong con mắt của nhiều người thì: "Sếp tài giỏi chỗ nào không biết, nếu đời sống nhân viên không được cải thiện thì nghĩa là... sếp kém" (!)

Trong các cơ quan nhà nước, cán bộ, nhân viên được trả lương và phụ cấp là những khoản "cứng" do ngân sách bảo đảm. Còn các khoản "mềm" (như tiền ăn trưa; bồi dưỡng làm việc ngoài giờ; quà và thưởng dịp lễ, tết; đi tham quan, du lịch; chúc mừng sinh nhật; tổ chức các buổi gặp mặt; thăm hỏi khi ốm đau hay khi gia đình cán bộ, nhân viên có việc hiếu, việc hỷ...) thì lâu nay đã thành lệ: Các thủ trưởng phải lo cho anh em theo "quy định ngầm" là năm sau cao hơn năm trước, người kế nhiệm phải khấm khá hơn người tiền nhiệm! Sếp mà không làm được điều này thì thường bị chê bai, thậm chí còn bị... mất phiếu tín nhiệm (!)

Thế là, dù biết việc lập "quỹ đen", thu-chi không đúng quy định là vi phạm pháp luật, nhưng rất khó để bỏ "quy định ngầm", "luật bất thành văn" này. Không ít sếp còn nghĩ thêm các phương thức để cơ quan, đơn vị có "quỹ đen" dồi dào hơn nhằm lấy lòng tập thể.

4. Tư tưởng cổ hủ "một người làm quan, cả họ được nhờ" dường như ngày càng nặng nề, ngày càng nhức nhối, khiến không ít cán bộ vì sợ bị chê trách, thậm chí sợ họ hàng, dân làng, bạn bè tẩy chay, "cạch mặt" mà thành mắc lỗi, rơi vào vòng lao lý...

Thực tế đã có những cán bộ đang bí tiền ủng hộ dòng họ, quê hương thì doanh nghiệp hay nhân viên cấp dưới "xin được lo giúp". Thế rồi, tục ngữ có câu: "Há miệng mắc quai", "Ông mất chân giò, bà thò chai rượu". Sếp lại phải tìm cách dùng quyền lực của mình để ưu tiên, trả ơn những đối tượng giúp mình. Dần dà, sếp sa vào vi phạm pháp luật, kỷ luật!

Thực tế cũng không ít cán bộ, công chức, viên chức vì cần chi tiêu cho những khoản "bị nhờ vả" mà cáu gắt, hành dân, cố tình "gây khó để có phong bì"!

Hệ lụy thật nguy hiểm khi đa số quần chúng cứ "bắt" cán bộ phải có "nghĩa vụ, trách nhiệm" tăng thu nhập ngoài lương cho nhân viên, giúp đỡ người thân quen và quê hương, dòng họ... Điều đó dẫn đến những người có chức quyền coi việc kiếm nhiều tiền để thực hiện "trách nhiệm cán bộ" là bình thường, là đương nhiên phải thế! Thực tế này dẫn đến nhiều cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức khó giữ được liêm chính (nhất là khi người có chức quyền thường xuyên được nhiều đối tượng tìm cách tiếp cận để "chăm sóc", mua chuộc).

5. Muốn phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hệ thống chính trị thực sự hiệu quả, hạn chế cán bộ, đảng viên bị suy thoái, sa ngã thì cùng với việc làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục xây dựng phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, đặc biệt là ban hành các quy chế, quy định chặt chẽ để "nhốt quyền lực trong lồng cơ chế", thì việc không thể xem nhẹ là phải kiên quyết xóa tư tưởng “một người làm quan, cả họ được nhờ”, đấu tranh loại bỏ hành vi thể hiện sự thiếu văn hóa là “nhờ vả cán bộ” và “xin cán bộ tài trợ”. Tâm lý người Việt Nam thường sợ “lệ làng” hơn cả “phép vua”. Do đó, nếu người dân vẫn giữ thói quen ngợi khen, đánh giá cao những cán bộ tài trợ nhiều, lo cho nhân viên có thu nhập ngoài lương tốt (ngược lại là trách cứ, chê bai, thậm chí tìm cách để hạ bệ)... thì rất khó để cán bộ, đảng viên giữ được sự thanh liêm, trong sạch, chấp hành nghiêm kỷ cương phép nước. 

Kiên quyết phê phán, đấu tranh với những cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất, tham nhũng, vi phạm pháp luật là rất cần thiết để giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị. Tuy nhiên, “tiên trách kỷ, hậu trách nhân”-trước hết mỗi chúng ta cần tự nhìn lại mình, không “xin tài trợ", "nhờ giúp đỡ”, không trông chờ ỷ lại vào những người thân quen là cán bộ, đảng viên, tránh tạo áp lực cho họ phải lo nhiều thứ bất hợp lý, vì như thế chính là đẩy cán bộ vào sa ngã, vi phạm. Hậu quả không chỉ gây tổn hại cho đất nước, nhân dân mà trước hết là gây tai họa cho người thân, gia đình, dòng họ của mình. Đây cũng chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước ta.    

Kiểu "tận dụng người quen làm cán bộ để nhờ vả, trục lợi" là tư tưởng tiểu nông, thể hiện tầm văn hóa thấp, dẫn đến rất nhiều hệ lụy. Vì thế, toàn xã hội cần lên án, loại bỏ thói vị kỷ này. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải luôn biết lựa lời từ chối, nói "không" trước những lời nhờ vả, đòi hỏi vô lý, vượt quá khả năng và quyền hạn của mình để tránh vi phạm pháp luật.

HUY QUANG

Lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận

Thứ tư, 19/04/2023 - 08:02

Tòa án nhân dân TP Hà Nội vừa mở phiên xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng (sinh năm 1975; trú tại phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, TP Hà Nội) 6 năm tù và quản chế 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Bản án nghiêm minh này cũng là lời cảnh tỉnh cho những kẻ cố tình lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước.

Theo nội dung cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 13-6-2018 đến 31-12-2020, bị cáo Nguyễn Lân Thắng đã trực tiếp tham gia trả lời phỏng vấn các trang mạng, đăng tải lên internet nhiều video có nội dung tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong đó có 11 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; 8 nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; 4 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...

Ngoài ra, bị cáo Thắng còn tàng trữ 2 tài liệu dạng sách có 3 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc, 14 nội dung tuyên truyền thông tin bịa đặt, 12 nội dung xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...

Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 
Ảnh minh họa: tuyengiao.vn 

Theo Điều 117 Bộ luật Hình sự, người nào có một trong những hành vi sau nhằm chống Nhà nước sẽ bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, tán phát hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân hoặc có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây chiến tranh tâm lý.

Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng bị phạt tù 10-20 năm; người chuẩn bị phạm tội này bị phạt tù 1-5 năm. Căn cứ vào quy định trên, Tòa án nhân dân TP Hà Nội tuyên mức án với bị cáo Nguyễn Lân Thắng là phù hợp.

Theo thông tin từ cơ quan chức năng, Nguyễn Lân Thắng đã bị xử lý nhiều lần về các hành vi liên quan đến tuyên truyền bịa đặt, sai sự thật, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; từng bị tạm giữ vì có hành động phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam. Những tưởng sau khi bị xử lý theo quy định của pháp luật, Thắng sẽ ăn năn, hối cải, nhưng đối tượng này lại “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục có các hành vi chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình là: Thắng đòi giải tán Quốc hội vì không đáp ứng yêu cầu xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp; kêu gọi “phản đối Quốc hội thông qua sửa đổi Hiến pháp năm 1992”; lập fanpage “Hội những người không đồng ý Quốc hội thông qua bản Hiến pháp năm 1992 sửa đổi”... trên internet, đặc biệt là trên Facebook, Twitter...

Ngoài ra, Nguyễn Lân Thắng còn kích động, kêu gọi người dân không đi xem bắn pháo hoa; kêu gọi người dân phải dùng cái chết để đấu tranh như cách tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức; đối tượng còn cực đoan đến mức thù ghét bất cứ ai mặc áo có gắn cờ Việt Nam. Đặc biệt, Thắng nhiều lần xúc phạm lãnh tụ Hồ Chí Minh nhằm tạo sự chú ý của cộng đồng mạng. Vì hành vi này, nhiều lần Thắng đã bị người dân kéo đến tận nhà yêu cầu phải xin lỗi...

Để lôi kéo “con nhang đệ tử”, đồng thời tạo sự tác động lớn đối với dư luận, quá trình hoạt động chống phá, Nguyễn Lân Thắng luôn tìm cách “đánh bóng” bản thân để mọi người lầm tưởng mình là nhà báo tự do. Đi đâu Thắng cũng kè kè chiếc máy ảnh để sẵn sàng chớp những khoảnh khắc, hình ảnh phản cảm, tiêu cực, sau đó “thêm mắm thêm muối” nói xấu chế độ, quy chụp, phỉ báng chính quyền.

Cứ ở đâu có sự kiện "nóng", thu hút sự quan tâm của dư luận là Thắng có mặt, đưa tin tiêu cực, hô hào, kích động. Có khi, do thiếu “sự vụ”, Nguyễn Lân Thắng sẵn sàng áp dụng chiêu thức “Chí Phèo”, liều lĩnh xông vào cơ quan chức năng để chụp hình, tán phát thông tin sai lệch, nói xấu lực lượng vũ trang, điển hình như vụ vu khống Công an trại Lộc Hà đánh người...

Qua những vụ việc đó, “hư danh” của Thắng càng nổi, tạo được sự quan tâm, chú ý của các đối tượng, trang mạng chống đối, “lề trái”. Được đà, Thắng càng ảo tưởng mình là “vĩ nhân”, nhiều lần trả lời các đài, báo để huênh hoang “phán” về cái gọi là "sự nghiệp đấu tranh dân chủ, nhân quyền"... Chứng kiến các hành vi vi phạm pháp luật của Nguyễn Lân Thắng, không ít người dân yêu nước mong muốn cơ quan chức năng phải xử lý nghiêm minh đối tượng này để răn đe, cảnh tỉnh cho những kẻ đang có hành vi tương tự, từ đó dọn bớt những thông tin “rác” trên mạng xã hội.

Như vậy, xâu chuỗi các hoạt động của Nguyễn Lân Thắng, có thể khẳng định đây là đối tượng chống phá Nhà nước có chủ đích, trong thời gian dài, với biểu hiện ngày càng ngang nhiên, quyết liệt, không có sự ăn năn, hối cải.

Chính vì vậy, việc Tòa án nhân dân TP Hà Nội tổ chức xét xử, tuyên phạt mức án nghiêm minh đối với Nguyễn Lân Thắng là hết sức cần thiết. Qua đó thể hiện thông điệp hết sức rõ ràng: Phản biện xã hội để đất nước tốt đẹp, văn minh hơn là cần thiết, đáng trân trọng. Song, nếu xúc phạm, bôi nhọ, xuyên tạc, chống phá Nhà nước thì rõ ràng vi phạm pháp luật, không thể dung tha. Mong rằng, sau phiên tòa xét xử bị cáo Nguyễn Lân Thắng, những đối tượng đang chống phá Nhà nước sẽ tỉnh ngộ, không lợi dụng tự do ngôn luận để làm điều sai trái.

LÊ MINH CẢNH

Phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam

Thứ hai, 17/04/2023 - 05:40

Một trong những âm mưu, thủ đoạn chống phá dai dẳng của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam là xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành quả của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận cho công dân.

Ý đồ này không ngoài mục đích hạ thấp sứ mệnh của báo chí cách mạng, phủ nhận khuynh hướng tính chính trị của báo chí cách mạng phục vụ nhân dân, phục vụ đất nước và sâu xa hơn, hòng làm thay đổi thể chế chính trị-xã hội ở Việt Nam.

Những luận điệu “nhai đi nhai lại” rất xảo trá, thâm độc

Thời gian qua, các thế lực thù địch và một số cơ quan báo chí truyền thông phương Tây, các phần tử thiếu thiện chí, bất mãn chính trị đã lợi dụng không gian mạng để xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điểm được “nhai đi nhai lại” nhiều lần là quy kết, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí thông qua cái gọi là “Bảng xếp hạng chỉ số tự do báo chí thường niên”, xếp báo chí Việt Nam luôn ở vị trí áp chót bảng. Bên cạnh đó, họ xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam “quản” báo chí theo chế độ “đăng ký”, “bị kiểm duyệt”, “hà khắc”... Từ việc xuyên tạc sự nghiệp lãnh đạo, quản lý đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về báo chí, nhiều tổ chức và trang mạng xã hội phản động kêu gọi thay đổi thể chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi chính sách với những luận điệu xảo trá như: “Thể chế hiện nay không tạo môi trường để thay đổi báo chí được, mà phải thay đổi thể chế sâu rộng”; “Nhà nước phải cho phép báo chí tư nhân hoạt động”. Không những vậy, một số cơ quan truyền thông phương Tây thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFI, RFA, VOA... và các hội nhóm, các cá nhân phản động trên YouTube, Facebook mỗi khi có sự kiện, vụ việc cụ thể liên quan đến báo chí lại la lối, suy diễn, xuyên tạc tình hình trong nước. Với sự cổ xúy, giúp sức của các tổ chức thù địch, một số đối tượng phản động trong nước tự đứng ra thành lập các hội nhóm phi pháp nhằm cổ xúy cho cái gọi là “tự do báo chí”, “xã hội dân sự” theo mưu đồ của chúng nhằm đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có thể khẳng định, thông tin sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí như những mũi kim tiêm tẩm độc xuyên vào nhận thức, thái độ, làm thay đổi thế giới quan, nhân sinh quan của nhiều người. Một bộ phận người dân hoài nghi, bi quan về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng nói chung và sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí nói riêng. Những thông tin sai lệch, xuyên tạc có thể làm chia rẽ, ly gián lòng người, làm phân tâm trong các giai tầng xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc...

Nguy hại hơn, các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí Việt Nam còn tạo ra cái nhìn thiên lệch, thiếu thiện cảm của cộng đồng quốc tế về Việt Nam; thậm chí có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các quốc gia về vấn đề nhân quyền và trình độ phát triển xã hội Việt Nam.

Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 
Ảnh minh họa / tuyengiao.vn 

Một Việt Nam với quyền tự do báo chí rộng mở

Những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho báo chí Việt Nam phát triển. Cùng với đó, sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước là hiện thực sinh động cho báo chí Việt Nam phát triển lớn mạnh cả về quy mô, tổ chức, lực lượng, phương tiện, công nghệ làm báo và sức ảnh hưởng, lan tỏa trong xã hội.

Về phương diện chính trị, pháp lý, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Báo chí vừa là tiếng nói của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể, vừa là diễn đàn của nhân dân”; “xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại; thực hiện tốt quy hoạch, phát triển hệ thống báo chí, truyền thông”. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 hiến định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Theo Luật Báo chí 2016, công dân được tham gia vào các quy trình sáng tạo, sản xuất sản phẩm báo chí, tiếp nhận báo chí, ngôn luận trên báo chí theo quy định (Điều 11). Các cơ quan báo chí có trách nhiệm bảo đảm công dân thực hiện quyền tự do báo chí theo quy định (Điều 12). Về phần mình, cơ quan báo chí và nhà báo được hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ, không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng (Điều 13); được tạo mọi điều kiện tốt nhất để hoạt động nghề nghiệp. Không ai có quyền cản trở nhà báo khai thác và thể hiện thông tin theo đúng quy định của pháp luật (Điều 25).

Tất nhiên, cũng như ở mọi lĩnh vực, mọi quốc gia, tự do báo chí phải trong khuôn khổ chứ không phải là thứ tự do vô giới hạn, vô chính phủ, đứng ngoài pháp luật. Luật Báo chí 2016 quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân” (Điều 13). Trách nhiệm của nhà báo và công dân trong thực hành tự do báo chí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mọi tổ chức, cá nhân, góp phần xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh (Điều 9).

Thực tiễn đã chứng minh, báo chí cách mạng Việt Nam ngày càng lớn mạnh, quyền tự do báo chí được bảo đảm. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có gần 41.000 người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí, với 18.000 người được cấp thẻ nhà báo. Các cơ quan, đoàn thể ở Trung ương và các địa phương có báo hoặc tạp chí; mọi giai cấp, tầng lớp, thành phần xã hội, các tổ chức xã hội-nghề nghiệp... đều có tờ báo, tạp chí chuyên biệt dành cho họ. Nhiều tờ báo đã chuyển đổi thành cơ quan báo chí đa phương tiện, đa loại hình, hiện diện trên môi trường internet. Các loại hình báo chí di động, báo chí mạng xã hội, báo chí trí tuệ nhân tạo... xuất hiện, thỏa mãn nhu cầu tiếp nhận đa giác quan (nghe-nhìn-đọc) ở mọi lúc, mọi nơi của công chúng. Đồng thời, các hình thức tương tác với công chúng được mở rộng. Mô hình truyền thông hai chiều tạo cơ hội để công chúng được bày tỏ chính kiến, quan điểm, nguyện vọng trước mọi vấn đề, sự việc đang diễn ra trong đời sống xã hội; được tham gia vào tiến trình giải quyết các vấn đề mà xã hội đang đặt ra như: Vấn đề bảo vệ môi trường; bảo vệ quyền trẻ em, quyền phụ nữ; chống biến đổi khí hậu; chống tham nhũng, tiêu cực xã hội...

Bên cạnh đó, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực báo chí phát triển. Hiện nay đã có gần 40 hãng truyền thông quốc tế có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)... Các cơ quan truyền thông quốc tế như: CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều đến được với công chúng Việt Nam dễ dàng, thuận tiện mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp. Nhiều nhà báo Việt Nam được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Với cơ sở chính trị, pháp lý đã khẳng định và thực tiễn đã chứng minh quyền tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bảo đảm. Điều này có ý nghĩa bác bỏ, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch về bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam.

Nhà báo và cơ quan báo chí trong cuộc chiến đẩy lùi thông tin xấu độc, thù địch

Những năm qua, nhiều tờ báo, đặc biệt là các tờ báo thuộc hệ thống báo Đảng, các cơ quan báo chí lớn như: Nhân Dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, Tạp chí Cộng sản, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, nhiều báo Đảng địa phương, nhiều tạp chí khoa học đã đăng tải những bài viết phản ánh, phân tích, vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, chế độ cũng như chống phá nền báo chí cách mạng của các thế lực thù địch. Nhiều báo đã mở các chuyên trang, chuyên mục: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới”, “Nhận diện sự thật”... lồng ghép đăng tải các bài viết khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Nhiều bài báo đã mở chuyên mục kiểm chứng thông tin để đăng tải sự thật về các sự việc, sự kiện, vấn đề bị các thế lực thù địch xuyên tạc để người dân không hoang mang, dao động.

Thời gian tới, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, xuyên tạc tự do báo chí ở Việt Nam với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Vì vậy, việc nhận diện, phản bác, đấu tranh chống thông tin sai lệch, xuyên tạc về tự do báo chí đòi hỏi nhà báo-với tư cách chủ thể thực thi trách nhiệm đưa tin, khởi tạo, định hướng dư luận tại cơ quan ngôn luận của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân-phải nhập cuộc tích cực hơn để nhận diện sự thật, lẽ phải, kịp thời và kiên quyết phản bác mạnh mẽ, đập tan âm mưu của các thế lực thù địch, phản động, bất mãn chính trị.

Tự do báo chí ở Việt Nam là thực tiễn không thể phủ nhận, xuyên tạc. Việc bảo đảm tự do báo chí, tự do ngôn luận cũng là một trong những mục tiêu xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam; là đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng ở mọi kỳ, được bảo đảm bằng hệ thống Hiến pháp, pháp luật và được nhân dân đồng lòng ủng hộ. Với thực tế đó, nhà báo có đầy đủ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn để đấu tranh hiệu quả chống luận điệu xuyên tạc về vấn đề tự do báo chí trên không gian mạng. Vì vậy, nhà báo phải mài sắc ngòi bút thành “vũ khí” sắc bén để đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với những quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề tự do báo chí.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ”. Muốn phản bác hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, nhà báo cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn thể hiện khát khao bảo vệ lẽ phải, chính nghĩa bằng một tinh thần nhiệt huyết, một trí tuệ, tài năng được hun đúc, rèn giũa bền bỉ. Theo lời Bác Hồ dạy, nhà báo cần “nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ”; “cố gắng trau dồi tư tưởng, nghiệp vụ và văn hóa”; “đi sâu vào quần chúng”. Nhà báo cần nắm vững chủ trương, chính sách để tuyên truyền trúng và có sức thuyết phục, để vững vàng là người chiến sĩ tiên phong trên mặt trận tư tưởng-văn hóa của Đảng. Đối với mỗi nhà báo, văn hóa tốt đem lại đạo đức tốt, tri thức rộng, sâu; nghiệp vụ vững để sáng tạo tác phẩm báo chí hay, hấp dẫn.

Có thể khẳng định rằng, việc các cơ quan báo chí và đội ngũ nhà báo tham gia đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch về tự do báo chí ở Việt Nam vừa là trách nhiệm chính trị vừa là đạo đức, văn hóa nghề nghiệp nhằm góp phần cùng cả hệ thống chính trị bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời bảo vệ những giá trị, thành quả tốt đẹp của nền báo chí cách mạng Việt Nam đã được vun đắp, xây dựng gần một thế kỷ qua.

PGS, TS TRƯƠNG THỊ KIÊN, Học viện Báo chí và Tuyên truyền