Sức mạnh nội sinh phòng, chống "xâm lăng văn hóa" (bài 2)

(Chính trị) - Trên thị trường văn hóa đang phát tán, trôi nổi nhiều sách, báo, tranh, ảnh, phim, băng đĩa… có nội dung lai căng, độc hại, đồi trụy.
Bài 2: “Gió lành” chưa thổi bạt “gió độc”
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Trưởng phòng Tổng hợp và Phối hợp liên ngành (Cục quản lý thị trường- Bộ Công Thương), các văn hóa phẩm độc hại thường đi theo hai đường chính: Từ bên ngoài “tuồn” vào trong nước và phát sinh, phát tán ngay trong nội địa.
Đại tá Vũ Thành Trung, Phó trưởng phòng Tham mưu tổng hợp (Cục Trinh sát – Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng) cho biết: Trong 3 năm qua (2011-2013), các lực lượng chức năng của Bộ đội Biên phòng đã phát hiện, thu giữ 13.111 cuốn sách, 4.955 tài liệu, 5.174 VCD có nội dung độc hại, phản động. Bên cạnh việc nhập lậu trái phép các văn hóa phẩm độc hại, một số người lợi dụng danh nghĩa đi du lịch, tham quan, thăm thân để vận chuyển văn hóa phẩm có nội dung xấu vào nước ta. Tinh vi hơn, họ cất giấu trong các thiết bị, ổ nhớ (USB, các loại đĩa DVD, VCD, CD Rom…) rồi cho vào trong lõi của những loại hàng hóa được phép nhập cảnh để dễ bề “qua mắt” các lực lượng chức năng của ta.
Từ đầu năm 2010 đến giữa tháng 3-2014, thông qua quy trình làm thủ tục hải quan, tiến hành kiểm tra hàng hóa, hành lý và phương tiện vận tải tại các tuyến hàng không, bưu điện quốc tế, tuyến biên giới đường bộ, cảng biển, cảng sông quốc tế, lực lượng hải quan cả nước đã phát hiện, thu giữ hơn 3.100 tài liệu có nội dung tuyên truyền chống phá Nhà nước, văn hóa phẩm độc hại, bản đồ vi phạm chủ quyền Việt Nam từ nước ngoài nhập khẩu trái phép vào Việt Nam. Theo nhận định của ông Nguyễn Phi Hùng, Cục trưởng Cục Điều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan – Bộ Tài chính), số lượng các tài liệu có nội dung xấu, văn hóa phẩm độc hại mà ngành Hải quan phát hiện, bắt giữ trong mấy năm qua có xu hướng gia tăng. Điều đó cho thấy tình hình vận chuyển trái phép các tài liệu, văn hóa phẩm độc hại vào Việt Nam diễn biến rất phức tạp.
Trong nội địa, từ năm 2011-2013, lực lượng quản lý thị trường cả nước đã phát hiện, thu giữ, xử lý, tiêu hủy hơn 207.000 băng, đĩa lậu có nội dung không lành mạnh, phản văn hóa và 245.300 đồ chơi nguy hại.
Một bộ phận giới trẻ Việt đã thần tượng hóa một số ngôi sao ca nhạc nước ngoài quá mức. Ảnh: P.V
Một bộ phận giới trẻ Việt đã thần tượng hóa một số ngôi sao ca nhạc nước ngoài quá mức. Ảnh: P.V
Theo ông Phạm Xuân Phúc, Phó chánh Thanh tra Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, văn hóa phẩm có nội dung độc hại đã gây tò mò, thu hút, lôi cuốn một bộ phận không nhỏ người dân, nhất là giới trẻ. Nhiều người trẻ đã bị tác động xấu vào suy nghĩ, lối sống… mà không hề hay biết.
Góp phần làm vẩn đục thêm môi trường văn hóa, còn có một số cơ quan báo chí đang chạy theo xu hướng “lá cải hóa”. Theo khảo sát của chương trình “Chuyện đương thời” trên VTV gần đây, 40% ý kiến người dân được hỏi cho rằng, khi truyền thông liên tục đăng tải các vụ án nghiêm trọng như Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa tức là “đang vô tình hướng dẫn cách giết người tàn bạo, man rợ”. Hậu quả kéo theo là rất nhiều vụ thảm án xảy ra, đối tượng trẻ hóa ngày càng nhiều. Thậm chí trên một số trang mạng xã hội còn xuất hiện “Hội những người phát cuồng vì Lê Văn Luyện”(!).
Theo thống kê của Cục Cảnh sát hình sự (Bộ Công an), trong 15 năm qua (1998-2013), cả nước có hơn 200.000 trẻ em (dưới 18 tuổi) vi phạm pháp luật, bình quân mỗi năm có trên 13.300 trẻ em phạm pháp, nghĩa là trung bình mỗi ngày có 36 trẻ em phạm tội. Sự gia tăng tội phạm trong giới trẻ có nhiều nguyên nhân, nhưng theo các nhà tâm lý học, có một nguyên nhân bắt nguồn từ chính hậu họa của rất nhiều sản phẩm văn hóa độc hại như đồ chơi bạo lực, trò chơi game online chỉ toàn “đánh, đấm”, khiêu dâm và phim ảnh đầy cảnh máu me, đồi trụy…
Du nhập văn hóa thiếu chọn lọc
Thời gian qua, dư luận không khỏi băn khoăn, lo lắng về tình trạng nhiều hoạt động văn hóa, nhiều sân chơi giải trí bị “Tây hóa”, rất xa lạ với truyền thống văn hóa dân tộc. “Đình đám” nhất là cách đây 3 năm, một lễ hội hôn tập thể ở Hải Phòng được quảng cáo rầm rộ và định tổ chức phô trương, nhưng sau khi công luận lên tiếng buộc cơ quan quản lý văn hóa địa phương phải dẹp bỏ vì nó trái với thuần phong mỹ tục của người Việt. Việc cấp phép cho “nở rộ” các vũ trường, tụ điểm karaoke ở khắp các địa phương, dù có thể tạo ra một “luồng gió mới” trong đời sống văn hóa giới trẻ như ai đó từng nói, nhưng đã có rất nhiều vụ “ngáo đá”, “thuốc lắc” sử dụng trong vũ trường, hàng trăm vụ mại dâm trá hình ở các tụ điểm karaoke bị triệt phá, đã nói lên hệ lụy phức tạp của những cơ sở văn hóa nhạy cảm này. Theo thống kê của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch, đến nay cả nước có 57 vũ trường, gần 14.200 điểm karaoke. Qua kiểm tra, từ năm 2010-2013, thanh tra bộ này đã phát hiện, xử phạt 55 lượt vũ trường và 1.371 điểm karaoke vì đã vi phạm trong hoạt động kinh doanh văn hóa.
Sự du nhập ồ ạt, tràn lan nhiều trò chơi trực tuyến, nhiều bộ phim, nhiều dòng nhạc ngoại vào nước ta là một trong những lý do chủ yếu làm cho một bộ phận người trẻ bị mắc những căn bệnh mà các nhà tâm lý học gọi là “tâm thần mới” như “nghiện game online”, “nghiện phim sex”, “phát cuồng thần tượng”, “nô lệ của thế giới ảo”… Cũng do sùng ngoại một cách thái quá, một số bộ phim mà dư luận gọi là phim “thảm họa” vừa ra đời đã vội “chết yểu” bởi nội dung thiếu lành mạnh, lai căng, dễ làm “vẩn đục” tâm hồn công chúng. Năm 2013, Hội đồng duyệt phim quốc gia đã kiên quyết cấm phổ biến hai phim nhựa “Gái ngoan nổi loạn” và “Bụi đời Chợ Lớn” đã phần nào nói lên điều đó.
Không những vậy, nhiều khung “giờ vàng” trên truyền hình ở nước ta thời gian qua cũng bị lấn át bởi các phim ngoại. Theo Nghị định 54/2010/NĐ-CP của Chính phủ, thời lượng phát sóng phim Việt Nam trên mỗi đài truyền hình phải bảo đảm tối thiểu 30% tổng thời lượng phát sóng. Nhưng thực tế hiện nay, chỉ có 3 cơ quan là Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh và Truyền hình Bình Dương bảo đảm định mức này; còn lại 60 đài truyền hình tỉnh, thành phố trong cả nước vẫn để phim ngoại lấn lướt phim nội.
Theo thống kê của Cục Điện ảnh, 4 năm qua (2010-2013), Việt Nam sản xuất được 124 phim truyện nhựa và phim video. Trong khi tổng số phát hành trên thị trường là 847 phim. Như vậy, số phim của Việt Nam chỉ chiếm gần 15% thị phần, còn lại hơn 85% thị phần là chiếu phim nước ngoài.
Không riêng nền công nghiệp điện ảnh non yếu, ngành công nghiệp văn hóa nước ta cũng còn ở giai đoạn sơ khai, sản phẩm xuất khẩu nghèo nàn. Số liệu sau đây khiến chúng ta không thể không suy nghĩ một cách nghiêm túc. Trong 4 năm (2010-2013), nước ta mới xuất khẩu được 362.000 đơn vị văn hóa phẩm, nhưng đã phải nhập khẩu 3.640.000 đơn vị văn hóa phẩm (gấp hơn 10 lần số lượng xuất khẩu). Đây là một tỷ lệ rất chênh lệch, thể hiện nền công nghiệp văn hóa của nước ta bị lép vế, yếu thế trong thế giới hội nhập hiện nay.
PGS.TS Lương Hồng Quang, Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Văn hóa nghệ thuật quốc gia Việt Nam (Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch) cho rằng: Một nền văn hóa mà “nhập siêu” quá lớn thì nguy cơ văn hóa ngoại lai “lên ngôi” cũng không có gì khó hiểu. Đây là vấn đề rất hệ trọng, liên quan đến vị thế văn hóa, diện mạo quốc gia của nước ta trên trường quốc tế. Nếu không sớm có chính sách xây dựng nền công nghiệp văn hóa đủ mạnh để cân bằng cán cân xuất – nhập khẩu văn hóa phẩm, thì nguy cơ các “làn sóng văn hóa” ngoại quốc tiếp tục xâm lấn ngày càng sâu vào nước ta sẽ có thể dẫn tới những hệ lụy khôn lường.
THIỆN VĂN

Bài 1: Nhận diện “cuộc chiến mềm”

QĐND - Văn hóa là gốc rễ, là cội nguồn bồi đắp, làm nên sức mạnh nội sinh của dân tộc. Để làm mọt ruỗng, suy yếu sức mạnh nội sinh, các thế lực thù địch vừa âm thầm, vừa ráo riết thực hiện nhiều hoạt động “xâm lăng văn hóa” với những thủ đoạn xâm nhập, chuyển hóa vô cùng tinh vi, nham hiểm.
 “Đế quốc thông tin” trong thế giới phẳng
Thực hiện phương châm “Đầu tư 1 USD cho mặt trận tư tưởng - văn hóa hiệu quả hơn đầu tư 10 USD cho mặt trận quân sự”, những năm qua, các cơ quan truyền thông phương Tây đã tiêu tốn hàng triệu USD vào việc xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị, phương tiện kỹ thuật và đào tạo nhân lực để hình thành “đế quốc thông tin” chĩa thẳng vào Việt Nam hòng làm chuyển biến hệ tư tưởng, thay đổi hệ giá trị văn hóa, đảo lộn những chuẩn mực đạo đức xã hội ở nước ta, trong đó họ lấy thế hệ trẻ làm “trọng tâm”, coi trí thức và văn nghệ sĩ (nhất là những người có quan điểm phức tạp, cực đoan) làm “trọng điểm”, xác định một số cán bộ (cả hưu trí và đương chức) có quan điểm đa chiều làm “mũi nhọn”.
Nhiều thanh, thiếu niên ngày càng bị lôi cuốn vào các trò chơi bạo lực và những sản phẩm văn hóa độc hại từ internet. Ảnh: P.V
Theo cơ quan chức năng, đến nay đã có 62 đài phát thanh của nước ngoài có chương trình tiếng Việt, 390 báo, tạp chí, 88 nhà xuất bản và 397 website, trang mạng xã hội có máy chủ ở nước ngoài thường xuyên cung cấp, đăng tải thông tin chống phá Việt Nam. Riêng năm 2013 đã có 475 trang mạng đăng tải hàng nghìn bài viết có nội dung xuyên tạc, nói xấu chế độ, bôi đen hình ảnh đất nước; 250 website, blog, diễn đàn đăng tải các bài viết chống phá quyết liệt việc sửa đổi Hiến pháp 1992; 245 trang web, blog có nội dung phản động. Đấy là chưa kể gần 58.000 tài liệu thuộc diện “chiến tranh tâm lý” mà các lực lượng an ninh của ta đã phát hiện, thu thập được trong năm 2013 (tăng hơn 5.200 tài liệu so với năm 2012), trong đó có hơn 7.100 tài liệu phản động.
Đại diện Phòng An ninh thông tin (Cục A87, Bộ Công an) cho biết: Một trong những thủ đoạn tinh vi, thâm độc mà các thế lực thù địch tiến hành thời gian gần đây là triệt để lợi dụng internet, thư điện tử, tin nhắn SMS… để chuyển tải thông tin trái chiều vào một số cán bộ cao cấp nhằm gây nhiễu thông tin, gây mất đoàn kết nội bộ, nhất là vào những thời điểm nhạy cảm như lựa chọn, bầu cử nhân sự. Đáng nói hơn, đến nay đã phát hiện được gần 400 website, blog mạo danh các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Tỉnh ủy và cán bộ cao cấp của các ban, bộ, ngành, cơ quan, đoàn thể Trung ương. Trong số đó, đã phát hiện được hơn 130 bài viết, clip, video có nội dung xấu. Những hình ảnh, bài viết này nếu không được ngăn chặn, xử lý kịp thời, triệt để sẽ bị phát tán cực nhanh, gây ra mối hoài nghi lớn trong nhân dân, làm xã hội phân tâm tư tưởng, ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.
“Internet hóa” hoạt động xuất bản
Có nhiều cách truyền bá thông tin độc hại, trong đó việc tổ chức xuất bản, phát tán các cuốn sách, tài liệu, tác phẩm văn học nghệ thuật có nội dung xấu trên mạng internet. Các thế lực thù địch coi là một cách thâm nhập “chi phí thấp” mà vẫn có thể đạt được “hiệu quả tối đa”.
Mấy năm gần đây, xu hướng “internet hóa” hoạt động xuất bản ngày càng gia tăng với quy mô không ngừng mở rộng. Theo ông Chu Văn Hòa, Cục trưởng Cục Xuất bản, In và Phát hành (Bộ Thông tin và Truyền thông), nếu như trước đây, các thế lực bên ngoài xuất bản những ấn phẩm có nội dung phản động, đồi trụy, độc hại rồi thông qua con đường nhập lậu (đường biên, cửa khẩu, hải cảng, hàng không) để tuồn vào nước ta, thì gần đây, phương thức truyền thống này có chiều hướng giảm. Thay vào đó là phương thức “internet hóa” hoạt động xuất bản với tính chất tinh vi hơn, tác hại cũng ghê gớm hơn.
Hiện tại, trên mạng internet đã xuất hiện một số “nhà xuất bản ảo” chuyên đăng tải những ẩn phẩm có nội dung phức tạp, nhạy cảm, thực hư lẫn lộn nhằm “tung hỏa mù”, gây nhiễu thông tin dư luận. Chỉ cần thông qua những cái tên của các nhà xuất bản ảo như “Tùy tiện”, “Vỉa hè”, “Giấy vụn”, “Gió”, “Cửa”, “Phía chúng ta”… cũng thấy phần nào ý đồ của họ. Trước đây, nếu một cuốn sách xuất bản bằng giấy thì “tốc độ” đến tay người đọc chậm hơn. Nhưng hiện nay, nếu sách được tung lên mạng thì chỉ cần một “cú nhấp chuột”, có thể có sách trong tay. Nội dung sách càng nhạy cảm, phức tạp, càng gây tò mò cho độc giả, nhất là giới trẻ. Những ai không có bản lĩnh, nhận thức chính trị non kém, không đủ trình độ phân biệt đúng - sai, tốt - xấu, thật - giả, phải - trái… sẽ dễ bị “nhiễm độc” tư tưởng, trái tim. Sự nguy hại của thủ đoạn tăng tốc “internet hóa” hoạt động xuất bản chính là ở chỗ này.
Không dừng lại ở đó, các thế lực bên ngoài còn lợi dụng con đường hợp tác xuất bản như thông qua học tập, hội thảo, đầu tư, liên kết để móc nối, lôi kéo, mua chuộc, chuyển hóa một bộ phận cán bộ, biên tập viên (nhất là số người có tư tưởng cơ hội, thực dụng) nhằm “phi chính trị hóa” hoạt động xuất bản. Năm 2013, cơ quan an ninh của ta đã phát hiện một tổ chức hải ngoại tài trợ 12.000USD cho một biên tập viên dưới “danh nghĩa cộng tác viên” của một nhà xuất bản lớn ở nước ta nhằm mục đích viết bài, xuất bản ấn phẩm với dụng ý xấu. Ngoài ra, một số cơ quan báo chí của người Việt lưu vong ở hải ngoại còn hỗ trợ kinh phí cho những kẻ cơ hội, bất mãn xuất bản những cuốn sách phản động. Ở trong nước, một số trí thức, văn nghệ sĩ có quan điểm phức tạp, cực đoan đã tập hợp tài liệu hoặc tự sáng tác, truyền bá những tác phẩm thiếu lành mạnh, thậm chí cấu kết với các đối tượng phản động bên ngoài để liên kết xuất bản những tác phẩm độc hại rồi phát tán trên mạng internet, trên blog, trang web cá nhân.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và dịch vụ internet, cuộc “xâm lăng văn hóa” diễn ra vô cùng khốc liệt trên “thế giới phẳng”. Thông tin xấu độc trên mạng đang làm ô nhiễm môi trường văn hóa và xâm hại nghiêm trọng an ninh tư tưởng - văn hóa quốc gia.
THIỆN VĂN
Bài 2: "Gió lành" chưa thổi bạt "gió độc"

Lại trò “lập lờ đánh lận con đen” của FIDH

QĐND - Mới đây trên VOA tiếng Việt và một vài trang mạng ở nước ngoài đã phát đi thông tin: Theo thống kê của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), Việt Nam là nhà tù lớn nhất tại khu vực Đông Nam Á giam giữ tù nhân chính trị... Những người được tổ chức này gọi là tù nhân chính trị ở Việt Nam bao gồm “nhà bất đồng chính kiến” phạm tội “tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” theo Điều 79; tội “phá hoại chính sách đoàn kết" theo Điều 87; tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” Điều 88 Bộ luật Hình sự… Cụ thể hơn đó những cá nhân đã hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam như: Nguyễn Văn Lý, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung, Trần Huỳnh Duy Thức, Trần Anh Kim, Đinh Nhật Uy, Bùi Thị Minh Hằng v.v..
Nhà nước Việt Nam đã nhiều lần khẳng định ở Việt Nam không có tù chính trị, mà chỉ có những cá nhân vi phạm luật hình sự và bị cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam bắt giữ, điều tra, xét xử và tuyên án theo đúng quy định của luật pháp. Thực chất của cái gọi là “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm” ở Việt Nam mà Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền đưa ra không có gì khác đó là chiêu thức, thủ đoạn hoạt động nhằm bênh vực, cổ súy cho những hành vi chống phá Nhà nước và nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch. Đây rõ ràng là một sự xuyên tạc sự thật, “lập lờ đánh lận con đen” nhằm đánh lừa dư luận, xuất phát từ một sự định kiến và thái độ thiếu thiện chí của cái gọi là Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền đối với Việt Nam.
Hành vi đó quả là không thể chấp nhận được, bởi nó hoàn toàn mang tính áp đặt chủ quan, phiến diện, định kiến và xuyên tạc sự thật. Vậy nhưng thật tiếc nó lại được một tổ chức được lập ra với mục đích hoạt động thúc đẩy nhân quyền trên thế giới như Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền tiến hành.
AN QUỐC

Cái nhìn thiếu thiện chí của RSF về tự do báo chí ở Việt Nam

QĐND - Dựa trên những thông tin thiếu khách quan, không trung thực, bóp méo sự thật, Bản phúc trình mang tên Chỉ số tự do báo chí 2014, của cái gọi là Tổ chức Phóng viên không biên giới (Reporteurs Sans Frontieres - RSF) đã xếp Việt Nam đứng gần chót trên tổng số 180 nước trên thế giới. Lý do mà họ đưa ra không có gì khác là Việt Nam kiểm soát và ngăn chặn internet, bắt giữ, giam cầm các bloggers có tiếng nói đối lập, v.v…
Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra cái nhìn thiếu thiện chí, nhận xét sai lệch về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Hành động của những người đang nắm quyền điều hành RSF lộ rõ ý đồ, động cơ chính trị không tốt đối với Việt Nam. Cần phải khẳng định, sự thật về tự do báo chí ở Việt Nam trái ngược hẳn với những gì mà RSF đưa ra.
Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để người dân khai thác, sử dụng internet phục vụ phát triển kinh tế-văn hóa-xã hội, hỗ trợ cải cách hành chính, nâng cao chất lượng cuộc sống và thực hiện các quyền tự do cơ bản của nhân dân. Theo tinh thần ấy, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu về tự do báo chí, tự do internet. Kết quả khảo sát của WeAreSocial - một tổ chức nghiên cứu độc lập về truyền thông xã hội toàn cầu đã cho thấy, tính đến tháng 12-2012, số người dùng internet ở Việt Nam là 30,8 triệu người (tăng 10,8 triệu người so với năm 2008), chiếm 34% dân số (cao hơn mức trung bình của thế giới là 33%). Việt Nam hiện có hơn 3 triệu người dùng blog cá nhân để bày tỏ chính kiến trên mạng xã hội, tổ chức các diễn đàn thảo luận, phản biện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, gửi các góp ý, kiến nghị đến các cơ quan chức năng... Tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) xếp hạng Việt Nam đứng thứ ba trong khu vực Đông Nam Á và thứ 8 châu Á về số lượng người sử dụng internet. Sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy, quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin ở Việt Nam đã có bước cải thiện và phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, luật pháp Việt Nam quy định hạn chế quyền tự do ngôn luận trong một số trường hợp, phù hợp với Công ước về các quyền dân sự và chính trị, nhằm tôn trọng các quyền hợp pháp và chính đáng, uy tín, danh dự của người khác; nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn công cộng, sức khỏe cộng đồng và đạo đức của xã hội.
Những trường hợp mà RSF gọi là “các bloggers có tiếng nói đối lập” thực chất, họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Lợi dụng đặc tính lan truyền nhanh, rộng và khó kiểm soát của thông tin trên mạng, những đối tượng đó đã xem internet là một trong những công cụ để tuyên truyền xuyên tạc các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời, truyền bá những luận điệu phản động gây hoang mang trong xã hội... nhằm chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của nhân dân Việt Nam. Các cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt giữ, xử lý họ là vì họ vi phạm pháp luật.
Những thành tựu về tự do báo chí nói chung, tự do internet nói riêng của Việt Nam là không thể phủ nhận. Những tiến bộ đó được sự ghi nhận, đánh giá cao của dư luận quốc tế. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam có quyền tự hào về những thành quả của mình và kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi suy nghĩ, hành động xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tự do báo chí nói chung, tự do internet nói riêng ở Việt Nam.

KIM NGỌC

Không thể suy diễn chủ quan về tự do báo chí ở Việt Nam

QĐND - Mới đây, Báo Sài Gòn tiếp thị (SGTT) thuộc cơ quan chủ quản là Trung tâm Xúc tiến - Thương mại - Đầu tư TP Hồ Chí Minh, chính thức bị Bộ Thông tin và Truyền thông thu hồi giấy phép hoạt động do thua lỗ, nợ đọng quá nhiều trong thời gian kéo dài, không đủ điều kiện về tài chính. Điều này ai cũng biết. Ấy vậy mà, một số báo, đài nước ngoài (RFA, BBC, VOA…) và nhiều trang blog lại cố tình tung tin sai sự thật rằng Báo SGTT bị “bức tử” do có nhiều bài viết đụng chạm đến vấn đề “nhạy cảm”, đồng thời cho rằng, vấn đề tự do báo chí ở Việt Nam đang bị xâm phạm và đây là sự mở đầu cho chiến dịch thu hẹp hệ thống báo chí Việt Nam đến năm 2020 theo đề án của Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất.
Phải nói ngay rằng, Báo SGTT bị thu hồi giấy phép hoạt động là do đề nghị của chính cơ quan chủ quản khi báo này thua lỗ, chứ hoàn toàn không vì bất cứ lý do “nhạy cảm” nào khác. Cho đến thời điểm trước khi bị thu hồi giấy phép, với khoản nợ đọng về tài chính lên tới 50 tỷ đồng, doanh thu hằng tháng của Báo SGTT vẫn không đủ để trả lãi suất ngân hàng. Trên thực tế, không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả nước ngoài, tờ báo nào không đủ sức cạnh tranh, không đủ khả năng về tài chính thì hiển nhiên phải chấp nhận đình bản. Điều này chẳng có gì phải bàn cãi. Không có ai "bức tử" tờ báo này cả. Nói tờ báo bị "bức tử" là suy diễn chủ quan, vô căn cứ !
Ảnh minh họa: Tuổi trẻ
Ở Việt Nam, mỗi tờ báo có công chúng, mục tiêu riêng, hoạt động trong những lĩnh vực mà mình đăng ký. Báo SGTT cũng như tất cả các cơ quan báo chí khác đều phải hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích ghi trong giấy cấp phép. Đi ngược lại tôn chỉ, mục đích là trái pháp luật. Không thể vì sự cạnh tranh thông tin hay thứ “danh tiếng” mơ hồ nào đó mà đưa tin, bài trái với đường lối, quan điểm của Đảng, làm phương hại tới an ninh quốc gia và lợi ích dân tộc… Đó là điều mà mọi tờ báo đều phải hiểu và tuân thủ.
Mặt khác, trước thông tin về Đề án quy hoạch hệ thống báo chí toàn quốc đến năm 2020, một số người đã vội vàng suy diễn chủ quan về tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có cơ sở. Thực tế phát triển báo chí thời gian qua cho thấy, bên cạnh những thành tựu quan trọng và đóng góp to lớn của báo chí đối với công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng nhu cầu thông tin ngày càng cao của nhân dân, báo chí cũng bộc lộ một số bất cập. Không ít các trang điện tử và báo, tạp chí in giảm sút cả về chất lượng chính trị, chất lượng văn hoá, chất lượng khoa học và chất lượng nghiệp vụ của thông tin. Nhiều tờ báo có biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, có khuynh hướng thông tin giật gân, câu khách, nội dung thông tin các báo na ná nhau, dẫn đến nhàm chán và lãng phí tiền của. Hệ thống báo chí Việt Nam có bước phát triển mạnh về số lượng nhưng chất lượng chưa tương xứng, còn chồng chéo về tôn chỉ, mục đích, nội dung, đối tượng phục vụ… Bởi thế, việc điều chỉnh, quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí là một đòi hỏi cấp thiết, phù hợp với tình hình thực tiễn đất nước, bảo đảm cho báo chí hoạt động tốt hơn, đúng tôn chỉ, mục đích, trong khuôn khổ pháp luật. Đây là việc làm cần thiết, nhằm hướng tới sự hợp lý về số lượng cơ quan báo chí và ấn phẩm báo chí, nâng cao chất lượng, phục vụ tốt hơn nhu cầu thông tin của độc giả và của toàn xã hội. Ít mà tinh, gọn mà hiệu quả, quy hoạch, sắp xếp gọn lại để báo chí có điều kiện đầu tư, phát triển theo chiều sâu, phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, thực hiện ngày càng tốt hơn chức năng, nhiệm vụ là việc làm hữu ích được xã hội đồng thuận, báo giới tán thành. Bởi vậy, nói tự do báo chí ở Việt Nam bị kìm hãm hoàn toàn là sự suy diễn, áp đặt chủ quan. 
Sự việc của Báo SGTT càng chứng tỏ các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội có thể lợi dụng bất cứ vấn đề gì, hiện tượng gì trong đời sống xã hội của đất nước để xuyên tạc tình hình, kích động dư luận, đả phá chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, sự thật luôn là sự thật, không thể ai "đổi trắng thành đen". Có điều, bất cứ ai khi tiếp nhận những thông tin suy diễn kiểu này, cần rất tỉnh táo và cảnh giác.

YẾN LONG

Không nên cố tình hiểu sai về quyền dân sự và chính trị

QĐND - Trước việc Việt Nam áp dụng các biện pháp xử lý đối với một số đối tượng phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 88 Bộ luật Hình sự, thời gian gần đây một số người tiếp tục bày tỏ quan điểm cho rằng mọi người đều có quyền tự do phát biểu, bày tỏ quan điểm của mình không ai được cấm đoán... Họ đã dựa vào Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị để bảo vệ cho luận điểm của mình và cho rằng, Việt Nam đã vi phạm quyền tự do ngôn luận. 
Cần phải nói ngay rằng, những người có quan điểm như trên đã cố tình hiểu sai Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Để bảo đảm quyền con người, các công ước quốc tế, trong đó có Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị đặc biệt coi trọng lợi ích thiết yếu của mọi quốc gia là giữ vững hòa bình ổn định, an ninh và trật tự xã hội, chống khủng bố... Khoản 3 Điều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị đã quy định rất rõ việc thực hiện quyền tự do phát biểu quan điểm. Theo đó, khi thực hiện quyền này mọi người phải có những bổn phận và trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: "Tôn trọng những quyền tự do và thanh danh người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý".
Như vậy, mặc dù quyền tự do ngôn luận có tính cách hòa bình... được thế giới thừa nhận nhưng một khi các quyền này ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự công cộng của quốc gia nào thì quốc gia đó có quyền giới hạn các quyền tự do ngôn luận có tính cách hòa bình nêu trên. Bên cạnh đó, Điều 20 của Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị cũng nghiêm cấm mọi hình thức tuyên truyền, cổ vũ chiến tranh, cũng như mọi hình thức gieo rắc căm hờn, xúi giục kỳ thị, hiềm khích, kích thích bạo động giữa các quốc gia, các chủng tộc, tôn giáo.
Như vậy Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 của Việt Nam quy định: “Tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là hoàn toàn phù hợp với Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Mặt khác, nội dung của Điều 88 Bộ luật Hình sự là cần thiết và phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam - một quốc gia đã phải trải qua biết bao năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm mới giành lại được hòa bình, độc lập và tự do dân tộc. Mặc dù vậy, các lực lượng thù địch chưa từ bỏ tham vọng chính trị, đặc biệt những năm gần đây họ gia tăng nuôi dưỡng, sử dụng các phần tử, các tổ chức nước ngoài để cấu kết, móc nối với các phần tử phản động ở trong nước, ra sức tuyên truyền, kích động chống phá nhằm lật đổ Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

AN QUỐC

Việt Nam ủng hộ cách tiếp cận toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề về hận thù tôn giáo và khủng bố

QĐND - Ngày 12-3, Đại sứ Nguyễn Trung Thành, Đại diện Thường trực của Việt Nam bên cạnh Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới và các tổ chức quốc tế khác tại Geneva, Thụy Sĩ, đã có phát biểu tại phiên Đối thoại với các Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc về "Tự do tôn giáo và tín ngưỡng" và về "Bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong chống khủng bố" nhân dịp Kỳ họp lần thứ 25 của Hội đồng Nhân quyền.
Phát biểu của Đại sứ hoan nghênh các nỗ lực của Hội đồng Nhân quyền và các Báo cáo viên Liên hợp quốc về tinh thần hợp tác, đối thoại xây dựng và tăng cường hiểu biết giữa các quốc gia cũng như nỗ lực của cộng đồng quốc tế về thúc đẩy, phát triển hài hòa các tôn giáo trên thế giới, góp phần bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, trong đó có tự do tôn giáo và tín ngưỡng.
Ảnh minh hoạ.
 Việt Nam chia sẻ nhận xét, khủng bố và hận thù tôn giáo không chỉ gây tổn thất về người và kinh tế, đảo lộn cuộc sống bình yên của người dân mà còn phá hoại các giá trị văn hóa, tôn giáo tốt đẹp cũng như nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế về xây dựng một thế giới hòa bình, an ninh và thịnh vượng. Những kẻ khủng bố, các tổ chức bảo trợ và hành động lôi kéo, kích động các hoạt động khủng bố cần phải được pháp luật xử lý. Đại sứ nhấn mạnh các biện pháp chống khủng bố phải phù hợp, tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực của luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc, luật nhân đạo và nhân quyền quốc tế, đặc biệt quyền được sống, quyền bảo mật thông tin cá nhân và bình đẳng trước pháp luật.
Đồng thời, Việt Nam ủng hộ các nỗ lực của Hội đồng Nhân quyền và cộng đồng quốc tế về cách tiếp cận toàn diện nhằm giải quyết các vấn đề về hận thù tôn giáo và khủng bố, trong đó có các nguyên nhân sâu xa từ nghèo đói, thất nghiệp, bất bình đẳng, phân biệt sắc tộc và tôn giáo.
Đại sứ Nguyễn Trung Thành cũng tái khẳng định các cam kết của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người dân, trong đó có các quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Phát biểu của Đại sứ cũng giới thiệu tình hình tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam; trong đó, 95% người dân Việt Nam theo các tín ngưỡng, tôn giáo phổ biến trên thế giới như đạo Phật, Thiên Chúa giáo, Tin lành và Hồi giáo với số lượng lớn các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau diễn ra hàng năm.
Nhân dịp này, Đại sứ Nguyễn Trung Thành thông báo, Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với Liên hợp quốc tích cực chuẩn bị để bảo đảm thành công chuyến thăm, làm việc của Báo cáo viên đặc biệt về tôn giáo tại Việt Nam vào cuối năm nay.

ĐOÀN CA