Vì sao nghị quyết thì hay, thực hiện lại “gay trăm bề”? Bài 2: Sính hoành tráng nhưng thiếu trách nhiệm

Thứ sáu, 07/04/2023 - 05:41

Quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, những hạn chế trong triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng đã được Trung ương Đảng nhận thức đầy đủ.

Tuy nhiên, việc khắc phục, đổi mới, bổ sung các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả triển khai thực hiện nghị quyết thì vẫn còn “gay trăm bề”...

Căn bệnh sính hoành tráng và duy ý chí

Một trong những sự kiện chính trị-văn hóa quan trọng được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quan tâm trong những tháng đầu năm 2023 là các hoạt động kỷ niệm 80 năm ra đời Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943. 80 năm qua, mặc dù hoàn cảnh lịch sử, tình hình kinh tế-chính trị-văn hóa-xã hội của đất nước đã thay đổi rất nhiều nhưng Đề cương về văn hóa Việt Nam đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị và tính thời sự, đặc biệt là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt từ 3 nguyên tắc cơ bản: Dân tộc, khoa học, đại chúng. Sau 80 năm nhìn lại, các nhà nghiên cứu đã rút ra được rất nhiều bài học giá trị: Về hình thức, văn bản được soạn thảo rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích; cách diễn đạt dễ học, dễ nhớ. Về nội dung tư tưởng, Đề cương về văn hóa Việt Nam vừa thể hiện tầm tư duy chiến lược, vừa bám sát thực tiễn tình hình cách mạng và đời sống xã hội Việt Nam. Chỉ đọc một lần là nắm được những nội dung cơ bản và có thể hình dung ngay nhiệm vụ phải thực hiện, công việc phải làm. Đó là những yếu tố rất thuận lợi để đường lối, chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Trước đó, tháng 2-1930, Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được Hội nghị thành lập Đảng thảo luận, thông qua, cũng là những văn bản rất ngắn gọn, khúc chiết, súc tích. Đây là những cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta. Mặc dù mỗi văn bản chỉ gói gọn trong một trang giấy nhưng Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã xác định rõ chủ trương, các giai đoạn, đối tượng và nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, trở thành kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng. 

Tranh của PHÙNG MINH 
Tranh của PHÙNG MINH 

Dẫn hai ví dụ điển hình như trên, soi chiếu trong tình hình hiện nay, chúng ta đều thấy rõ, đặc điểm phổ biến của nghị quyết hiện nay là văn bản rất dài. Khập khiễng và duy ý chí khi so sánh về hình thức văn bản, độ dài-ngắn của các nghị quyết của Đảng trong lịch sử với giai đoạn hiện nay, bởi mỗi giai đoạn lịch sử, Đảng có sứ mệnh, nhiệm vụ khác nhau; trình độ của cán bộ, đảng viên và trình độ dân trí cũng khác nhau. Tuy nhiên, theo quy luật nhận thức và hành động thì rõ ràng, chỉ khi cán bộ, đảng viên nắm chắc, hiểu sâu, nhớ rõ nghị quyết thì việc vận dụng vào thực tiễn nhiệm vụ mới thực sự hiệu quả. Chánh cương vắt tắt, Sách lược vắn tắt hay Đề cương về văn hóa Việt Nam có “hay” không? Rất hay! Cái hay không chỉ ở sự ngắn gọn, súc tích mà nội dung vừa mang tính khoa học, vừa mang tính đại chúng, ai đọc cũng có thể hiểu được.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy cán bộ, đảng viên về cách viết: Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem không nhớ được, không hiểu được là viết không đúng, nhắm không đúng mục đích. Mà muốn người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem. Người nhấn mạnh: "Trước hết cần phải tránh cái lối viết "rau muống", nghĩa là lằng nhằng "trường giang đại hải”... Như vậy, viết ngắn mà rõ ràng, đầy đủ, dễ nhớ, dễ học, dễ triển khai hiệu quả... thì mới thực sự là hay.

Dưới góc nhìn triết học, TS Phạm Đào Thịnh (Trường Đại học Sài Gòn) cho rằng, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên các cấp rơi vào tình trạng tư duy kiểu “duy tâm chủ quan” dẫn đến cảm tính, đề cao vai trò, ý muốn cá nhân, duy ý chí, rập khuôn, máy móc trong tổ chức chỉ đạo soạn thảo, ban hành nghị quyết. Thấy nghị quyết cấp trên dài, cấp mình cũng phải làm cho thật dài. Cách soạn văn bản cũng rập khuôn theo cấp trên. Nghị quyết sau giống nghị quyết trước, chỉ điều chỉnh nội dung, số liệu. Soạn văn bản thật “hoành tráng” cốt để cấp ủy cấp trên kiểm tra, ghi nhận. Sau đại hội, hội nghị thì đưa nghị quyết cất kỹ vào ngăn tủ. Không ít nghị quyết chỉ có tác dụng khi cán bộ, đảng viên để xảy ra vi phạm khuyết điểm thì khi đó, cấp ủy, tổ chức đảng mới giở lại nghị quyết soi chiếu để luận tội. Thế nên, nghị quyết thì rất nhiều, rất dài, rất “hay”, nhưng thấm được vào tư duy, chuyển biến thành hành động của cán bộ, đảng viên thì còn nhiều hạn chế.

“Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới...” (Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30-10-2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến," "tự chuyển hóa" trong nội bộ”). 

Lối học tập thờ ơ, hời hợt

Rõ ràng, không thể phủ định nhiều nghị quyết rất hay, nhưng đó là lời khen của một bộ phận đảng viên có trách nhiệm soạn thảo, ban hành hoặc đối với những người buộc phải đọc, học để thực hiện nhiệm vụ giáo dục, tuyên truyền. Trong khi phần đông lại chưa thật sự chấp thuận, ghi nhận với “cái hay” đó. GS, TS Vũ Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, nhấn mạnh: “Nghị quyết càng dài dòng, nội dung càng ôm đồm thì càng khó triển khai, tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Khi nghị quyết không phát huy tác dụng trong thực tiễn nghĩa là mất dần “tính thiêng” của nó và đó cũng là một trong những lý do khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa mặn mà, thiết tha với việc học tập nghị quyết của Đảng”.

Quả đúng vậy. Trên thực tế, không khó để bắt gặp những câu chuyện đáng buồn, đáng trách về thực trạng ngại học nghị quyết, sợ học nghị quyết. Ví như khi nhận kế hoạch học tập nghị quyết, không ít cán bộ thở dài, tỏ ra mệt mỏi “khổ nhỉ, lại học nghị quyết!”; “nghị quyết dài thế, nhiều thế, học đến bao giờ cho thấm, cho ngấm”... Có lẽ bởi thế mà tại các buổi quán triệt tập trung, không ít cán bộ, đảng viên hồn nhiên “đi ra, đi vào”, sử dụng điện thoại, ngủ gật; lại có cán bộ dự một lúc, rồi viện lý do “chính đáng” để về trước... Lại có không ít cán bộ, đảng viên chưa xác định rõ trách nhiệm học tập nghị quyết. Nhiều cán bộ quen cách nghĩ “học xong là xong”... mà chẳng buồn bàn thảo, tư duy về giá trị, tinh thần hay nội dung nghị quyết cần vận dụng vào tổ chức mình, bản thân mình trong thời gian tiếp theo. Đặc biệt, khi tiến hành kiểm tra kết quả học tập nghị quyết, vẫn có cán bộ, đảng viên chủ ý cậy nhờ đồng chí, đồng nghiệp chép hộ thu hoạch... Đây quả là một thực tế rất đáng báo động!

Thế nhưng, quan ngại hơn là có nhiều đảng viên luôn đề cao tinh thần trách nhiệm, nhưng bởi sự dài dòng văn tự của nghị quyết khiến việc học tập trở nên kém hiệu quả và vơi dần lòng nhiệt huyết. Kết quả khảo sát ở 23 đảng bộ xã, phường, thị trấn thuộc 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên, cho thấy: 97% đảng viên, quần chúng cho rằng, việc học nghị quyết nên chỉ tập trung vào những vấn đề cốt lõi, cơ bản, sát sườn; gần 98% đảng viên cho rằng nghị quyết càng dài thì khâu quán triệt càng khó; hơn 76% số đảng viên bày tỏ mong muốn, nghị quyết lãnh đạo cần ngắn gọn, dung dị thì mới dễ quán triệt, triển khai.

Học tập nghị quyết là một chế độ bắt buộc đối với cán bộ, đảng viên. Thế nhưng, mọi sự học đều bắt đầu từ ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm của đối tượng và việc học tập, quán triệt nghị quyết cũng vậy. Suy cho cùng, bản thân nội dung được học tập có thực sự giá trị, có ý nghĩa thiết thân đối với người học thì mỗi người sẽ tự hình thành động cơ, động lực, kết nên niềm đam mê, ham muốn học tập nghị quyết.

Một điều đáng bàn nữa là cách thức tổ chức học tập, quán triệt nghị quyết hiện nay chưa có nhiều đổi mới; các chế tài, quy định trong tổ chức học tập nghị quyết thiếu toàn diện, chưa tròn khâu. Gần như ở nhiều nơi, sau học tập thì đương nhiên kết quả kiểm tra là 100% khá, giỏi mà “bỏ quên” cả tính thực chất, khách quan trong đánh giá. Hơn thế, cũng ít thấy tổ chức đảng mạnh tay xử lý cán bộ, đảng viên vì rơi vào các biểu hiện xem nhẹ, lười học, vi phạm quy chế hoặc kết quả học tập nghị quyết thấp kém. Mặt khác, kết quả học tập nghị quyết cũng chưa “hiện thực hóa” như một tiêu chí, căn cứ xem xét, đánh giá cán bộ, đảng viên theo quy định của cơ quan chức năng.

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII của Đảng chỉ rõ: “Lười học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng...” đồng thời khẳng định đây là một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Thế nhưng, công bằng mà nói, việc lười học nghị quyết vẫn có nguyên nhân quan trọng thuộc về phía khách quan. Do đó, những người ban hành nghị quyết và tổ chức học tập nghị quyết cũng phải nhận rõ trách nhiệm, để không ngừng đổi mới, nâng cấp, nâng tầm nội dung nghị quyết và đổi mới công tác tổ chức quán triệt nghị quyết.

Thiếu cơ chế, chính sách vận hành

Là người có nhiều thâm niên, kinh nghiệm trong công tác giáo dục, quán triệt, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng, PGS, TS Phan Xuân Biên, Phó chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP Hồ Chí Minh bày tỏ trăn trở trước thực tế thiếu cơ chế, chính sách và nguồn lực cho việc lãnh đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết. Ông nêu dẫn chứng: Vừa qua, Bộ Chính trị đã ban hành các nghị quyết về phát triển 6 vùng chiến lược trên cả nước. Đây là lần đầu tiên các vùng chiến lược được Bộ Chính trị ban hành nghị quyết riêng, định hướng phát triển trong giai đoạn mới.

Điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược, quyết tâm lớn của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng nhằm khai thác lợi thế, tiềm năng, đẩy mạnh liên kết vùng và liên vùng tạo động lực phát triển đất nước bền vững, khắc phục tình trạng các địa phương “mạnh ai nấy làm”. Tuy nhiên, cơ chế, chính sách và nguồn lực vận hành, hiện thực hóa các nghị quyết này đang là bài toán khó. Bởi, để các vùng phát triển theo đúng định hướng, mục tiêu, nội dung nghị quyết đề ra, đòi hỏi phải có mô hình “tư lệnh vùng”.

Trước đây, chúng ta đã triển khai mô hình Ban chỉ đạo ở các vùng nhưng do thiếu cơ chế hoạt động nên hiệu quả không cao và buộc phải giải thể. Trong khi, việc triển khai thực hiện 6 nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển 6 vùng chiến lược trên cả nước, đến nay vẫn do các tỉnh, thành phố thực hiện, dưới sự chỉ đạo của Trung ương. Thiếu nguồn lực theo mô hình “tư lệnh vùng”, việc liên kết, hợp tác phát triển giữa các địa phương rõ ràng sẽ gặp nhiều khó khăn, nhất là khi lãnh đạo địa phương chủ yếu quan tâm đến lợi ích của địa phương mình.

Ví như, việc tỉnh Đồng Nai cho lấp một phần sông Đồng Nai để làm công viên đô thị mà không trao đổi ý kiến với TP Hồ Chí Minh diễn ra mới đây; hay tình trạng ô nhiễm kênh Ba Bò ở Bình Dương ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước sông Sài Gòn tồn tại nhiều năm giải quyết chưa xong... Đó là những ví dụ rất cụ thể về việc cần phải có “nhạc trưởng” trong các vùng chiến lược để giải quyết những vấn đề về nghĩa vụ, lợi ích đan xen giữa các địa phương. Bởi thế, nếu quy hoạch, phát triển kiểu “mạnh ai nấy làm” vì lợi ích của mỗi địa phương sẽ là tác nhân làm kìm hãm sự phát triển chung, ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Trần Du Lịch đánh giá: Chủ trương cho TP Hồ Chí Minh thí điểm thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù là quan điểm mới của Đảng. Nghị quyết của Đảng về vấn đề này đã xác định rõ quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển TP Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tuy nhiên, khó khăn, vướng mắc hiện nay nằm ở quy trình triển khai, thực hiện. Ban hành cơ chế, chính sách đặc thù phải đi liền với tạo nguồn lực, quy trình thực hiện mang tính đặc thù.

Thực tế này đang hiện hữu ở nhiều nơi. Ở nhiều đảng bộ tỉnh, huyện, xã, tổ chức đảng cơ quan Đảng, Nhà nước, bộ, ngành, đoàn thể, việc ban hành nghị quyết được xem là công việc thường xuyên, nhưng không ít nghị quyết khi được ban hành thì việc triển khai thực hiện gặp nhiều khó khăn do không có, chưa có, chưa hoàn thiện cơ chế, chính sách, điều kiện để hiện thực trong cuộc sống. Đây chính là rào cản vô hình, cũng là căn nguyên khiến nhiều nghị quyết bị “đắp chiếu” một cách đáng tiếc.

“Một số chủ trương, định hướng lớn của Đảng chưa được thể chế kịp thời, đầy đủ hoặc đã thể chế nhưng không khả thi. Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế” (Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XIII “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”). 

(còn nữa)

Nhóm phóng viên Báo QĐND

Vì sao nghị quyết thì hay, thực hiện lại "gay trăm bề" ? Bài 1: Nghị quyết hay bị “đắp chiếu”

Thứ năm, 06/04/2023 - 05:49

LTS: "Nghị quyết thì thật là hay/ Xem ra thực hiện còn gay trăm bề"-Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng “lẩy Kiều” như vậy để chỉ ra những khó khăn, yếu kém trong xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng. Đây chính là vấn đề thực tiễn cấp bách, đòi hỏi Trung ương và mỗi cấp ủy, tổ chức đảng phải dồn sức lãnh đạo, khắc phục, nhằm không ngừng nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới.

Bài 1: Nghị quyết hay bị “đắp chiếu”

Với tinh thần “Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, sau 15 thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 30-7-2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị”, mới đây, Đảng ta đã chỉ rõ hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, đó là: “Chậm khắc phục tình trạng ban hành nhiều văn bản, một số văn bản còn chung chung, dàn trải, chậm bổ sung, sửa đổi, thay thế”.

Nghị quyết dài dòng, “vòng đời” ra sao?

Theo Quy định số 66-QĐ/TW ngày 6-2-2017 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XII “Về thể loại, thẩm quyền ban hành và thể thức văn bản của Đảng” có 25 loại văn bản của Đảng, bao gồm: Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chiến lược, nghị quyết, quyết định, chỉ thị, kết luận, quy chế, quy định, thông tri, hướng dẫn, thông báo, thông cáo, tuyên bố, lời kêu gọi, báo cáo, kế hoạch, quy hoạch, chương trình, đề án, phương án, dự án, tờ trình, công văn, biên bản.

Minh họa: QUANG CƯỜNG 
Minh họa: QUANG CƯỜNG 

Nghị quyết là văn bản ghi lại các quyết định được thông qua ở đại hội, hội nghị cơ quan lãnh đạo đảng các cấp, hội nghị đảng viên về đường lối, chủ trương, chính sách, kế hoạch hoặc các vấn đề cụ thể. Nói đến vị trí, vai trò, năng lực lãnh đạo của Đảng trước hết là nói đến việc xây dựng, ban hành nghị quyết. Kể từ khi Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới đến nay, phần lớn các nghị quyết của Đảng cơ bản được chuẩn bị công phu, chặt chẽ. Nhiều chiến lược, chủ trương, định hướng, chính sách lớn của Đảng được ban hành cơ bản bám sát thực tiễn cuộc sống, bám sát sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, xu hướng phát triển của thế giới và thời đại, từ đó góp phần tạo ra những cú hích, đòn bẩy, từng bước làm thay đổi mọi mặt đời sống xã hội.

Tuy nhiên, không phải ngẫu nhiên mà trong một số hội nghị gần đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ví von rằng: “Nghị quyết thì thật rằng hay/ Xem ra thực hiện còn gay trăm bề”!

“Nghị quyết hay” thường được hiểu là nghị quyết đúng về mặt văn phong, nội dung chỉn chu. Ở khía cạnh khác, “nghị quyết hay” còn bao hàm cả ý nghĩa chưa hẳn tích cực vì chứa đựng những từ ngữ “kêu như chuông”, mà khi đọc xong ai cũng cảm thấy nhiều câu từ “hay như chim hót”, “ngọt như mía lùi”,  nghe rất “bùi tai” nhưng mục tiêu lại xa rời thực tiễn cuộc sống.

Một trong những lĩnh vực được Đảng ta quan tâm trong khoảng 3 thập niên gần đây là lĩnh vực văn hóa. Trong đó, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” ban hành năm 1998 được coi là “Cương lĩnh thứ hai” của Đảng về văn hóa (sau “Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943” do đồng chí Trường Chinh khởi thảo). Tại nghị quyết này, lần đầu tiên Đảng ta đưa ra những quan điểm rất mới mẻ, rất khoa học về văn hóa, trong đó có quan điểm “Văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội, vừa là động lực vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội”.

Nếu “Đề cương về văn hóa Việt Nam năm 1943” gói gọn trong khoảng 1.500 chữ thì Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” dài khoảng 9.800 chữ (dung lượng gấp hơn 6,5 lần). Theo các nhà nghiên cứu văn hóa, dù Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII có nhiều luận điểm thể hiện sự đổi mới tư duy lý luận về văn hóa của Đảng, nhưng nghị quyết này cũng bộc lộ tính ôm đồm, nội dung dàn trải khi coi văn hóa bao hàm cả 3 lĩnh vực là giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; hệ thống thông tin đại chúng.

So sánh nêu trên không nhằm mục đích khen-chê, nhưng soi chiếu vào thực tế gần đây cho thấy, tổ chức đảng các cấp ban hành nhiều nghị quyết mới, có ý nghĩa thiết thực với đời sống xã hội, thế nhưng các nghị quyết này có không ít nội dung được cho là trùng lắp, nhắc lại ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, nhiều nghị quyết có độ dài đến hàng chục trang A4, kết cấu cứng nhắc và tên gọi nghị quyết cũng na ná như nhau. Điều đó mang đến sự trăn trở, băn khoăn về tính khả thi, dễ dẫn đến chồng chéo về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, gây khó cho việc triển khai thực hiện.

Vì sao nhiều chỉ tiêu “không chịu” đi vào cuộc sống?

Một điều đáng suy ngẫm là trong nhiều nghị quyết của Đảng, các quan điểm đưa ra đều rất đúng, rất ý nghĩa, nhưng khi xác định mục tiêu, chỉ tiêu lại không sát và không đạt được trên thực tế. Chẳng hạn, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng (ban hành năm 1996) xác định mục tiêu: Đến năm 2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Theo các chuyên gia kinh tế, việc đặt ra mục tiêu như vậy là chủ quan, duy ý chí, vì thực tiễn cho thấy, hầu hết các nước tư bản phải trải qua hàng trăm năm xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường mới có thể trở thành nước công nghiệp; trong khi Việt Nam khi tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) từ điểm xuất phát là một nước nông nghiệp lạc hậu, thấp hơn cả điểm xuất phát của nhiều nước tư bản, thì không thể có chuyện CNH-HĐH “rút ngắn” trong khoảng 25 năm mà trở thành nước công nghiệp được.

Theo đồng chí Nguyễn Đức Hà, nguyên Vụ trưởng Vụ cơ sở đảng (Ban Tổ chức Trung ương), tư duy xây dựng nghị quyết trong “phòng lạnh”, “ngồi ghế sa lông” để xác định phương hướng, xác định mục tiêu là căn nguyên sâu xa khiến một số nghị quyết còn “tràng giang đại hải”, thiếu trọng tâm, trọng điểm. Vì thế, nghị quyết rất khó đi vào cuộc sống.

Điển hình cho nghị quyết “vẽ ra” nhiều mục tiêu, giải pháp hay có lẽ phải kể đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII “Về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ CNH-HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000”, ban hành năm 1996. Một trong những giải pháp đó là: “Thực hiện các chính sách ưu tiên ưu đãi đặc biệt đối với tiền lương. Lương giáo viên được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp”. Thế nhưng, giải pháp đó vẫn nằm trên giấy và “không chịu”... đi vào cuộc sống suốt 27 năm qua.

Một trong những mục tiêu Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28-1-2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước” đặt ra là: “Đến năm 2020, xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh, tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa của dân tộc”. Nghị quyết đưa ra mục tiêu rất tốt đẹp. Tuy vậy, theo đồng chí Vi Thanh Hoài, Phó cục trưởng Cục Văn hóa cơ sở (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), đến nay đa số các khu công nghiệp trong cả nước chưa có quy hoạch về xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội và các thiết chế văn hóa phục vụ công nhân lao động; điều kiện sinh hoạt văn hóa, thể thao của công nhân lao động hầu như chưa có; mức hưởng thụ về văn hóa của đối tượng này rất thấp. Vì thế, năm 2020, giai cấp công nhân chưa thể trở thành đại diện “tiêu biểu cho tinh hoa văn hóa dân tộc” như Nghị quyết 20 của Đảng đề ra.

Cũng trong năm 2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5-8-2008 “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”, trong đó xác định mục tiêu: “Đến năm 2020, lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%”. Tuy nhiên, theo Báo cáo điều tra lao động việc làm năm 2020 của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến năm 2020, lực lượng lao động của khu vực nông thôn vẫn chiếm 67% lực lượng lao động xã hội; trong khi đó, tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo mới đạt 24%. Như vậy, cả hai chỉ số mà Nghị quyết số 26-NQ/TW đưa ra đều chưa đạt 50% mục tiêu mà Đảng đã xác định. 

Không chỉ cấp Trung ương mà ở cấp tỉnh cũng vậy. Ví như Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Giang nhiệm kỳ 2005-2010 xác định đến năm 2010 sẽ xây dựng huyện Bắc Quang trở thành thị xã. Tuy nhiên, do nguồn lực hạn chế, cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội của huyện này chưa thể đáp ứng đủ tiêu chí nên gần 3 nhiệm kỳ đại hội của Đảng bộ tỉnh Hà Giang đã trôi qua, mục tiêu đó vẫn chỉ dừng lại trên nghị quyết!

Ở cấp cơ sở, việc đề ra chỉ tiêu chưa sát với thực tế không phải là hiếm. Mới đây, Tỉnh ủy Yên Bái đã tổ chức rà soát, đánh giá việc triển khai thực hiện các nghị quyết chuyên đề của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020-2025, trong đó thẳng thắn chỉ rõ các chỉ tiêu trong một số nghị quyết không phù hợp, cho nên việc thực hiện gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Ví như Nghị quyết số 37-NQ/TU ngày 20-4-2021 về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng, trọng tâm là cấp ủy cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đề ra chỉ tiêu về tỷ lệ trung cấp lý luận chính trị đối với cấp ủy viên cấp cơ sở đến năm 2025 đạt 92% là cao so với thực tiễn. Hoặc chỉ tiêu đề ra trong nghị quyết này về tỷ lệ cơ cấu cán bộ trẻ dưới 40 tuổi tham gia ban thường vụ các cấp đến năm 2025 là khá cao, khó thực hiện do chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chức danh theo quy định.

Những hệ lụy không thể xem thường

Trên thực tế, có nhiều con số, mục tiêu, giải pháp rất “đẹp”, rất hay được xác định trong nghị quyết lãnh đạo các cấp, nhưng không đi vào cuộc sống, trở thành nghị quyết “treo”, nghị quyết bị “đắp chiếu”, chủ trương “cất tủ” do các chỉ tiêu, mục tiêu đưa ra theo lối lạc quan “tếu”. Nguyên nhân của thực trạng trên là do những người có trách nhiệm mắc bệnh duy ý chí trong xây dựng nghị quyết. Đó là khi đánh giá tình hình thường chỉ dựa vào một nhóm người có quyền quyết định (ban thường vụ, cấp ủy, ban cán sự đảng, các bộ phận tham mưu giúp việc như cán bộ tổ chức, tuyên giáo, văn phòng cấp ủy...) mà không nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình thực tế, nên ban hành những chủ trương, quyết sách không phù hợp. GS, TS Vũ Văn Hiền, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam, nguyên Phó chủ tịch chuyên trách Hội đồng Lý luận Trung ương, khẳng định: “Khi đặt ra mục tiêu, chỉ tiêu cho hay, không sát thực tế thì nghị quyết sẽ sớm trở nên lạc hậu, thậm chí “chết yểu” là tất yếu”.

Theo nhận định của một số chuyên gia văn hóa, nguyên nhân sâu xa của việc ban hành nhiều nghị quyết, nội dung dàn trải, ôm đồm, trau chuốt câu chữ bởi chúng ta chưa thoát khỏi bệnh hình thức, ưa sự chỉn chu, cầu toàn bên ngoài. Điều này ít nhiều bị ảnh hưởng tâm lý văn hóa tiểu nông, thích khoa trương, đôi khi sa vào bệnh lý luận suông, giáo điều.

Nghiêm túc nói ra điều này để thấy rằng, nếu không có thái độ khách quan, nhận thức khoa học và bám sát tình hình thực tiễn để xây dựng, ban hành nghị quyết, đề ra mục tiêu, giải pháp phù hợp, thì không chỉ có cấp vi mô bị “tư duy nhiệm kỳ” chi phối mà đôi khi cấp vĩ mô cũng có thể mắc lỗi “tư duy nhiệm kỳ” trong việc ban hành chủ trương, chính sách. Hệ lụy của vấn đề này được V.I.Lenin chỉ ra: “Đối với một chính đảng vô sản, không có sai lầm nào nguy hiểm hơn là định ra sách lược của mình theo ý muốn chủ quan”. Quả đúng vậy, trong mọi cái sai, cái sai đáng quan ngại nhất là sai về chủ trương, chính sách. Khi “nghị quyết chỉ hay” mà không trúng, không thiết thực với cuộc sống, không đi vào lòng dân, thì nó không những không làm tròn sứ mệnh “soi đường dẫn lối”, mà có thể tạo ra những “góc khuất, điểm mù” làm cản trở tiến trình phát triển của đất nước, địa phương, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Nguy hại hơn nữa, nếu tình trạng trên không sớm được khắc phục thì có thể làm suy giảm uy tín, năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng, ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.

  “Một số nghị quyết có nội dung còn dàn trải, chưa thể hiện đầy đủ, đúng đắn quy luật vận động khách quan của tình hình thực tế, đặt ra mục tiêu quá cao mà lại chưa xác định nguồn lực, điều kiện để thực hiện. Khi không đưa “thực tiễn cuộc sống vào nghị quyết” thì nghị quyết rất khó đi vào cuộc sống. Đó là biểu hiện áp đặt chủ quan, duy ý chí-một căn bệnh mà chúng ta từng mắc phải trong thời kỳ quan liêu bao cấp, nên rất cần phải khắc phục triệt để” (PGS, TS Vũ Văn Phúc, Phó chủ tịch Hội đồng Khoa học các cơ quan Đảng Trung ương, nguyên Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản).

 

Phải có kế hoạch tỉ mỉ, chắc chắn. Xây dựng kế hoạch thực hiện nghị quyết phải hết sức thiết thực, không được chủ quan, khô mắc bệnh: “Chỉ mấy cán bộ đóng cửa lại mà làm, ngồi ỳ trong phòng giấy mà viết, cứ tưởng những cái mình làm là đúng, mình viết là hay. Nào có biết, cách làm chủ quan đó, kết quả là “đem râu ông nọ, chắp cằm bà kia”, không ăn thua, không thấm thía, không ích lợi gì cả” (Chủ tịch Hồ Chí Minh).

 

(còn nữa)

Nhóm phóng viên Báo QĐND

Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam

Thứ Hai, 03/04/2023, 06:41

Lợi dụng việc Nhà nước ta tổ chức lấy ý kiến các tầng lớp nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), các thế lực thù địch, phản động đã ra sức tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng: “Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là sự khôn lỏi của Nhà nước, làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân”.

Một số trang báo hải ngoại trích dẫn những ý kiến của đối tượng chống phá Nhà nước, lấy danh nghĩa “nhà quan sát”, “nhà nghiên cứu” cho rằng, nguồn gốc của mọi tranh chấp đất đai là vấn đề sở hữu khi “người dân bị Đảng tước đoạt quyền sở hữu đất đai”, người dân đấu tranh giành chính quyền nhưng “không được sở hữu gì”!

Từ đó, các đối tượng mượn cớ “góp ý” để cổ suý tư tưởng đất đai không thể thuộc sở hữu toàn dân mà “phải giao đất đai về cho cá nhân”, người dân cần phải “đấu tranh đòi quyền sở hữu đất đai”! Qua đó, các thế lực thù địch, phản động lấy cớ kích động mâu thuẫn trong nhân dân, giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Cần hiểu đúng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam -0

Trước đó, Ban Chấp hành Trung ương khoá XIII ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW về "Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao".

Đây là cơ sở chính trị rất quan trọng để hoàn thiện chính sách, pháp luật về đất đai ở nước ta. Các thế lực thù địch và số đối tượng cơ hội chính trị, phản động đã ra sức bới móc, thổi phồng các vụ việc tiêu cực liên quan đến đất đai, những vi phạm, bất cập, hạn chế trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Họ quy chụp, suy diễn các vụ việc tiêu cực trong lĩnh vực quản lý đất đai liên quan đến sai phạm của một số cán bộ, đảng viên để kích động mâu thuẫn trong xã hội; qua đó bôi lem, hạ bệ vai trò của Đảng, Nhà nước, phủ nhận những thành tựu đạt được trong quản lý đất đai ở nước ta.

Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã ban hành Kế hoạch tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) từ ngày 3/1/2023 đến 15/3/2023.

Việc tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) nhằm huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân vào việc hoàn thiện dự án luật bảo đảm chất lượng, khoa học, khả thi, đồng bộ, hiệu quả; phản ánh ý chí, nguyện vọng, vì lợi ích nhân dân; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay trong từng chính sách. Việc sửa đổi luật cũng nhằm thúc đẩy phát huy cao nhất giá trị nguồn lực đất đai; ngăn ngừa, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật đất đai; khắc phục tình trạng sử dụng đất đai lãng phí, tham nhũng, đầu cơ đất đai và tạo không gian, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước.

Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định, Luật Đất đai (sửa đổi) phải đặt lợi ích của nhân dân, của đất nước lên cao nhất, quan tâm đến lợi ích của người dân ngay trong từng chính sách cụ thể; phải thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về quản lý và sử dụng đất đai tại Nghị quyết số 18-NQ/TW phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Đất đai là một bộ phận quan trọng của lãnh thổ quốc gia Việt Nam, được hình thành, tồn tại và phát triển cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Đó chính là thành quả của sự nghiệp giữ nước và dựng nước lâu dài của cả dân tộc, là thành quả từ công sức, xương máu của bao thế hệ cha ông chúng ta, cho nên không thể để cho một tầng lớp hay nhóm người nào đó có quyền độc chiếm sở hữu.

Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân thì đất đai của quốc gia phải thuộc sở hữu của toàn dân và được sử dụng phục vụ cho mục đích chung của nhân dân. Việc sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để mọi người được tiếp cận đất đai tạo ra của cải, góp phần xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nhà nước là chủ thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân, do vậy, Nhà nước phải là công cụ để nhân dân thực hiện quyền lực dưới hình thức dân chủ đại diện.

Điều 53, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Thể chế Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai (sửa đổi) tiếp tục khẳng định quan điểm này. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất (trong đó có đất đai) giữ vai trò chủ đạo giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống.

Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai là chế độ sở hữu chung của toàn xã hội; các cơ quan nhà nước với tư cách là đại diện pháp lý, được giao quyền thống nhất quản lý trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và giao cho người sử dụng đất một số quyền quan trọng, phù hợp với định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường nước ta.

Như vậy, người sử dụng đất có thể phát triển kinh tế, còn Nhà nước có thể điều tiết quan hệ đất đai có lợi cho lợi ích quốc gia. Quản lý và sử dụng đất phải bảo đảm lợi ích chung của toàn dân; nhân dân được tạo điều kiện tiếp cận, sử dụng đất công bằng, công khai, hiệu quả và bền vững.

Xét cả góc độ lý luận và thực tiễn, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng XHCN mà chúng ta lựa chọn.

Khi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được đảm bảo, Nhà nước thực hiện vai trò quản lý, duy trì ổn định, phát triển và đảm bảo công bằng xã hội chứ không có chuyện “sở hữu toàn dân về đất đai đã làm cho hàng triệu người khốn khổ; sở hữu toàn dân về đất đai là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân” như luận điệu của các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, nguyên nhân chính của chế độ người bóc lột người trong chế độ cũ là do sự tồn tại chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, trong đó đất đai chính là tư liệu sản xuất quan trọng nhất. Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Do vậy, để loại trừ nguyên nhân, nguồn gốc của bóc lột và bất công trong xã hội thì Nhà nước phải là người đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đất đai.

Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm bình đẳng của người dân với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế thấp nhất sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai.   

Ở nhiều nước tư bản như Mỹ, Canada, Hàn Quốc… thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Hàn Quốc công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng khi cần nhà nước vẫn có thể trưng thu.

Mỹ, Canada thừa nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai nhưng không có nghĩa là chủ sở hữu có thể toàn quyền định đoạt với tài sản này, nhà nước vẫn giữ nhiều quyền định đoạt quan trọng như quyền quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quyết định mục đích sử dụng đất, thậm chí thu hồi đất thuộc sở hữu tư nhân để phục vụ các lợi ích công cộng.

Mỗi quốc gia có hoàn cảnh lịch sử khác nhau, không thể lấy quy định của quốc gia này, thậm chí là thông lệ quốc tế để áp dụng đối với một quốc gia khác. Ở nước ta hiện nay, về bản chất, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, người sử dụng đất được Nhà nước trao nhiều quyền gồm quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế, góp vốn, tặng, cho…

Ngay ở các nước tư bản nói trên thì cá nhân cũng không thể có quyền tuyệt đối với đất đai của mình. Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là đi chệch hướng XHCN, trái với bản chất Nhà nước mà chúng ta đang xây dựng.  

Cũng phải thấy rõ rằng, những sai lầm và thiếu sót thời gian qua trong lĩnh vực đất đai như tham nhũng, tiêu cực, hình thành các tranh chấp, “điểm nóng” không phải do chế độ sở hữu toàn dân về đất đai gây ra.

Nguyên nhân chính bắt nguồn từ sự yếu kém trong thực thi Luật Đất đai và các luật liên quan, nhất là tình trạng tham ô, trục lợi của một bộ phận cán bộ, đảng viên được giao chức trách, quyền hạn. Cùng với đó là công tác quản lý còn yếu kém, tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, đất thu hồi bị bỏ hoang làm cho người sử dụng đất rơi vào tình trạng thất nghiệp, khó khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

Muốn giải quyết những vấn đề này thì phải bắt đầu từ việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, trong đó có việc sửa đổi Luật Đất đai hiện hành và các quy định về quản lý, sử dụng đất đai; đẩy mạnh cải cách hành chính, minh bạch hóa, công khai hóa cơ chế quản lý, sử dụng đất đai; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật về đất đai, kịp thời phát hiện, phòng ngừa và xử lý nghiêm các sai phạm.

Quốc An

“Dân thụ hưởng” không phải là khẩu hiệu suông

Thứ hai, 03/04/2023 - 05:14

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng bổ sung thêm chủ trương “dân thụ hưởng” vào nội dung dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN) “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đây là sự khẳng định nhất quán tư tưởng lấy dân làm gốc, người dân là chủ thể, là mục đích, là trung tâm của mọi quá trình phát triển. Thế nhưng trên một số trang mạng, thế lực thù địch và những kẻ phản động cố tình xuyên tạc rằng, phương châm “dân thụ hưởng”, hay “lấy dân làm gốc” mà Đảng, Nhà nước ta đặt ra là không thực chất, chỉ là mị dân. Nhưng cho dù kẻ xấu có xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận thực tế rằng, người dân Việt Nam đã và đang thực sự thụ hưởng thành quả cách mạng...

Cố tình xuyên tạc với mưu đồ xấu

Có thể nói phương châm “dân thụ hưởng” đã được thể hiện rõ trong mục tiêu, đồng thời cũng đã được triển khai thực hiện trong suốt quá trình cách mạng XHCN tại Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục thể hiện rõ quyết tâm chính trị của Đảng trong mục tiêu vì hạnh phúc của nhân dân, vì chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định rất rõ: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”; “nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Rõ ràng hưởng thụ đầy đủ lợi ích cả về vật chất, tinh thần là khát vọng của người dân, là mục tiêu, lý tưởng cao đẹp của cách mạng XHCN và đang được hiện thực hóa trên đất nước ta. Từ sự cùng khổ của người dân một nước thuộc địa, bị đặt dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, trải qua chiến tranh đau thương, mất mát, đến nay người dân Việt Nam đã thực sự sống trong tự do, hòa bình, độc lập, thống nhất, đời sống ngày càng đi lên.

Thế nhưng trong suốt những năm qua, các thế lực thù địch, phản động luôn cố tình phủ nhận những thành quả ấy. Lợi dụng tình hình công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực khiến một số cán bộ cấp cao vướng vào tham nhũng, tiêu cực nên bị kỷ luật, buộc phải từ chức hoặc phải chịu trách nhiệm hình sự, lực lượng thù địch đã rêu rao rằng chỉ có “quan cộng sản” mới có nhà lầu, xe hơi, cuộc sống sung sướng, được hưởng thụ và cho rằng “dân thụ hưởng chỉ là ru ngủ dân...". 

Ảnh minh họa / Chinhphu.vn 
Ảnh minh họa / Chinhphu.vn 

Ở đây, chúng ta phải khẳng định rằng những kẻ cơ hội chính trị và lực lượng thù địch không phải là không biết, không nhìn thấy những thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà người dân Việt Nam ngày ngày được thụ hưởng. Tuy nhiên, chúng cố tình xuyên tạc sự thật; thấy cây mục cho rằng cả cánh rừng phải chặt bỏ; lấy hiện tượng quy chụp bản chất; lấy sự thoái hóa, biến chất của một số cán bộ, đảng viên để suy diễn về phẩm chất đạo đức của toàn bộ đội ngũ cán bộ, đảng viên...

Sự thật không thể phủ nhận

Có thể nói, việc “dân thụ hưởng” thành quả cách mạng tại Việt Nam là sự thật không thể phủ nhận. Sự hưởng thụ của người dân Việt Nam toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chủ trương gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; gắn kết giữa chính sách phát triển kinh tế với chính sách phát triển xã hội; dân chủ ngày càng được mở rộng, mỗi người dân luôn được tạo điều kiện thuận lợi nhất để thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình. Người dân thực sự là người chủ đất nước, bao nhiêu lợi ích, bao nhiêu quyền hành đều ở nhân dân. Chính người dân là người làm chủ quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng XHCN, đồng thời người dân cũng trực tiếp thụ hưởng giá trị to lớn của quá trình đó.

Chúng ta thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước. Đảng, Nhà nước luôn tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của công dân. Đảng ta luôn đặt quyền lợi của nhân dân vào trung tâm các quyết sách, đường lối, với mục đích tối thượng là người dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển đất nước. Điều đó được thể hiện qua hàng loạt con số biết nói: Năm 2021, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,703, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển.

Báo cáo hạnh phúc thế giới (World Happiness Report-WHR) năm 2023 công bố ngày 20-3-2023 cho thấy chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022 lên vị trí 65 trong năm 2023. Hạnh phúc là mục tiêu cơ bản của con người. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã công nhận mục tiêu này và kêu gọi cách tiếp cận toàn diện, công bằng và cân bằng hơn đối với tăng trưởng kinh tế nhằm thúc đẩy hạnh phúc và phúc lợi của tất cả mọi người. Các tiêu chí được đánh giá gồm: GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ trung bình, quyền tự do lựa chọn cuộc sống, sự rộng lượng và nhận thức về tham nhũng.

Cùng với đó, Liên hợp quốc đánh giá Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) của Việt Nam tiếp tục được cải thiện vào năm 2021, đạt 0,296, xếp hạng 71 trong số 170 quốc gia. Việt Nam là một trong 30 quốc gia đầu tiên áp dụng chuẩn nghèo đa chiều và hoàn thành trước 10 năm mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Mức sống tăng lên, sức khỏe của người dân được cải thiện nên tuổi thọ tăng qua các năm, chỉ số sức khỏe cả nước tăng từ 0,822 (năm 2016) lên 0,826 (năm 2020). Chỉ số giáo dục của Việt Nam là 0,618 vào năm 2016 và 0,640 vào năm 2020. Chỉ số thu nhập là 0,624 vào năm 2016 và 0,664 vào năm 2020. Như vậy có thể thấy, mặc dù là nước đang phát triển có xuất phát điểm rất thấp, nhưng các chỉ số cơ bản cho quyền lợi và sự thụ hưởng của người dân tại Việt Nam đều tăng dần qua từng năm, cho thấy đời sống của người dân Việt Nam đang đi lên một cách bền vững.

Theo tạp chí thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ), chất lượng sống của Việt Nam được cải thiện đáng kể. CEOWORLD đánh giá, Việt Nam có tổng số điểm là 78,49 và xếp hạng 62/165 quốc gia vào năm 2021. Thứ hạng chỉ số chất lượng sống được CEOWORLD dựa trên nhiều tiêu chí như: Chi phí sống; sự ổn định kinh tế-chính trị; môi trường làm việc; bình đẳng thu nhập; hệ thống giáo dục; hệ thống y tế...

Động lực để dân tin Đảng

Có thể thấy, Đảng và Nhà nước luôn chú trọng phát triển kinh tế vì mục tiêu con người, thực hiện nhất quán quan điểm gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế vì con người, xây dựng thiết chế chính trị, hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN, quản lý đất nước, xã hội, mang lại những điều tốt đẹp cho con người. Vì vậy, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện. Mỗi một người dân Việt Nam đang hằng ngày, hằng giờ được thụ hưởng môi trường hòa bình, ổn định, yên tâm lao động sản xuất và thừa hưởng chính thành quả đó. Trong xu thế đi lên của đất nước, ai cũng được tạo cơ hội phát triển, không ai bị bỏ lại phía sau. Người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị ảnh hưởng của bão lũ, thiên tai khiến đời sống còn khó khăn thì Đảng, Nhà nước có chính sách an sinh xã hội, toàn xã hội đều chung tay giúp đỡ. Mục đích cuối cùng là để mỗi người dân Việt Nam đều được bình đẳng tận hưởng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, “ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành” đúng như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Như thế, “dân thụ hưởng” không dừng lại trên lý thuyết, trong nghị quyết, giấy tờ hay khẩu hiệu suông để hô hào mà được thể hiện sinh động, thuyết phục trong hiện thực đời sống mỗi người dân Việt Nam. Dù những phần tử cơ hội chính trị, thế lực thù địch có cố tình bóp méo, xuyên tạc thế nào thì cũng không thể phủ nhận được sự thật rằng đời sống của người dân Việt Nam đang ngày càng đi lên. Đó chính là động lực để người dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; nỗ lực lao động, cống hiến để đất nước ngày càng phát triển thì những giá trị mà mỗi người được thụ hưởng sẽ ngày càng lớn hơn.

Thượng tá, TS PHÙNG MẠNH CƯỜNG, Chủ nhiệm Bộ môn, Khoa Kinh tế Chính trị học Mác-Lênin (Học viện Chính trị)

Thủ đoạn lợi dụng góp ý sửa đổi Luật Đất đai để chống phá Đảng, Nhà nước

Thứ Sáu, 31/03/2023, 06:58

Trong khi việc lấy ý kiến nhân dân vào dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được nhiều tổ chức, cá nhân tham gia tích cực thì những phần tử chống đối, số đối tượng cơ hội chính trị đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ để đăng tải các luận điệu xuyên tạc về nội dung, ý nghĩa của dự thảo luật cũng như chống phá hoạt động lấy ý kiến nhân dân.

Một số cá nhân đưa bài dưới danh nghĩa “trí thức góp ý dự thảo luật” để xuyên tạc, gây rối, cố tình làm trầm trọng hóa các vấn đề nhạy cảm, phức tạp liên quan đến đất đai nhằm thực hiện mưu đồ xấu. Trên mạng xã hội xuất hiện một số luận điệu mang danh "góp ý" song cố tình xuyên tạc, đưa ra các quan điểm cho rằng Việt Nam sửa đổi Luật Đất đai là để thao túng thị trường đất đai, lồng ghép lợi ích cho những cá nhân hay nhóm người nhất định chứ không vì lợi ích của nhân dân.

Thủ đoạn lợi dụng góp ý sửa đổi Luật Đất đai để chống phá Đảng, Nhà nước -0

Để chứng minh quan điểm này, các đối tượng đã cắt gọt, đánh tráo phát ngôn của lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm làm sai lệch bản chất, cho đó là bằng chứng để tố cáo. Họ phủ nhận sạch trơn giá trị của sự đổi mới là để thay thế cái cũ, khắc phục những bất cập còn tồn tại mà ngụy biện rằng, thực tế nhiều năm qua có sự cài cắm lợi ích vào trong luật. Từ đó quy kết “Việt Nam có sửa đổi luật nhiều lần thì cũng chỉ là hoạt động chắp vá, không thực tiễn, không hề vì dân”. Một số ý kiến còn cho rằng, Luật Đất đai mới sẽ tạo cơ sở pháp lý cho việc “cướp đất” của chính quyền cộng sản. Họ “kiến nghị” rằng, để gỡ rối thì phải xóa bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai!.

Một trong những thủ đoạn của các thế lực thù địch là cố tình đăng tải các câu chuyện liên quan đến những tiêu cực, các vụ án về tranh chấp đất đai nhằm gây ác cảm đối với việc góp ý dự thảo luật, từ đó tạo ra luồng suy nghĩ tiêu cực khiến người dân bất hợp tác, không tin tưởng vào hiệu quả của việc lấy ý kiến cho dự thảo, hiểu sai về các chính sách của Đảng, Nhà nước. Các đối tượng liên tục lập những nick ảo, tài khoản giả mạo người dân để tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin, bài viết liên quan đến các vụ việc về đất đai với góc nhìn lệch lạc, tiêu cực nhằm kích động người dân, tạo tâm lý hoang mang, mất niềm tin đối với luật pháp và chính quyền.

Một trong những vụ việc gần đây cho thấy rõ bản chất chống phá của các thế lực thù địch qua việc lợi dụng thông tin Phòng Giáo dục và Đào tạo quận 12 (TP Hồ Chí Minh) có văn bản chỉ đạo tổ chức lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) gửi tới nhóm trẻ lớp mẫu giáo, lớp mầm non; trường mẫu giáo, mầm non (công lập và ngoài công lập); trường tiểu học (công lập và ngoài công lập), trường trung học cơ sở... Điều đáng nói, nội dung văn bản nêu rõ việc lấy ý kiến đối với các cơ sở giáo dục công lập là toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên tại đơn vị. Đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập là chủ đầu tư các nhóm trẻ, lớp mẫu giáo, lớp mầm non, trường mầm non, trường tiểu học ngoài công lập và toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên tại đơn vị.

Văn bản này sau đó đã xuất hiện trên mạng, tuy nhiên ảnh chụp văn bản chỉ có phần tiêu đề và mục “kính gửi” mà thiếu hoàn toàn nội dung chính. Một số người mới chỉ đọc vài dòng mở đầu của văn bản nên đã có sự nhầm lẫn về đối tượng lấy ý kiến, cho rằng văn bản hướng đến lấy ý kiến dự thảo Luật Đất đai đối với… trẻ mẫu giáo, mầm non! Với cách hiểu như vậy, các ý kiến (trong đó có cả người nổi tiếng) lên tiếng phê phán, miệt thị, cho rằng đây là một chỉ đạo kỳ quặc! Sự việc ngày càng bị đẩy đi quá xa khi các đối tượng cực đoan, phản động đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền dân chủ để đăng tải luận điệu xuyên tạc, cho rằng “chính quyền mị dân”, người dân không nên “mất thời gian góp ý”!

Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, tư liệu sản xuất cơ bản, là không gian phát triển và là nguồn lực to lớn của đất nước. Trong thời gian qua, thực hiện Luật Đất đai năm 2013, công tác quản lý, sử dụng đất đai đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần quan trọng cho phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, quá trình tổ chức thi hành luật đã bộc lộ những tồn tại, hạn chế; nguồn lực đất đai chưa được phát huy đầy đủ và bền vững; việc sử dụng đất còn lãng phí, hiệu quả thấp; tình hình khiếu nại, tố cáo, vi phạm pháp luật về đất đai còn diễn biến phức tạp; suy thoái, ô nhiễm, sạt lở đất ngày càng nghiêm trọng…

Việc sửa đổi Luật Đất đai là cần thiết nhằm khắc phục những tồn tại hạn chế, phát huy nguồn lực đất đai đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết số 18-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng đất, tạo động lực đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao…

Mục đích xây dựng dự án luật nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật đất đai phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện hội nhập quốc tế; giải quyết các chồng chéo, vướng mắc phát sinh từ thực tiễn; tăng cường quản lý đất đai cả về diện tích, chất lượng, giá trị kinh tế... hài hòa quyền, lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu tư. Thúc đẩy thương mại hóa quyền sử dụng đất, phát triển thị trường bất động sản lành mạnh. Phát huy nguồn lực đất đai, tạo động lực để nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Thiết lập hệ thống quản lý đất đai hiện đại, minh bạch, hiệu quả gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; phát huy dân chủ, hạn chế tình trạng khiếu kiện về đất đai.

Việc lấy ý kiến đóng góp của người dân đối với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, đặt người dân vào vị trí trung tâm, nhằm hướng đến đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân về đất đai mà Luật Đất đai là cơ sở pháp lý để thực hiện quyền cơ bản ấy. Mặt khác, Luật Đất đai là đạo luật quan trọng, có mối quan hệ và ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực thi các chính sách được quy định trong rất nhiều luật khác, trong đó người dân là chủ thể chịu sự tác động nhiều nhất, do đó việc lấy ý kiến toàn dân đối với dự thảo luật này vừa thể hiện sự tôn trọng quyền chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai, vừa huy động được trí tuệ, tâm huyết, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, từ đó tạo sự thống nhất, đồng thuận, nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân đối với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đất đai, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất và khả thi của hệ thống pháp luật.

Công tác lấy ý kiến nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) được hưởng ứng tích cực, rộng khắp, thể hiện sự quan tâm của các cấp, các ngành, các giai tầng xã hội đối với dự án luật rất quan trọng này. Nhiều ý kiến của các cơ quan, tổ chức, cá nhân tán thành với các nội dung cơ bản của dự thảo luật, đánh giá dự thảo đã có nhiều đổi mới, đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, phát huy được nguồn lực đất đai cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quản lý đất đai chặt chẽ, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Các ý kiến góp ý tập trung vào nhiều nhóm nội dung, trong đó cho ý kiến về thu hồi đất, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Nhiều ý kiến tán thành với dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) về các trường hợp thu hồi đất để phát triển kinh tế vì lợi ích quốc gia, công cộng nhưng đề nghị mở rộng thêm đối với các dự án xã hội hóa (y tế, giáo dục, văn hóa, thể dục thể thao, môi trường), không phân biệt vốn đầu tư là công hay tư. Có ý kiến đề nghị không quy định việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư phải đảm bảo thu nhập của người có đất bị thu hồi tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, chỉ quy định về điều kiện hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tốt hơn nơi ở cũ…

Cần thấy rằng, việc tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân về dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta nhằm huy động trí tuệ, tâm huyết của nhân dân, hoàn thiện dự án luật quan trọng này theo hướng sát với thực tiễn và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Trên cơ sở ý kiến nhân dân, ý kiến của các cơ quan, tổ chức, dự thảo sẽ được Quốc hội xem xét, cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 5 sắp tới. Theo đánh giá của ban soạn thảo, việc lấy ý kiến vào dự thảo luật quan trọng này được triển khai nghiêm túc, đảm bảo chất lượng, khoa học, đồng bộ, khả thi; phản ánh ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Từ những thủ đoạn lợi dụng góp ý Luật Đất đai (sửa đổi) để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước một lần nữa gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh trong cộng đồng về việc tiếp nhận thông tin. Mỗi sự việc, hiện tượng cần được đánh giá khách quan, toàn diện, dựa trên các dữ liệu đầy đủ, tin cậy. Vội vã tin, nghe theo và lan truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, rất có thể người sử dụng mạng xã hội đang tiếp tay cho tin giả, tin xấu độc phát tán. Vì thế, người dân cần tỉnh táo nhận thức rõ, tránh mưu đồ của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động, gây bất ổn môi trường chính trị - xã hội, kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng ý kiến sai trái…

Thanh Ngà