Lật tẩy thủ đoạn “thao túng tâm lý” của các thế lực thù địch, phản động

Thứ hai, 20/11/2023 - 05:24

“Thao túng tâm lý” là một trong những thủ đoạn chống phá tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phản động, tác động tiêu cực đến đời sống tinh thần của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Do vậy, nhận diện và phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý” có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng tâm lý, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.

Nhiều biểu hiện tinh vi của thủ đoạn “thao túng tâm lý”

Với mục tiêu làm mục ruỗng tâm lý xã hội, đảo lộn đời sống tâm lý, tinh thần của nhân dân, các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều chiêu trò, thủ đoạn tinh vi, ở mọi lúc, mọi nơi, len lỏi vào từng người, từng nhóm xã hội nhằm “lung lạc” nhận thức, “gặm nhấm” tình cảm, điều khiển ý chí và hành động, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. “Thao túng tâm lý” là một thủ đoạn điển hình như vậy.

“Thao túng tâm lý” là cách thức tác động tâm lý nhằm ảnh hưởng, chi phối, kiểm soát nhận thức, cảm xúc, hành vi của người khác theo một mục đích nào đó. Nhờ triệt để lợi dụng các quy luật, đặc điểm tâm lý, cách thức này có thể kiểm soát, điều khiển tâm lý con người diễn biến theo chiều hướng nhất định. Cơ chế “thao túng tâm lý” diễn ra theo nhiều kênh tác động khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là kênh thông tin. Bằng số lượng, nội dung và cách đưa thông tin đến người tiếp nhận, có thể kiểm soát, điều khiển được nhận thức, cảm xúc, hành vi của người đó.

Lật tẩy thủ đoạn “thao túng tâm lý” của các thế lực thù địch, phản động

Ảnh minh họa: TTXVN

Ở nước ta, theo thống kê, đến nay có khoảng 77 triệu người dùng mạng xã hội (MXH), tương đương 78,1% dân số, chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên, trong đó người dùng Facebook là 70,4 triệu người. Theo đó, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng cơ chế “thao túng tâm lý” và đặc tính của MXH để thao túng, kiểm soát tâm trí con người. Có thể chỉ ra một số cách thức của thủ đoạn “thao túng tâm lý” mà các thế lực thù địch, phản động đã và đang tiến hành.

Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, bịa đặt. Thông qua các trang web, blog, các trang MXH như: Facebook, Zalo, YouTube, TikTok... chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng công cuộc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc, hòng hạ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân. Chúng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây rối an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Giả mạo thông tin. Chúng lập những tài khoản giả mạo trên MXH, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng trong xã hội, qua đó đưa tin bịa đặt, gieo rắc sự hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm.

Lèo lái thông tin. Chúng sử dụng các website, dịch vụ thư điện tử (e-mail) và các trang MXH để lèo lái thông tin. Cách thức tiến hành của chúng thường là tổng hợp tin tức từ các báo chính thống để tạo ra sự khách quan, sau đó cài những thông tin xấu độc theo tỷ lệ tăng dần cả về số lượng và mức độ bịa đặt, bóp méo sự thật. Cùng với đó là những phân tích, bình luận tưởng như khách quan nhưng thực chất là tạo ra “bẫy thông tin” khiến người tiếp nhận dễ bị dẫn dắt theo mưu đồ xấu của chúng.

Tung tin đồn, gây kích động, chia rẽ. Lợi dụng những sự kiện nhạy cảm liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng, công tác cán bộ... chúng tung tin thất thiệt trên các trang MXH gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp. Các tin đồn tác động mạnh vào cảm xúc, kích động những nhóm đối tượng thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết chưa đầy đủ để tạo sức mạnh chống phá.

Tác động tiêu cực, hệ lụy khôn lường

Một là, tác động đến nhận thức, quan điểm, lập trường chính trị. Do triệt để lợi dụng tính tò mò, tâm lý “thích giật gân” và các quy luật thuần tâm lý như: Cảm nhiễm, a dua, ám thị, bắt chước... thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Trước những thông tin xuyên tạc, bịa đặt đến dồn dập, những phân tích, bình luận xuất hiện như “nấm mọc sau mưa” dễ đưa người khác vào trạng thái hỗn loạn thông tin. Trạng thái đó khiến nhận thức của con người có thể đi từ phân vân đến hoài nghi, mơ hồ, từ đó dễ làm xói mòn quan điểm, lập trường chính trị.

Hai là, tác động đến cảm xúc, thái độ và niềm tin. Thông tin xuyên tạc, bịa đặt thường liên quan trực tiếp đến nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của người dân và lợi dụng tác động của dư luận xã hội nên thủ đoạn “thao túng tâm lý” dễ tác động đến cảm xúc, thái độ, niềm tin của quần chúng nhân dân. Dưới tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý”, thái độ của con người có thể chuyển biến từ hoài nghi, hoang mang, dao động đến bất bình, phẫn nộ, phản đối, thậm chí là chống đối, bất hợp tác, mất niềm tin.

Ba là, tác động đến hành vi, hành động. Khi đã kiểm soát được nhận thức, cảm xúc, thái độ, thủ đoạn “thao túng tâm lý” còn trực tiếp kích thích, thúc đẩy những hành vi, hành động tiêu cực của con người. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên tổ chức đăng tải, tán phát các thông tin, tài liệu, hình ảnh, video phỏng vấn theo hướng kích động những nhân sĩ, trí thức trong nước có tư tưởng bất mãn chính trị. Đối với quần chúng nhân dân, chúng triệt để lợi dụng bộ phận thiếu hiểu biết, thiếu thông tin hoặc bị kẻ xấu lôi kéo, mua chuộc, nhất là dân tộc ít người, đồng bào tôn giáo nhẹ dạ, cả tin bị chúng kích động, lừa gạt, thúc ép buộc tham gia các cuộc tụ tập gây rối, biểu tình, tạo thành “lực lượng đối trọng”, gây áp lực với hệ thống chính trị các cấp.

Tạo “bức tường thành” vững chắc phòng, chống thủ đoạn “thao túng tâm lý”

Mục tiêu của thủ đoạn “thao túng tâm lý” dù xem xét dưới góc độ nào: Tâm lý hay chính trị, trước mắt hay lâu dài, ngấm ngầm hay công khai đều mang tính chất phản nhân văn, đi ngược lại những giá trị tốt đẹp của con người. Thực chất đó là một trong những thủ đoạn của cuộc chiến tranh tâm lý, cuộc chiến chống lại con người.

Để phòng, chống có hiệu quả thủ đoạn này, giải pháp hàng đầu là quan tâm xây dựng sự vững vàng về tâm lý cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. “Vững vàng tâm lý” thể hiện ở kiến thức, quan điểm và niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ; là khả năng kịp thời nhận diện, phản bác thông tin xấu độc, bịa đặt, thủ đoạn tuyên truyền chính trị của kẻ thù; khả năng nắm vững quan điểm chính trị trong ứng xử các vấn đề xã hội. “Vững vàng tâm lý” hoàn toàn khác với các hiện tượng “đứng ngoài chính trị”, “thờ ơ chính trị”.

Từ thủ đoạn “thao túng tâm lý”, các thế lực thù địch luôn tiến công vào những nơi mà ý thức của con người mù mờ nhất, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực tâm lý xã hội và tâm lý cá nhân, đánh vào những nhu cầu, mong muốn, ước vọng không được thỏa mãn của con người. Để có được sự “vững vàng tâm lý”, cần hạn chế, thu hẹp đến mức nhỏ nhất những “mảnh đất màu mỡ” cho thủ đoạn này.

Thực tế cho thấy, nếu không tích cực ngăn chặn, bài trừ tệ nạn và tiêu cực xã hội, làm lành mạnh môi trường xã hội hiện nay thì các nọc độc “thao túng tâm lý” sẽ lan truyền hết sức nhanh chóng. Đây chính là cơ hội cho thế lực thù địch, phản động lợi dụng, gieo rắc sự hoài nghi, dao động, hoang mang, bi quan, mất niềm tin trong nhân dân. Chúng đang chờ đợi quá trình “tự tha hóa”, “tự biến chất”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên để tiếp tục gia tăng những tác động “thao túng tâm lý”. 

Trong bối cảnh thời đại thông tin bùng nổ hiện nay, cần chủ động, kịp thời cung cấp, định hướng, kiểm soát thông tin và định hướng dư luận xã hội. Việc chậm trễ thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định hướng dư luận xã hội đã làm nảy sinh ở quần chúng nhân dân những biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng; ở mức độ đơn giản là những đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào luật pháp và bộ máy công quyền; ở mức độ phức tạp còn làm cho một số người có thái độ ngờ vực, thậm chí thay đổi quan điểm chính trị.

Vì vậy, trước những sự kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... nhất là những sự kiện phức tạp, nhạy cảm thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận xã hội, các cơ quan chức năng cần thông tin kịp thời, chính xác cho công chúng và định hướng suy nghĩ, hành động theo hướng có lợi cho Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Việc làm cần thiết hiện nay là nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát, quản lý thông tin, phòng, chống tin giả, tin đồn, thông tin xấu độc trên không gian mạng. Phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, xác minh, điều tra, truy vết và xác định các hành vi, đối tượng vi phạm các quy định về thông tin sai trái, xuyên tạc để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Giải pháp căn cơ là chăm lo xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Ngày nay, khi mục tiêu "đầu độc" và chiếm lĩnh tâm hồn con người đang và sẽ là mục tiêu chủ yếu của các thế lực thù địch, phản động thông qua thủ đoạn “thao túng tâm lý” thì việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh càng có ý nghĩa quan trọng. Môi trường văn hóa lành mạnh đủ sức chống lại những tác động của thủ đoạn “thao túng tâm lý” cần phải tạo được những rung động, những trạng thái cảm xúc tích cực ở đội ngũ cán bộ, đảng viên và người dân về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như những giá trị ưu việt của chế độ XHCN.

Cùng với đó, xây dựng lòng tự hào của mỗi người dân về nền văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, quán triệt và thực hiện tốt lời chỉ dẫn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc tổ chức ngày 24-11-2021 tại Hà Nội: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ.

Nâng cao đời sống văn hóa của nhân dân; xây dựng đời sống văn hóa vui tươi, lành mạnh, hạnh phúc; khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, miền của đất nước”. Xây dựng chính sách phù hợp để khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, sản xuất các sản phẩm có giá trị văn hóa, tinh thần phục vụ nhu cầu của nhân dân theo phương châm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, "lấy tích cực để đẩy lùi tiêu cực".

Thượng tá, Thạc sĩ LƯU TRUNG TÌNH (Khoa Tâm lý học quân sự, Trường Sĩ quan Chính trị)

Minh chứng sinh động phản bác luận điệu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

Thứ Sáu, 17/11/2023, 09:06

Khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11) hằng năm đã trở thành nét đẹp văn hóa, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống nhân dân vì đây không chỉ là dịp gặp gỡ, giao lưu, đánh giá kết quả thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” mà còn là diễn đàn, đợt sinh hoạt chính trị dân chủ, tập hợp và phát huy sức mạnh của các tổ chức, cá nhân, đoàn kết cùng nhau xây dựng khu dân cư ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Khi đồng bào ta phấn khởi, chung vui Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc thì cũng là lúc các tổ chức, cá nhân phản động lưu vong ở nước ngoài, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị giở trò xuyên tạc, chống phá nhằm phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.

Những luận điệu xuyên tạc, vu cáo

Chúng ta nhận thấy, vỏ bọc che đậy các hành vi xuyên tạc, vu cáo, thông tin sai sự thật trên không gian mạng hiện nay của các thế lực thù địch, phản động là các chiêu bài "nhân quyền", "dân chủ", "tự do", nhất là tự do tín ngưỡng, tôn giáo; tự do ngôn luận, báo chí; xuyên tạc những vấn đề do lịch sử để lại, những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; thổi phồng thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương.

Các thế lực thù địch triệt để tận dụng hoặc tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể đế thực hiện thủ đoạn chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tiến tới gây bạo loạn, ly khai.

Hoạt động chủ yếu là phát tài liệu bịa đặt, dựng cảnh người dân ăn mặc rách rưới, nhem nhuốc rồi chụp ảnh, quay video trên không gian mạng để rêu rao, tạo dư luận xấu về Đảng, Nhà nước Việt Nam. Địa bàn nhắm tới là các buôn, làng vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh lợi dụng chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, “tự do tôn giáo, dân tộc”, các thế lực thù địch thường triệt để lợi dụng các vụ việc để chống phá chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc. Bên cạnh đó, được sự hỗ trợ, tiếp sức bởi các thế lực thù địch và các tổ chức quốc tế có hành vi chống phá Việt Nam như: Tổ chức Theo dõi nhân quyền – HRW, Ân xá quốc tế - AI, Đài Phát thanh Á châu tự do - RFA…

Các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối ở trong nước gia tăng kích động biểu tình, tạo điểm nóng chính trị để gây sự chú ý của dư luận thế giới. Đáng chú ý, các tổ chức phản động lưu vong ở nước ngoài đều tận dụng triệt để mạng xã hội để đẩy mạnh tuyên truyền, kích động chống phá. Không chỉ kích động tư tưởng ly khai, tự trị riêng cho dân tộc mình tại vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực thù địch còn triệt để lợi dụng các vụ việc nổi cộm như vụ Đồng Tâm ở TP Hà Nội, vụ Thủ Thiêm ở TP Hồ Chí Minh nhằm gây bất ổn từ bên trong, gây hiểu nhầm đối với dư luận thế giới để kêu gọi sự can thiệp của các tổ chức quốc tế vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Những chiêu trò chống phá chính sách đại đoàn kết dân tộc trên không gian mạng không có gì mới nhưng luôn được thế lực thù địch triệt để lợi dụng, xáo đi xáo lại nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau.

Thủ đoạn, mưu mô rất nguy hiểm, biểu hiện ở chỗ số đối tượng phản động, cơ hội chính trị thường lựa chọn thời điểm nước ta tổ chức các sự kiện trọng đại, kỷ niệm các ngày lễ lớn như kỷ niệm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4) hay Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc (18/11)… nhằm xuyên tạc vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc ở Việt Nam. Tìm cách vu cáo Đảng và Nhà nước, tạo ra những nhận thức sai lệch để các chính phủ, các tổ chức quốc tế can thiệp, gây sức ép, tạo điều kiện cho các đối tượng trong nước gia tăng hoạt động chống phá.

Củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa chiến lược và là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Người đã nêu ra luận điểm có tính chân lý: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/Thành công, thành công, đại thành công”.

Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài; thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là quan điểm nhất quán của Đảng ta trong vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc. Các dân tộc có dân số dù ít hay nhiều, ở trình độ phát triển cao hay thấp đều bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh - quốc phòng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, thương yêu, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Hiến pháp 2013 quy định: “Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam. Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc” (Điều 5 - Hiến pháp 2013, tr.13); “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14 – Hiến pháp 2013, tr.17).

Theo đó, Hội nghị Trung ương 7 (khóa IX) của Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng như: Nghị quyết số 23-NQ/TW “Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; Nghị quyết số 24-NQ/TW “Về công tác dân tộc”; Nghị quyết số 36-NQ/TW (2004) của Bộ Chính trị (khóa IX) “Về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài”; Chỉ thị 45-CT/TW về tăng cường công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Bộ Chính trị (2015).

Đại hội XIII của Đảng khẳng định, đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Tổ quốc đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung và phương thức hoạt động, nâng cao trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Mặt trận và đoàn thể nhân dân, hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư; tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tăng cường đồng thuận xã hội, tạo thành sức mạnh to lớn, bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Điều 11, Luật Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam quy định: “Ngày 18 tháng 11 hằng năm là Ngày truyền thống của MTTQ Việt Nam và là Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”. Từ đó đến nay, hằng năm, việc tổ chức “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” đã trở thành sinh hoạt xã hội rộng rãi ở từng cộng đồng dân cư trong cả nước.

Trong những năm qua, Ngày hội Đại đoàn kết dân tộc diễn ra trong cả nước đã thực sự trở thành ngày hội của toàn dân nhằm tôn vinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Vào dịp này, tinh thần đoàn kết, gắn bó, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn càng được phát huy, góp phần thực hiện tốt các phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Xây dựng văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng các gia đình điển hình có “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”…, đấu tranh với các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, xóa dần những tệ nạn trong xã hội…

Thông qua ngày hội, nhiều khu dân cư đã sáng tạo ra các hình thức thi đua giữa các xóm, tổ dân phố, tổ nhân dân, thực hiện các công trình dân sinh trên địa bàn, giải quyết việc làm, thành lập các tổ giúp đỡ nhau trong sản xuất hay xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ các hộ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, chăm sóc người già yếu, neo đơn… Ngày hội cũng đã tạo điều kiện cho việc phát huy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân, giúp cấp ủy đảng và chính quyền các cấp lắng nghe nguyện vọng, những phản ánh của nhân dân trong cuộc sống…

Kết quả thực tiễn của ngày hội mang giá trị là động lực về tinh thần trong nhân dân, từng bước được hiện thực hóa bằng các hành động cụ thể trên tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc tham gia thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội tại mỗi địa phương, góp phần vào kết quả chung trong xây dựng và phát triển của đất nước; đồng thời là minh chứng sinh động phản bác luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Liêm Chính -Bình Nguyên

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở -Bài 3: Gỡ “nút thắt” để cán bộ năng động, sáng tạo (Tiếp theo và hết)

Thứ bảy, 18/11/2023 - 04:39

Kết luận số 14-KL/TW (Kết luận 14) ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị đã tạo được cơ sở chính trị quan trọng, khơi dậy được tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ các cấp. Tuy nhiên, để tinh thần “6 dám” có thể chuyển hóa thành hành động của cán bộ trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ thì vẫn còn nhiều lực cản.

1. Để lý giải cặn kẽ nguyên nhân dẫn đến tâm lý sợ sai không dám làm, hành vi đùn đẩy công việc, né tránh trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua thì có nhiều. Trong quá trình khảo sát thực tế tại các địa phương, chúng tôi nhận được nhiều câu trả lời có chung một đáp án. Trước hết, xét về góc độ tâm lý học, sợ sai, không dám làm là một biểu hiện có phần tiêu cực, nhưng một trong các nguyên nhân dẫn đến biểu hiện tâm lý này lại đến từ những kết quả tích cực trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng.

Đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau thẳng thắn thừa nhận: “Thời gian qua, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Trung ương mà đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Nhiều vụ đại án được đưa ra xét xử, hàng loạt quan chức hầu tòa, nhiều cán bộ vướng vòng lao lý... Chính những kết quả này vô hình trung đã tạo ra hiệu ứng lây lan trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Song song đó, Trung ương ban hành nhiều quy định, chỉ thị, kết luận nhằm siết chặt kỷ cương của Đảng và đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến tâm lý e ngại “cố thủ”, sợ sai không dám làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên”.

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở -Bài 3: Gỡ “nút thắt” để cán bộ năng động, sáng tạo (Tiếp theo và hết)
 Ảnh minh họa. Ảnh: tcnn.vn

Một nguyên nhân khác xuất phát từ sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản nhằm thể chế hóa Kết luận 14 của Bộ Chính trị. Kết luận 14 nêu rõ: “... kịp thời xem xét, nghiên cứu để thể chế hóa thành quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng các mô hình, giải pháp...”. Kết luận 14 được Bộ Chính trị ban hành ngày 22-9-2021 và có hiệu lực ngay từ thời điểm ban hành. Ngày 29-9-2023, Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Qua khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố, từ đội ngũ cán bộ các cấp đến lãnh đạo các địa phương cho rằng, vì chưa có văn bản thể chế hóa, chưa có cơ sở pháp lý nên rất khó triển khai trong thực tiễn. 

Đồng chí Phan Thanh Duy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu nêu quan điểm: “Kết luận 14 của Bộ Chính trị là văn bản của Đảng mang tính định hướng lớn. Mặc dù đội ngũ cán bộ rất phấn khởi, anh em thêm vững tin trong thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao, tuy nhiên những nội dung tại Kết luận 14 còn mang tính bao hàm, chung chung, chưa rõ, chưa cụ thể. Trước khi có Nghị định số 73/2023/NĐ-CP của Chính phủ, anh em không khỏi e ngại vì nếu thực hiện đột phá, đổi mới, sáng tạo nhưng có sai sót thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật, thậm chí là xử lý hình sự”.

2. Quá trình khảo sát tại các địa phương, các đồng chí lãnh đạo đều có chung đánh giá, Kết luận 14 đã tạo ra sức lan tỏa về tinh thần đổi mới chung trong đội ngũ cán bộ các cấp, nhưng vẫn chưa thể có những đổi mới, sáng tạo mang tính đột phá như Kết luận 14 mong muốn. Một nguyên nhân khác khiến cán bộ chùn bước, e ngại không dám đổi mới và chỉ có thể “sáng tạo trong khuôn khổ”, không dám “vượt rào” đến từ những bất cập, hạn chế từ các quy định của chính sách pháp luật hiện hành.

Trên thực tế, hệ thống pháp luật ở nước ta chưa đồng bộ, còn nhiều chồng chéo. Đại hội XIII của Đảng chỉ ra: “Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn; việc thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương của Đảng về một số nội dung trong công tác cán bộ còn chậm, có nội dung chưa thống nhất giữa pháp luật của Nhà nước và quy định của Đảng”. Và trong nhiều trường hợp, cán bộ muốn sáng tạo thì đồng nghĩa với việc phải làm “trái luật”.

Tại xã Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu, Nghệ An), đồng chí Hồ Đức Vĩ, Phó bí thư Đảng ủy xã cho biết: Giai đoạn trước, đất nông nghiệp trong xã bị bỏ hoang rất nhiều. Để khắc phục tình trạng này, UBND huyện cho chủ trương tích tụ ruộng đất, chuyển đổi từ trồng lúa sang các mô hình kinh tế trang trại. Nhằm tạo điều kiện cho nhân dân mở rộng quy mô sản xuất, lãnh đạo UBND xã Quỳnh Đôi cho phép nhân dân xây dựng các công trình cất trữ thức ăn chăn nuôi phù hợp với quy mô trang trại. Từ chủ trương này, Quỳnh Đôi xuất hiện nhiều mô hình trang trại quy mô lớn, mang lại hiệu quả kinh tế cao, được các cơ quan báo chí của tỉnh tuyên truyền, kịp thời nhân rộng. Tuy nhiên, khi cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra, kết luận các công trình xây dựng vượt quá diện tích cho phép theo những quy định của pháp luật và Chủ tịch UBND xã bị kỷ luật khiển trách, hạ bậc lương trong 6 tháng.

Bàn sâu kỹ hơn về vấn đề này, đồng chí Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau tâm huyết chia sẻ: Rất nhiều quy định pháp luật chưa phù hợp, hoặc chưa theo kịp với thực tiễn nên dù địa phương có rất nhiều trăn trở, vướng mắc nhưng không tìm được cách giải quyết. Kết luận 14 nêu rõ: “Đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ phải bảo đảm không trái với Hiến pháp và điều lệ Đảng”. Trong khi đó, pháp luật là sự cụ thể hóa Hiến pháp, nếu pháp luật không còn phù hợp với thực tiễn mà cán bộ vẫn cố làm ngược lại thì có thể còn bị quy vào tội cố ý làm trái. Đó là chưa kể, không ít trường hợp, dù cán bộ đã làm đúng theo quy định pháp luật, nhưng khi xảy ra vấn đề, khi kiểm tra, thanh tra vẫn bị kết luận là làm sai vì cách áp dụng quy định của luật khác nhau, có luật thì cho phép, nhưng luật khác lại không. Chính những bất cập này khiến cán bộ chùn bước, tạo ra tâm lý e ngại, thậm chí tạo sức ì xã hội vì cán bộ không dám làm, công việc không trôi chảy.

Chỉ ra những vướng mắc trong các quy định của pháp luật, đồng chí Lê Văn Sử nêu dẫn chứng, cụ thể: Từ năm 2007, tỉnh giao cho một doanh nghiệp thực hiện dự án phát triển du lịch ven biển và hoàn toàn phù hợp với Luật Đầu tư. Đến năm 2010, vùng ven biển Cà Mau bị sạt lở nghiêm trọng, do đó doanh nghiệp phải tìm cách bảo vệ đất ven biển đã được giao khai thác, quản lý, sử dụng. Thời điểm năm 2016, trong chuyến khảo sát của Thủ tướng Chính phủ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, lãnh đạo tỉnh kiến nghị cho phép tỉnh triển khai các biện pháp để bảo vệ khu vực ven biển bị sạt lở và được Thủ tướng Chính phủ cũng như lãnh đạo các bộ, ngành rất ủng hộ. Nhưng khi địa phương làm văn bản đề nghị gửi ra, các cơ quan Trung ương lại cho rằng vướng các quy định của Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp và một số luật khác. Sau đó các bộ, ngành gửi văn bản đề nghị tỉnh Cà Mau phải thực hiện theo đúng các quy định của pháp luật.

Từ những thực tế trên, đồng chí Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho rằng, để có những đổi mới, sáng tạo, “xé rào” cơ chế, liên quan đến thẩm quyền của cấp nào thì xin cấp đó phê duyệt. Nhưng hiện nay những vướng mắc từ các quy định pháp luật khiến cho cấp thẩm quyền ở cơ sở không thể phê duyệt, mà để có thể phê duyệt được thì lại phải chờ Quốc hội xem xét sửa luật. Như vậy những vấn đề về cơ chế, chính sách, luật pháp... khiến cho tinh thần năng động, sáng tạo của cán bộ vẫn trong vòng luẩn quẩn. Do đó, cần phải có cơ chế linh hoạt hơn, phân cấp về cơ sở mạnh hơn. Theo đó, nếu ở cơ quan, đơn vị, địa phương phát hiện những quy định của pháp luật không phù hợp với thực tiễn và trình đến cấp có thẩm quyền xin được thí điểm thực hiện thì nên cho phép.

3. Một lực cản khác khiến cán bộ không quyết tâm đổi mới, sáng tạo là chưa có cơ chế khích lệ tương xứng. Trong không ít báo cáo, chỉ thị, nghị quyết, Trung ương đã chỉ ra thực trạng chưa có tiêu chí, cơ chế hiệu quả để đánh giá đúng cán bộ, tạo động lực, bảo vệ cán bộ và thu hút, trọng dụng nhân tài. Đặc biệt, đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, chưa phản ánh đúng thực chất. Xét ở khía cạnh thu nhập, việc trả lương công chức, viên chức vẫn theo hệ số, có tính chất “cào bằng”, mặc dù áp lực công việc lớn nhưng mức thu nhập nhận lại không cao khiến cho cán bộ thiếu động lực phấn đấu. Ở khía cạnh thăng tiến trong nghề nghiệp, tình trạng bổ nhiệm cán bộ “đúng quy trình” nhưng không bảo đảm tiêu chuẩn, năng lực vẫn là vấn đề nhức nhối; việc trọng dụng người tài có lúc, có nơi vẫn thiếu sự sòng phẳng, chưa thực sự công bằng. Đó là chưa kể, ở một số cơ quan, đơn vị đã xảy ra tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm cho cấp dưới, khi khen thưởng thì nhận thành tích từ trên xuống dưới nhưng khi xử lý sai phạm thì “trên nhẹ, dưới nặng”.

Minh chứng như tại Bạc Liêu, với đam mê nghiên cứu khoa học, đồng chí Dương Văn Ngô, Trưởng phòng Kỹ thuật Trung tâm Giống nông nghiệp Bạc Liêu (Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu) và một số cán bộ ở trung tâm đã nghiên cứu thành công giống lúa BL9. Khi giống được lưu hành, UBND tỉnh đã tặng bằng khen tập thể và cá nhân anh Ngô. Đồng chí Nguyễn Trung Hiếu, Phó giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bạc Liêu chia sẻ: “Thực tế trong lĩnh vực nông nghiệp, cán bộ rất vất vả nhưng cơ chế động viên, khích lệ chưa thật xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ xét ở trường hợp đồng chí Dương Văn Ngô, nếu ở doanh nghiệp, với việc nghiên cứu thành công giống lúa chất lượng như BL9 thì anh sẽ được khen thưởng, đãi ngộ xứng đáng. Nhưng trong khu vực công thì bản thân anh chỉ được nhận bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh, kèm số tiền 1,8 triệu đồng...”.

Xét ở khía cạnh khác, chiếc “gọng” đang “kìm hãm” sự sáng tạo của cán bộ còn nằm ở vai trò người lãnh đạo chủ chốt của từng địa phương, đơn vị... Thực tế, ngay tại Nghị định số 73/2023/NĐ-CP đưa ra quy định “Kế hoạch đề xuất đổi mới, sáng tạo của cán bộ được gửi đến người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ để xem xét, quyết định”. Tuy nhiên, nếu người đứng đầu cơ quan nhận thấy những đề xuất đổi mới, sáng tạo không đúng quy định pháp luật thì rất có thể sẽ không cho phép triển khai. Hay như nghị định cũng quy định, cấp nào cho phép thực hiện đề xuất đổi mới, sáng tạo thì người cho phép chịu trách nhiệm về việc phê duyệt đề xuất nên rất dễ nảy sinh tâm lý không ai dám làm...

Trung tướng Lưu Phước Lượng, nguyên Phó trưởng ban chỉ đạo Tây Nam Bộ, nguyên Phó tư lệnh Quân khu 9, cho rằng, đã là đổi mới, sáng tạo thì có thể đúng, có thể sai, có thể mang lại hiệu quả hoặc gặp thất bại. Vấn đề đặt ra là phải có cách đánh giá, nhìn nhận thực sự phù hợp. Với những cán bộ dám đổi mới, sáng tạo và mang lại hiệu quả, cùng với việc khen thưởng, biểu dương, các cơ quan chức năng cũng nên “có gan” cất nhắc cán bộ một cách tương xứng. Ngược lại, với những trường hợp đổi mới, sáng tạo, vì lợi ích chung nhưng không thành công, có sai sót thì cũng cần động viên, khích lệ cán bộ một cách phù hợp. Nếu ví Kết luận 14 như một chiếc chìa khóa thì những người lãnh đạo đứng đầu các cơ quan, đơn vị chính là người tra chiếc chìa vào ổ khóa, dẫn dắt cán bộ, đảng viên mở ra cánh cửa dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Từ những vấn đề nêu trên, để sức sáng tạo của cán bộ thực sự được “giải phóng”, để tinh thần “6 dám” trong đội ngũ cán bộ các cấp chuyển hóa thành hành động thì còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP; trước đó Bộ Chính trị ban hành Quy định số 117-QĐ/TW ngày 18-8-2023 về xin lỗi và phục hồi quyền lợi của tổ chức đảng, đảng viên bị kỷ luật oan đã đáp ứng được mong mỏi của đội ngũ cán bộ; đồng thời đây là những cơ sở chính trị, hành lang pháp lý rất quan trọng để các cấp triển khai thực hiện Kết luận 14 hiệu quả.

Nhóm PV Báo QĐND

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở - Bài 2: Những khoảng trống từ dám nghĩ đến dám làm

Thứ sáu, 17/11/2023 - 05:35

Không phủ nhận tinh thần năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp trong hệ thống chính trị.

Mặt khác, Đảng, Nhà nước đã có các cơ chế, chính sách về khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám”, tạo cơ sở chính trị, pháp lý quan trọng. Thế nhưng thời gian vừa qua, tình trạng cán bộ sợ sai, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm diễn ra khá phổ biến ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực và nhiều địa phương khiến tâm lý, dư luận xã hội không khỏi hoài nghi, thất vọng.

1. Khuyến khích và bảo vệ cán bộ “6 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo và dám hành động) vì lợi ích chung là chủ trương lớn của Đảng nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp trong hệ thống chính trị đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ. Bằng tinh thần dấn thân, dám làm, dám chịu trách nhiệm, họ là những người tiên phong đột phá vào việc mới, việc khó, qua đó tạo sự chuyển biến rõ nét cho cơ quan, đơn vị, địa phương.

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở - Bài 2: Những khoảng trống từ dám nghĩ đến dám làm
Ảnh minh họa: Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam 

Tại các địa phương, ngay khi Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, hầu hết các tỉnh, thành phố đều ban hành kế hoạch triển khai, cụ thể hóa chủ trương của Đảng. Tại tỉnh Cà Mau, Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 103-KH/TU nhằm giúp cấp ủy, chính quyền, đoàn thể xác định rõ trách nhiệm trong lãnh đạo thực hiện Kết luận 14. Ngoài ra, tỉnh Cà Mau còn tổ chức chương trình kết nối công chức, viên chức trẻ gặp gỡ, giao lưu, trao đổi, đóng góp ý kiến, chia sẻ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng trong quá trình công tác với các cấp lãnh đạo. Đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Cà Mau khẳng định: “Tinh thần dám nghĩ, dám làm của cán bộ, đảng viên đã có sự chuyển biến; có nhiều tập thể đã trăn trở bàn bạc, đưa ra các giải pháp đột phá trong triển khai thực hiện nhiệm vụ”.

Kết luận 14 chính là bước tạo đà, điểm tựa chính trị quan trọng cho đội ngũ cán bộ các cấp thêm vững tin hơn trong quá trình thực thi chức trách, nhiệm vụ được giao. Bởi vậy, trước rất nhiều khó khăn, thách thức, để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu trong Nghị quyết Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, hầu hết các địa phương đã có những sáng tạo đột phá nhất định trong triển khai thực hiện nhiệm vụ. Ví như ngay sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát, Bạc Liêu là một trong những tỉnh đầu tiên của cả nước mở cửa du lịch. Để kích cầu ngành du lịch phát triển, tỉnh đã khởi xướng chương trình ký kết hợp tác phát triển du lịch giữa TP Hồ Chí Minh với 13 tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Qua đây thể hiện rõ tinh thần đột phá, sáng tạo, trong khi thời điểm đó rất ít địa phương dám mở cửa du lịch.

Nhìn lại sau hơn hai năm triển khai thực hiện Kết luận 14 của Bộ Chính trị, lãnh đạo các địa phương đều có chung nhận định, tinh thần dám nghĩ, dám làm của đội ngũ cán bộ đã có sự chuyển biến rõ nét và chỉ cần làm có tâm, làm việc hết tinh thần trách nhiệm, có tinh thần đổi mới, sáng tạo thì ở cơ quan, địa phương nào cũng có. Kết quả khảo sát tại nhiều tỉnh, thành phố cũng cho thấy, địa phương tạo mọi điều kiện để cán bộ phát huy hết tinh thần năng động, sáng tạo; vận dụng tối đa mọi chủ trương để khuyến khích và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Tuy nhiên, mọi sự đổi mới, sáng tạo đều không được vượt ra khỏi khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Đồng chí Lê Văn Sử, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau nhận định: Cho đến nay, gần như tất cả những đổi mới, sáng tạo đã và đang được triển khai, vận hành trong thực tiễn ở tỉnh Cà Mau đều là những “sáng tạo trong khuôn khổ”. Trên thực tế, chưa có những thay đổi thực sự mang tính đột phá về tinh thần năng động, đổi mới, sáng tạo của cán bộ. Từ khi Kết luận 14 được ban hành và đi vào thực tiễn, theo ghi nhận của địa phương, những cá nhân đề xuất ý tưởng mới, sáng tạo đột phá gần như chưa có và cũng chưa có điển hình cán bộ “6 dám” được biểu dương, khen thưởng, nhân rộng...

2. Chưa khi nào đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị lại có tâm lý sợ sai, sợ mắc khuyết điểm như thời gian gần đây. Nhất là việc hàng loạt cán bộ vướng vòng lao lý vì để sai phạm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, khiến không ít cán bộ nảy sinh tâm lý làm việc cầm chừng, với lập luận: Làm nhiều thì sai nhiều, làm ít thì sai ít, không làm thì không sai. Trên nghị trường Quốc hội, khi bàn luận về tình trạng này ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, có đại biểu ví von: “Bên trong cán bộ sợ sai/ Bên ngoài dân chúng thở dài lo âu”. Những vấn đề này đã được nêu ra tại Hội nghị Trung ương giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong đó, bài phát biểu quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên bế mạc đã chỉ rõ biểu hiện và nguyên nhân.

Trên thực tế, những diễn biến tâm lý này vẫn đang tồn tại, âm thầm len lỏi và đã có phần ăn sâu vào tư tưởng của một bộ phận cán bộ, đảng viên, không dễ nhận diện, đấu tranh ngăn chặn triệt để. Kết luận 14 của Bộ Chính trị được ví như “đơn thuốc”, nhưng dường như vẫn chưa đủ “liều lượng” để chữa trị căn bệnh đang ngày một trầm trọng, đè nặng tâm lý của nhiều người. Tình trạng một bộ phận cán bộ, công chức né tránh, thiếu trách nhiệm, sợ sai trong thực thi công vụ không phải là hiện tượng đơn lẻ mà diễn ra ở nhiều địa phương, một số bộ, ngành Trung ương.

Đồng chí Vương Phương Nam, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bạc Liêu thẳng thắn chia sẻ: "Trong quá trình kiểm tra, đội ngũ cán bộ của tỉnh cũng có sự tiến bộ, nhưng một số ít vẫn còn khép nép, e sợ nên tiến độ công việc còn chậm trễ”.

Sự chậm trễ vì tâm lý sợ sai của cán bộ được minh chứng cụ thể trong chuyện bán đấu giá tài sản công trên địa bàn tỉnh. Ngày 16-6-2023, đích thân Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu Phạm Văn Thiều đã có cuộc họp để yêu cầu các sở, ngành, đơn vị chủ quản có tài sản phải nhanh chóng hoàn tất thủ tục để sớm bán tài sản nhằm thu tiền về cho ngân sách nhà nước. Trong khi ai cũng nhận thức được, tiền thu từ bán đấu giá tài sản công sẽ góp phần tạo nguồn thu ngân sách nhà nước để tái đầu tư xây dựng, cải tạo trụ sở làm việc và đầu tư phát triển cho địa phương. Nhận thức là thế, nhưng để bắt tay vào làm thì rất ít ngành, địa phương triển khai vì chưa có hướng dẫn.

Cũng bởi tâm lý sợ sai nên đến cuối tháng 10-2023, vẫn còn 23 sở, ngành, địa phương của tỉnh Bạc Liêu chưa báo cáo, trong các đơn vị đã báo cáo thì có một số vẫn chưa đầy đủ hồ sơ theo yêu cầu. Mặc dù Chủ tịch UBND tỉnh đã xem xét chấp thuận cho bán trước một số cơ sở nhà, đất dôi dư, không có nhu cầu sử dụng, như trụ sở UBND phường 5 và trụ sở UBND phường 7 cũ (TP Bạc Liêu); Bệnh viện Đa khoa huyện Phước Long (cũ); trụ sở Huyện ủy Đông Hải (cũ), nhưng nhiều tháng trôi qua, các cơ sở này vẫn chưa được bán với đủ lý do. Và tình trạng “án binh bất động” như thế đã làm tài sản công bị lãng phí đầy xót xa!

Hay đơn giản như câu chuyện về phân cấp, ủy quyền liên quan đến triển khai Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11-3-2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững. Trong nghị quyết, Chính phủ giao quyền cho các địa phương tự quyết nhằm chấm dứt việc đùn đẩy trách nhiệm, gây khó khăn hoặc chậm trễ trong giải quyết các thủ tục triển khai dự án bất động sản trên địa bàn; tập trung đẩy mạnh hơn nữa việc thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất; đấu thầu dự án có sử dụng đất; chấp thuận chủ trương đầu tư dự án... Tuy nhiên, trên thực tế, các địa phương đều không dám chủ động thực hiện mà phải chờ hướng dẫn.

3. Sợ sai là mức nói giảm, nói tránh của việc né tránh, đùn đẩy công việc, đùn đẩy trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, cái gì có lợi thì vơ vào mình, khó khăn thì đẩy ra cho tổ chức, cho người dân, doanh nghiệp. Xét ở góc độ đạo đức của người cán bộ, đảng viên, đây chính là dấu hiệu của một loại “tự diễn biến”, là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển.

Lý giải cặn kẽ mọi điều cho những hành vi này, có thể phân cán bộ sợ sai ra 3 cấp độ: Ở mức độ thấp là những người không biết gì nên không làm. Đó là những người thiếu bản lĩnh, trình độ và năng lực yếu kém, được đề bạt, bổ nhiệm nhờ thân quen, chạy chức, chạy quyền, “ngồi không đúng chỗ”, không thể thực thi công việc được giao. Mức độ cao hơn, phổ biến hơn là những người có năng lực, trình độ, có kinh nghiệm, nhưng không có lợi ích thì không làm. Họ không tham mưu, đề xuất, không triển khai công việc hoặc triển khai cầm chừng... vì không có lợi ích gì trong đó. Và nhóm thứ 3 là những người biết, nhưng sợ sai nên không làm.

Đồng chí Lư Văn Điền (bí danh Tám Thanh), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ (nay là TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang) nêu quan điểm: “Nếu xét với thực tế hiện nay, tôi khẳng định cán bộ chúng ta có một dám, đó là dám nghĩ. Nhưng từ dám nghĩ đến dám nói, dám làm thì rất ít, mà đã không dám làm thì chắc chắn rằng sẽ không có đổi mới, sáng tạo, không dám chịu trách nhiệm. Thái độ “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn phải đứng trước hội đồng xét xử” trở thành phương châm hành động của không ít cán bộ, công chức. Ở góc độ nào đó, đây có lẽ là “lời tự thú” từ tận đáy lòng của người trong cuộc khi không đủ tự tin để thực thi công việc, vì xung quanh lãnh đạo, đồng nghiệp vừa được tuyên dương thì không lâu sau đó đã bị khởi tố, bắt giam; hoặc là thái độ né tránh công việc khi mà cấp trên không làm gương, chỉ đạo xiên xẹo, khiến họ khó xử”.

Việc cán bộ không dám làm còn là do họ làm với cái tâm không trong sáng. Có ý kiến cho rằng, sở dĩ cán bộ sợ sai, không dám làm là vì cơ chế, chính sách chưa theo kịp thực tiễn phát triển đất nước đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Ở thời điểm này cơ chế có thể đúng, nhưng ở một thời điểm khác có thể sai? Bản chất cơ chế, chính sách là đúng, nhưng cái không đúng là những người có chức quyền, có hiểu biết lợi dụng cơ chế để làm những việc khuất tất, để phục vụ cho lợi ích “sân sau”, lợi ích nhóm. Nếu là do cơ chế, tại sao nhiều cán bộ, công chức chấp nhận nghèo chứ không tham nhũng? Không thể nói những cán bộ đó không hiểu luật, mà họ có đạo đức, có tự trọng, có danh dự. Trong khi đó, những vị chức to, quyền lớn lại không có liêm sỉ thì sao có thể làm đúng được...

Ngoài ra, chúng ta cũng cần nhận thức đúng đắn, phân định rõ giữa đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm với hành động vô kỷ luật, vô tổ chức. Dù trong bất cứ lĩnh vực, hoàn cảnh nào, việc đổi mới, sáng tạo cũng phải hướng đến mục đích phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Điều này cũng đã được Bác Hồ chỉ ra: “Chúng ta phải nhận rõ: Bất kỳ việc to việc nhỏ, hễ thêm điều lợi, trừ điều hại cho quần chúng, giúp quần chúng giải quyết vấn đề khó khăn, tăng kết quả của việc làm, tăng sức sản xuất của xã hội, đánh đổ sức áp bức của quân thù, đó đều là sáng kiến”. “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh” là lời răn dạy sâu sắc của Bác Hồ mà mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ.

“Thực tế cho thấy, một khi cán bộ làm đúng chức trách, phận sự của mình trong công việc thì không phải sợ gì cả. Nếu đội ngũ cán bộ của chúng ta thực hiện mọi việc đều vì lợi ích của nhân dân, mang lại hiệu quả cho sự phát triển và tiến bộ xã hội thì dù “vượt rào”, “xé rào” cơ chế cũng luôn được ủng hộ. Đó là điều chắc chắn”, đồng chí Lư Văn Điền nhấn mạnh.

(còn nữa)

Nhóm PV Báo QĐND

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở - Bài 1: Phác dáng hình hài người cán bộ vì nước, vì dân

Thứ năm, 16/11/2023 - 05:06

LTS: Trong các giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khuyến khích và ủng hộ cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Thực tiễn cho thấy, luôn có những cán bộ dám “đứng mũi chịu sào”, dám đột phá vì sự phát triển của địa phương, đơn vị. Tuy vậy, để biến tinh thần ấy thành hành động trong đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp thì còn nhiều vấn đề đang đặt ra. Từ kết quả khảo sát tại nhiều địa phương, Báo Quân đội nhân dân giới thiệu loạt bài viết “Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở”.

Bài 1: Phác dáng hình hài người cán bộ vì nước, vì dân

1. Ngược dòng lịch sử, vào những năm 60 của thế kỷ 20, đồng chí Kim Ngọc, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc được cả nước biết đến là người đã “xé rào” cơ chế với chủ trương “khoán hộ” trong nông nghiệp. Chủ trương “khoán hộ” là hướng đi tích cực, tìm tòi cách thức quản lý mới trong nông nghiệp, gắn lợi ích của người nông dân với kết quả lao động nhằm đem lại hiệu quả thiết thực trong sản xuất nông nghiệp. Đây là quá trình đổi mới tư duy nhằm tháo gỡ khó khăn trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục yếu kém về công tác quản lý tại các hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc lúc bấy giờ.

“Khoán hộ” chính là những đóng góp quan trọng về lý luận và thực tiễn, là cơ sở quan trọng để Trung ương từng bước hoạch định chủ trương đổi mới quản lý trong nông nghiệp. Trên cơ sở thí điểm ở các địa phương, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 100-CT/TW về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng "khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động" trong hợp tác xã nông nghiệp”. Lần đầu tiên khoán sản phẩm chính thức trở thành cơ chế quản lý mới trong cả nước với tên gọi “khoán 100”. Ngày 5-4-1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW “Về đổi mới quản lý kinh tế trong nông nghiệp” (còn gọi là khoán 10).

Bước vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, một sự kiện làm nức lòng đồng bào miền Nam khi đó là quyết định của Thủ tướng Võ Văn Kiệt về phương án giải quyết tình trạng thiếu điện ở miền Nam, thúc đẩy sản xuất, phát triển kinh tế. Giữa các phương án tìm nguồn điện cho miền Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã chọn phương án xây dựng đường dây siêu cao áp truyền tải điện năng với cáp điện 500kV, trải dài gần 1.500km đi từ miền Bắc, qua 14 tỉnh, thành phố để đưa điện vào Nam.

Ngày 5-4-1992, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đưa ra quyết định khởi công xây dựng đường dây tải điện 500kV Bắc-Nam và hạ quyết tâm hoàn thành trong 2 năm. Cho đến nay, các cán bộ lão thành ngành điện lực vẫn luôn khẳng định: Ông Sáu Dân (Thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã giải quyết vấn đề cấp thiết của đất nước bằng một quyết định táo bạo và đánh cược bằng sinh mệnh chính trị của mình. Tâm, tầm và tinh thần quyết đoán, dám nghĩ, dám làm của người lãnh đạo mới có thể đưa đường dây điện dài nhất lịch sử về đích trong 2 năm. 

Cán bộ “6 dám” - nhìn từ thực tiễn cơ sở - Bài 1: Phác dáng hình hài người cán bộ vì nước, vì dân
 Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

2. Thủ tướng Võ Văn Kiệt và đồng chí Kim Ngọc là hai trong số rất nhiều cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung đã được đất nước, nhân dân và lịch sử ghi nhận. Đây cũng là những minh chứng rõ nhất khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức của đất nước, Đảng ta luôn có những “cánh chim đầu đàn", với tinh thần quyết đoán, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Quá trình khảo sát tại nhiều địa phương, chúng tôi được tiếp cận những con người như thế.

Tại huyện U Minh (Cà Mau), đến nay người dân còn nhắc nhiều đến cái tên Việt “keo lai”. Đây là biệt danh được mọi người đặt cho đồng chí Nguyễn Quốc Việt, nguyên Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau. Năm 2004, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Quốc Việt đã ký công văn chấp thuận dự án trồng cây keo lai trên đất U Minh Hạ. Thời điểm đó, tỉnh Cà Mau đặt ra mục tiêu phát triển rừng bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân và lao động làm nghề rừng. Địa phương đã đưa dân cư vào rừng, kết hợp giao đất khoán rừng, liên doanh, liên kết... và dự án trồng keo lai ra đời. Cụ thể, ngày 2-4-2004, Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Nguyễn Quốc Việt ký công văn chấp thuận dự án đầu tư trồng rừng nguyên liệu giấy của Công ty Cổ phần Đồng Nai (CODONA) tại Lâm ngư trường Trần Văn Thời và Lâm ngư trường U Minh III với tổng diện tích 2.946ha. Đến ngày 10-5-2004, đồng chí Nguyễn Quốc Việt tiếp tục ký Quyết định số 34/QĐ-CTUB thu hồi 2.957,10ha đất của hai Lâm ngư trường U Minh III và Trần Văn Thời để CODONA thuê trồng rừng nguyên liệu giấy với giá 30 đồng/m2/năm (tổng giá tiền thuê đất là 887.130.000 đồng/năm).

Chuyện “động trời” này vô tình “động chạm” đến nhiều người. Người ta cho rằng, nhắc đến U Minh là nhắc đến cây tràm, “đặc sản” của U Minh. Vì vậy, đưa keo lai vào đây trồng sẽ mất rừng tràm, mất đi thương hiệu của U Minh. Người dân không đồng tình, áp lực của dư luận, cộng với tính cách thẳng thắn, để tạo lòng tin cho các lãnh đạo và nhân dân lúc đó trong buổi họp báo, ông Việt khẳng định nếu không thành công thì sẽ từ chức.

Sau vài năm, mô hình trồng keo lai khẳng định về mặt giá trị kinh tế. Bình quân thu nhập đạt 200 triệu đồng/ha keo lai với thời gian thu hoạch rút ngắn được một nửa so với trồng tràm. Trong khi đó, thu nhập từ trồng tràm chỉ đạt 150-160 triệu đồng/ha, nhưng chu kỳ khai thác kéo dài từ 7 năm trở lên. Keo lai được xác định là một trong 6 ngành hàng được ưu tiên trong Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Cà Mau.

Sự quyết liệt trong cách nghĩ, cách làm của ông Việt còn được thể hiện từ khi đảm nhiệm cương vị Chủ tịch UBND huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau (năm 1989-1994). Cụ thể, trước sức ép mặn-ngọt, tỉnh kiên quyết chỉ đạo phải ngăn mặn, giữ ngọt, còn nhân dân đang cần nước mặn để nuôi tôm, đồng chí Việt đã chỉ đạo để người dân trong huyện đắp đập hai lớp. Nghĩa là đập đắp không cao, chỉ nhỉnh hơn mực nước một chút, khi con nước lớn thì tràn qua đập và có nước để cho dân nuôi tôm. Nhắc lại chuyện này, ông Nguyễn Quốc Việt bộc bạch: “Lúc đó căng thẳng lắm, dù có thể mất chức, nhưng việc gì có lợi cho dân thì mình làm thôi!”.

Hiện nay, trong hệ thống chính trị của TP Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang và một số địa phương vùng Đồng bằng sông Cửu Long, có một lực lượng cán bộ đang công tác nhưng từng có thời gian được bồi dưỡng, rèn luyện trong môi trường quân ngũ. Hiện tại, các đồng chí được giữ lại đã phát huy tốt phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, không ngừng rèn luyện, phấn đấu và phát triển ở một số vị trí. Điển hình trong số đó là đồng chí Thiếu tướng Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh. Họ là những “sản phẩm” của đồng chí Lư Văn Điền (85 tuổi), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Cần Thơ (tỉnh Cần Thơ trước đây bao gồm TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang hiện nay) trong những năm 1992-1996.

Đồng chí Lư Văn Điền nhớ lại: “Ngày đó, đội ngũ cán bộ ở cơ sở các tỉnh miền Tây Nam Bộ vừa thiếu, vừa yếu. Trong khi đó, các chiến sĩ Quân đội tại ngũ là lực lượng nòng cốt trong các hoạt động của địa phương, được giáo dục, rèn luyện trong môi trường Quân đội và đây là nguồn cán bộ rất chất lượng cho cơ sở. Nhưng nếu không có kế hoạch để bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng mà chỉ để anh em thực hiện nghĩa vụ quân sự xong rồi xuất ngũ thì rất lãng phí. Để tạo nguồn cho cán bộ cơ sở sau này, tôi đề xuất chủ trương: Sau khi chiến sĩ hoàn thành nghĩa vụ quân sự thì sẽ kéo dài thời gian thêm một năm nữa (ngân sách tỉnh chi trả phụ cấp, kinh phí hoạt động). Trong thời gian này, các thanh niên được tham gia hoạt động, “học việc” ở các ban, ngành, đoàn thể, sau đó sẽ chọn lọc những người ưu tú để bố trí làm việc ở một số lĩnh vực của địa phương”.

3. Thời gian qua, hàng loạt cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương để xảy ra sai phạm, rồi vướng vòng lao lý. Tiếp đó là nhiều cơ chế, chính sách chưa theo kịp với thực tiễn nên quá trình vận hành chính sách nảy sinh không ít bất cập... Những yếu tố này là nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý “co mình” lại, sợ sai không dám làm ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Có người lập luận “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn phải đứng trước hội đồng xét xử”...

Tất nhiên, những lập luận như trên chỉ là cá biệt của những cán bộ đã mang trong mình mầm mống của suy thoái. Thực tiễn chứng minh, dù ở bất kỳ ngành nào, lĩnh vực gì, ở tất cả địa phương, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn có những cán bộ “6 dám”. Đơn cử như tại tỉnh Cà Mau, thời điểm dịch Covid-19 bùng phát diện rộng trên địa bàn tỉnh, đồng chí Hồ Trung Việt, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chính là người đề xuất cách ly người dân tại nhà thay vì đưa về các trung tâm cách ly tập trung.

Theo đồng chí Hồ Trung Việt, những ý tưởng mới, mang tính đột phá thường sẽ khó được chấp nhận nếu chưa kiểm nghiệm trên thực tiễn. “Đề xuất của tôi khi đó cũng có nhiều ý kiến phản đối, nhưng tôi đã làm cam kết, nếu sai sót sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Ban Thường vụ Tỉnh ủy. Ngọc Hiển là huyện đầu tiên ở Cà Mau thực hiện cách ly y tế tại nhà, sau 10 ngày thấy được hiệu quả rõ nét nên lãnh đạo Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã cho chủ trương triển khai trên toàn tỉnh. Tiếp đó, từ cách làm ở Cà Mau, 15 ngày sau, Thủ tướng Chính phủ đã cho áp dụng trên phạm vi cả nước”, đồng chí Hồ Trung Việt chia sẻ.

Hay như tại Bạc Liêu, một trong những lực đẩy mang đến thành công cho ngành công nghiệp năng lượng sạch của tỉnh, đó là tư duy đột phá, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của các đồng chí lãnh đạo tỉnh. Đồng chí Phan Thanh Duy, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu khẳng định: “Trong hai năm 2020 và 2021, đất nước ta nói chung, tỉnh Bạc Liêu nói riêng phải đối mặt với tình hình dịch Covid-19 diễn biến căng thẳng, phức tạp. Tại các tỉnh, thành phố khác, những dự án điện gió đang thi công dang dở và buộc phải tạm dừng. Nhưng đối với Bạc Liêu, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy và Chủ tịch UBND tỉnh đã quyết liệt chỉ đạo, mạnh dạn cho phép lực lượng kỹ sư, công nhân, trong đó có cả các chuyên gia người nước ngoài tự cách ly, tự làm việc để kịp thời hoàn thành các nhà máy điện gió, đưa vào sử dụng theo đúng tiến độ”.

Sự đột phá ấy đem lại hiệu quả to lớn. Trong vòng 10 năm trước đó (từ năm 2010 đến 2020), Bạc Liêu chỉ đưa vào vận hành được 62 trụ turbine gió với công suất 99,2MW. Nhưng chỉ trong hai năm (2020-2021), trên địa bàn toàn tỉnh đã lắp đặt được thêm 100 trụ turbine vừa trên biển lẫn trên bờ với tổng công suất 370MW hòa vào lưới điện quốc gia, đưa Bạc Liêu trở thành tỉnh tiên phong trong cả nước về phát triển các dự án điện gió ngoài khơi...

Tiếp nối những chủ trương của Đảng về khuyến khích, ủng hộ cán bộ dám nghĩ, dám làm, năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, ngày 22-9-2021, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 73/2023/NĐ-CP ngày 29-9-2023 quy định rõ các chính sách khuyến khích và biện pháp bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Qua khảo sát tại nhiều địa phương, như: Cà Mau, Bạc Liêu, Hậu Giang, Ninh Bình, Nghệ An... lãnh đạo các địa phương đều chung khẳng định, Kết luận 14 của Bộ Chính trị như một làn gió mới về cơ sở, góp phần khơi dậy tinh thần năng động, sáng tạo và cổ vũ, động viên cán bộ các cấp dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung...

(còn nữa)

Nhóm PV Báo QĐND