Tự do báo chí và những minh chứng phản bác các luận điệu xuyên tạc

21/06/2026 16:31

Trong thời đại bùng nổ thông tin, quyền tiếp cận thông tin và tự do báo chí trở thành một trong những tiêu chí phản ánh mức độ phát triển của mỗi quốc gia, thể hiện quyền dân chủ của con người.


Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực thường xuyên bị các thế lực thù địch, tổ chức phản động và một số cá nhân thiếu thiện chí lợi dụng để tung ra những luận điệu xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.

c.jpg
Các thông tin xuyên tạc, sai trái trên mạng xã hội về tự do báo chí tại Việt Nam.

Những luận điệu xuyên tạc

Năm nào cũng thế, đến hẹn lại lên, Tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) lại đưa ra các báo cáo về “Chỉ số tự do báo chí”. Gần đây, vào đầu tháng 5/2026, Tổ chức “Phóng viên không biên giới” lại công bố báo cáo thường niên về “Chỉ số tự do báo chí năm 2026”, tổ chức này đã đưa ra những đánh giá mang tính áp đặt, định kiến, xếp Việt Nam đứng thứ 174 trong số 180 quốc gia về tự do báo chí - thuộc nhóm các nước “có nền báo chí tồi tệ nhất thế giới”. Đây không phải lần đầu tiên RSF đưa ra báo cáo dựa trên những thông tin sai sự thật, không có cơ sở và có dụng ý xấu. Những luận điệu xuyên tạc của RSF thực chất là trò “bổn cũ soạn lại”, mục đích nhằm bôi đen hiện thực, vẽ ra bức tranh tối màu về tình hình tự do báo chí để đả phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

RSF là một tổ chức phi chính phủ hoạt động toàn cầu, lấy Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền của Liên hiệp quốc làm cơ sở để hành động. Tôn chỉ hoạt động của tổ chức này đưa ra để bảo vệ tự do báo chí trên thế giới, chống kiểm duyệt và tạo áp lực, giúp đỡ những nhà báo đang bị giam giữ. Hằng năm, vào ngày Nhân quyền thế giới, tổ chức này thường đưa ra bảng xếp hạng về tự do báo chí của các quốc gia, vùng lãnh thổ bằng cách tổng hợp các câu trả lời vào một bảng câu hỏi của RSF.

Nhìn vào tôn chỉ hoạt động, tưởng chừng RSF là một tổ chức chân chính, hoạt động vì sự tiến bộ, thúc đẩy tự do và văn minh của thế giới. Nhưng trái ngược với chủ trương của Liên hiệp quốc, nhiều năm nay, tổ chức này thường xuyên có những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận của một số nước, trong đó có Việt Nam. Nhiều quốc gia trên thế giới cáo buộc RSF đứng đằng sau những vụ việc phức tạp, gây rối, bất ổn, kích động bạo lực. RSF tồn tại và hoạt động dựa vào một phần nguồn hỗ trợ kinh phí của một số chính giới phương Tây. Phần lớn những thông tin được đưa ra là không khách quan, không có hoạt động khảo sát, kiểm chứng thực chất mà đó là những đánh giá thiếu căn cứ hoặc được suy diễn, phóng đại.

Không chỉ có RSF, một số tổ chức, hội, nhóm, đối tượng cơ hội chính trị, đối tượng chống đối còn núp bóng “báo chí độc lập”, “ câu lạc bộ nhà báo tự do", "hội nhà báo độc lập", sử dụng tài khoản cá nhân chuyên đăng tải thông tin xuyên tạc, kênh YouTube hoặc Fanpage chia sẻ nội dung cắt ghép, suy diễn. Bằng sự đánh tráo khái niệm này khiến một số người hiểu nhầm, nhất là khi các thông tin sai lệch được thiết kế theo cách gây sốc, cảm tính, đánh vào tâm lý tò mò, thị hiếu của người sử dụng mạng xã hội.

c2.jpg
Các đại biểu tham quan Hội báo toàn quốc năm 2026.

Thực tiễn đời sống báo chí tại Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có một hệ thống báo chí phát triển rộng khắp với hàng trăm cơ quan báo chí hoạt động trên nhiều loại hình khác nhau từ báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình đến các nền tảng truyền thông số. Hàng chục nghìn nhà báo, phóng viên đang tác nghiệp mỗi ngày trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Từ những vấn đề lớn của đất nước đến những bất cập trong quản lý nhà nước, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí hay những vấn đề dân sinh bức xúc đều được báo chí phản ánh kịp thời, công khai và rộng rãi.

Cụ thể, tại Điều 25, Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Điều 13, Luật Báo chí 2016 quy định: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.

Theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, tính đến 12/2025, cả nước có 778 cơ quan báo chí, gần 21.000 nhà báo được cấp thẻ trong cả lĩnh vực báo chí in, báo chí điện tử và phát thanh, truyền hình. Nhiều cơ quan báo chí đã hình thành mô hình báo và phát thanh - truyền hình, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Nhiều nhà báo được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới.

mh1.jpg
Gian trưng bày của Báo chí Công an tại Hội báo toàn quốc 2026.

Từ những ấn phẩm báo chí đầu tiên được xuất bản trong điều kiện hoạt động bí mật cho đến hệ thống báo chí hiện đại ngày nay, hơn một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã khẳng định vai trò là lực lượng tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng. Ra đời từ yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, báo chí cách mạng không chỉ làm nhiệm vụ truyền tải thông tin mà còn là ngọn đuốc soi đường, góp phần truyền bá tư tưởng cách mạng, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh của nhân dân vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Trong những năm tháng đất nước còn chìm trong ách áp bức, ngòi bút của những người làm báo cách mạng trở thành vũ khí sắc bén, góp phần giác ngộ quần chúng, cổ vũ phong trào đấu tranh và củng cố niềm tin vào con đường cách mạng mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Những trang báo khi ấy được viết nên trong điều kiện vô cùng gian khổ nhưng đã tạo nên sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần quy tụ sức mạnh toàn dân tộc dưới ngọn cờ của Đảng.

Khi đất nước bước vào các cuộc kháng chiến trường kỳ bảo vệ Tổ quốc, báo chí tiếp tục đồng hành cùng dân tộc trên mọi mặt trận. Không ít người đã anh dũng hy sinh trong khi tác nghiệp, để lại những tác phẩm có giá trị lịch sử và tinh thần to lớn. Máu, mồ hôi và tâm huyết của các thế hệ người làm báo đã góp phần viết nên những trang sử hào hùng của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, báo chí tiếp tục phát huy vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; là diễn đàn phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân; đồng thời là lực lượng xung kích trong tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh việc lan tỏa những giá trị tích cực, báo chí còn tích cực tham gia phát hiện, đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt 101 nhà báo tiêu biểu đoạt Giải Báo chí quốc gia qua các năm, nhân dịp kỷ niệm 101 năm ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 – 21/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chia sẻ, đất nước ta đang bước vào một giai đoạn phát triển mới. Cơ hội rất lớn, nhưng yêu cầu đặt ra cũng rất cao. Vai trò của báo chí cách mạng càng quan trọng. Báo chí phải giữ vững bản lĩnh chính trị, nâng cao chất lượng thông tin, lắng nghe đời sống, nói đúng sự thật, nói trúng vấn đề và nói bằng trách nhiệm với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân.

Đồng thời, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu trong thời gian tới, báo chí phải góp phần bồi đắp văn hóa, đạo đức xã hội và khát vọng phát triển đất nước. Báo chí là một bộ phận quan trọng của đời sống văn hóa. Mỗi cơ quan báo chí, mỗi nhà báo không chỉ truyền tải thông tin, mà còn góp phần hình thành chuẩn mực ứng xử, thị hiếu thẩm mỹ, tinh thần nhân ái và ý thức công dân. Quán triệt tinh thần các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa Việt Nam, báo chí cần lan tỏa nhiều hơn những giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam: yêu nước, trung thực, nghĩa tình, cần cù, sáng tạo, tôn trọng kỷ cương và luôn hướng tới cái chung.

Một lần nữa, chúng ta có đủ căn cứ khẳng định, sự thật luôn là câu trả lời thuyết phục nhất. Và thực tiễn sinh động của đời sống báo chí Việt Nam hôm nay chính là minh chứng không thể phủ nhận cho những thành tựu trong bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Lê Cao Thiên 

Xử lý tin đồn ác ý, củng cố đoàn kết nội bộ

Thứ năm, 18/06/2026 - 05:35

LỮ NGÀN

Trong thời đại số, chỉ một dòng trạng thái thiếu kiểm chứng hay một câu chuyện thất thiệt bên bàn trà cũng có thể gây “bão” mạng, cuốn theo danh dự, uy tín và sự nghiệp của tổ chức, cá nhân.

Đối với tổ chức đảng và hệ thống chính trị, những tin đồn ác ý là tác nhân gây chia rẽ nội bộ, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời những tin đồn ác ý để bảo vệ danh dự, uy tín của cán bộ, đảng viên, củng cố đoàn kết, thống nhất trong Đảng là vấn đề cần được coi trọng thường xuyên...

Tác nhân gây rối nội bộ

Trong đời sống xã hội, tin đồn thất thiệt không phải là hiện tượng mới. Từ xa xưa, cha ông ta đã có câu: “Tam sao thất bản”. Một câu chuyện ban đầu có thể rất nhỏ, nhưng khi được truyền từ người này sang người khác sẽ bị thêm thắt, bóp méo, thậm chí biến dạng hoàn toàn. Điều khác biệt trong thời đại số là tốc độ lan truyền của tin đồn đã vượt xa mọi giới hạn của không gian và thời gian. Chỉ cần một tài khoản mạng xã hội đăng tải thông tin chưa được kiểm chứng, trong một thời gian rất ngắn có thể lan rộng tới hàng chục nghìn, hàng trăm nghìn người. Công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang khiến khả năng sản xuất, tán phát thông tin trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Một bức ảnh cắt ghép, một đoạn ghi âm giả mạo, một video clip được tạo bằng AI hoàn toàn có thể khiến công chúng nhầm lẫn thật-giả, đúng-sai.

Xử lý tin đồn ác ý, củng cố đoàn kết nội bộ
Ảnh minh hoạ: thanhnien.com.vn 

Điều đáng lo ngại là không ít tin đồn ác ý lại bắt nguồn từ những điều tưởng như rất bình thường trong đời sống hằng ngày. Đó có thể là một câu chuyện nơi quán cà phê, một lời bàn tán trong cuộc nhậu, một lời đồn đoán ở hành lang cơ quan, một cuộc “ngồi lê đôi mách” giữa những người thích buôn chuyện. Ban đầu chỉ là những suy diễn cảm tính, nhưng qua nhiều tầng nấc truyền dẫn, câu chuyện bị thổi phồng, đơm đặt, chuyện bé xé ra to, từ nghi vấn thành “sự thật”, từ phỏng đoán thành “thông tin nội bộ”...

Trong hệ thống chính trị, những tin đồn ác ý gây ra nhiều hệ lụy. Có những cán bộ phẩm chất đạo đức, năng lực công tác tốt, được xã hội nể trọng, nhưng chỉ vì những lời đồn ác ý mà bị đặt trong ánh mắt nghi ngờ của đồng nghiệp, đồng chí trong cơ quan. Có những tập thể đang đoàn kết, thống nhất, nhưng vì những thông tin thất thiệt mà xuất hiện tâm lý hoài nghi, chia rẽ. Có những chủ trương, quyết sách đúng đắn, nhưng khi bị xuyên tạc, bóp méo lại làm nảy sinh tâm trạng dao động, mất niềm tin trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức... Tin đồn ác ý dạng này không xuất hiện công khai trên không gian mạng mà len lỏi dưới dạng “nghe nói”, “có người bảo”, “nguồn tin nội bộ”... Chính sự mập mờ ấy khiến người tiếp nhận khó kiểm chứng, trong khi tâm lý tò mò lại khiến không ít người vô tình trở thành cầu nối tiếp tay cho quá trình tán phát.

Thực tế cho thấy, tin đồn ác ý là sản phẩm của sự đố kỵ, ganh ghét, hẹp hòi cá nhân, cạnh tranh không lành mạnh... Đó đều là những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Có người tung tin để hạ thấp uy tín đồng nghiệp. Có người tán phát thông tin thất thiệt nhằm phục vụ mục đích tranh giành vị trí, lợi ích... Dù xuất phát từ động cơ nào thì tin đồn ác ý cũng là tác nhân gây tổn hại đến uy tín, danh dự cá nhân và môi trường đoàn kết, thống nhất trong cơ quan, đơn vị.

Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, hành vi tung tin đồn ác ý là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Nó đi ngược lại nguyên tắc trung thực, khách quan, thẳng thắn... của người cán bộ, đảng viên. Người liêm chính góp ý bằng tinh thần xây dựng, đấu tranh bằng sự thật và chứng cứ, trong lúc kẻ tung tin đồn lại lựa chọn cách nói sau lưng, gieo rắc nghi ngờ, khoét sâu mâu thuẫn. Trong môi trường số, những tin đồn ác ý từ nội bộ còn là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng nhằm khuếch đại, xuyên tạc, kích động chống phá. Một thông tin chưa được kiểm chứng trong Đảng và hệ thống chính trị có thể nhanh chóng bị biến thành “bằng chứng” cho những luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng, công kích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ...

Vũ khí đấu tranh là kiểm tra, giám sát

Cần phải thẳng thắn nhìn nhận, việc để cho tin đồn ác ý lan truyền, gây ảnh hưởng đến cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng, ngoài nguyên nhân do mầm mống của chủ nghĩa cá nhân thao túng, còn có nguyên nhân từ công tác kiểm tra, giám sát. Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 7-4-2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng đã chỉ rõ: “... vẫn còn một số cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu chưa quan tâm đúng mức đến công tác kiểm tra, giám sát; việc tự kiểm tra, giám sát, tự phê bình và phê bình còn chưa được thực hiện tốt; công tác kiểm tra ở một số nơi thiếu quyết liệt, thiếu trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả ở các cấp không đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới...”.

Thực tế cho thấy, có những tin đồn ác ý tồn tại dai dẳng chỉ vì không được xác minh, kết luận kịp thời. Người bị đồn đoán không được minh oan. Người nghe không biết tin ai. Tập thể rơi vào trạng thái bán tín bán nghi. Càng kéo dài, những nghi ngờ trong nội bộ càng có điều kiện phát triển.

Kiểm tra, giám sát chính là công cụ để làm rõ trắng-đen, đúng-sai. Khi xuất hiện những thông tin liên quan đến tổ chức hoặc cán bộ, đảng viên, các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động nắm tình hình, xác minh và kết luận khách quan. Nếu có vi phạm phải xử lý nghiêm minh, "không có vùng cấm". Nếu thông tin là sai sự thật thì phải công khai kết luận kịp thời, bảo vệ danh dự và uy tín cho người bị hại. Ở phương diện này, kiểm tra, giám sát chính là cách bảo vệ người tốt, cán bộ có năng lực. Một kết luận rõ ràng, khách quan từ kiểm tra, giám sát có giá trị hơn hàng vạn lời thanh minh của khổ chủ. Khi mọi nghi ngờ được giải đáp thỏa đáng bằng kiểm tra, giám sát thì niềm tin sẽ được củng cố, đoàn kết nội bộ được tăng cường, sức chiến đấu của tổ chức đảng ngày càng vững mạnh. Bên cạnh đó, cần đấu tranh lật tẩy những trường hợp cố tình tung tin đồn thất thiệt, vu khống, bôi nhọ danh dự người khác vì động cơ thấp hèn. Không ai được quyền nhân danh tự do ngôn luận hay môi trường dân chủ để xúc phạm danh dự cá nhân, phá hoại đoàn kết nội bộ, nhất là đối với đồng chí, đồng đội mình.

Trong bài viết “Sức mạnh của đoàn kết” đăng trên Báo Quân đội nhân dân và một số cơ quan báo Đảng ngày 30-6-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) đã nhấn mạnh: “... phải chủ động đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, ngăn chặn kịp thời những tin đồn gây mất ổn định xã hội...”. Đồng thời yêu cầu: “... cần tăng cường đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo với nhân dân, giúp giải tỏa những băn khoăn, nghi ngờ, củng cố vững chắc niềm tin và sự đoàn kết trong toàn xã hội...”. Tinh thần ấy cần được cụ thể hóa thành hành động mạnh mẽ, toàn diện trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là đối với kiểm tra, giám sát.

Trong Nghị quyết 05, Đảng ta yêu cầu công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng phải được tiến hành chủ động, kịp thời, toàn diện, đồng bộ, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh theo đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác Đảng. Tăng cường giám sát thường xuyên, giám sát ngay từ đầu góp phần bảo đảm triển khai thực hiện các chủ trương, quyết sách... Kiểm tra, giám sát phải góp phần kiến tạo, thúc đẩy phát triển, phát hiện và bảo vệ những nhân tố mới tích cực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình, tự kiểm tra, giám sát và chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng, bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, bảo đảm phương châm "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ". Đề cao trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên; phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và của nhân dân trong công tác kiểm tra, giám sát...

Cùng với đó, cần coi trọng và phát huy vai trò nêu gương của cấp ủy, người đứng đầu, phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ luật, kỷ cương. Nơi nào người đứng đầu gần gũi cán bộ, thường xuyên đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của cấp dưới và nhân viên thì nơi đó sẽ có nguồn năng lượng tích cực, triệt tiêu “đất sống” của những tin đồn ác ý. Mỗi cán bộ, đảng viên cũng cần tự trang bị cho mình kỹ năng xử lý thông tin bằng bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và đạo đức công bộc để không trở thành nạn nhân hay người tiếp tay cho những tin đồn thất thiệt. Từ ngàn xưa, cha ông ta đã căn dặn: “Cười người chớ vội cười lâu/ Cười người hôm trước hôm sau người cười...”. Hôm nay, vì tâm lý hiếu kỳ hay thói quen thích buôn chuyện mà vô tình tiếp tay cho tin đồn ác ý, biết đâu ngày mai, chính mình lại trở thành nạn nhân của nó... 

Để giới trẻ không "lạc lối" giữa ma trận tin giả trên không gian mạng

Thứ hai, 15/06/2026 - 05:40

ĐỖ PHÚC ANH (Khoa Kinh tế Chính trị, Trường Sĩ quan Chính trị)

Ngày nay, không gian mạng đã như một trận tuyến không tiếng súng. Trong đó có những cái tốt, có lợi, nhưng cũng đầy rẫy hiểm họa từ các luồng thông tin xấu độc. Thế hệ trẻ-những “công dân số” nhạy bén nhưng dễ tổn thương đang đứng trước nguy cơ bị xâm lấn về nhận thức bởi các biến thể “virus tư tưởng”. Trước thực trạng đó, việc xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” cho mỗi người dân, nhất là giới trẻ chính là chìa khóa để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Nhận diện những “virus” độc hại trên không gian mạng

Kỷ nguyên số với sự thống trị của các nền tảng mạng xã hội hiện nay như: TikTok, Facebook, YouTube..., đã biến thông tin thành một loại “quyền lực mềm” có sức chi phối mạnh mẽ. Chưa bao giờ con người sống trong một môi trường thông tin đa chiều như hiện nay, nơi mỗi cá nhân có thể chạm tay vào kho tàng tri thức nhân loại chỉ sau một cú nhấp chuột.

Nhưng chính trong môi trường trù phú thông tin ấy lại nảy sinh một nghịch lý: Sự bùng nổ của thông tin không tỷ lệ thuận với sự gia tăng của tri thức; tốc độ tiếp cận nhanh không đi kèm với độ chính xác. Không gian mạng bên cạnh vai trò là cầu nối tri thức, đã vô tình trở thành mảnh đất màu mỡ cho các loại “virus tư tưởng” sinh sôi, lan truyền. Không còn là những thủ đoạn tuyên truyền trực tiếp, dễ nhận biết như rải truyền đơn, tờ rơi, biểu tình chống đối, phát thanh, các thế lực thù địch hiện nay đã tận dụng tối đa thuật toán để tạo ra các “hố đen thông tin” hay các “vùng xoáy nhận thức”, tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm, niềm tin của mỗi người dưới những vỏ bọc tinh vi.

Để giới trẻ không "lạc lối" giữa ma trận tin giả trên không gian mạng
 Ảnh minh họa: thanhnien.vn

Đó có thể là ma trận tin giả, nơi những thông tin sai lệch được nhào nặn theo công thức thật giả lẫn lộn, lợi dụng các vấn đề nóng để dẫn dắt dư luận, gieo rắc sự hoài nghi. Có thể là sự công phá vào lịch sử, uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nơi các video ngắn được cắt ghép với nội dung xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm hạ bệ lãnh tụ, làm xói mòn lòng tự hào dân tộc và niềm tin vào con đường cách mạng. Hay là độc tố về lối sống, từ trào lưu khoe khoang, sùng bái vật chất đến các hành vi lệch chuẩn nhân danh tự do cá nhân. Những thông tin xấu độc này không tấn công trực diện mà thẩm thấu qua các nhu cầu giải trí, “mưa dầm thấm lâu”, từng bước làm biến dạng thế giới quan và hành vi của mỗi người.

Để giới trẻ không "lạc lối"

Thế hệ trẻ-những công dân số trong thế kỷ 21 đang là đối tượng chịu sự công phá trực diện của loại “virus” này. Sự nguy hiểm không nằm ở những đòn tấn công ồ ạt, mà ở sự thẩm thấu thầm lặng. Chúng xâm nhập vào trí tò mò, làm tê liệt khả năng phản biện, gây dao động về lý tưởng và làm lệch lạc các giá trị đạo đức cốt lõi. Nếu không có một “hệ miễn dịch” đủ mạnh để tự sàng lọc, giới trẻ rất dễ trở thành những con rối, bị điều khiển bởi những thuật toán độc hại và mưu đồ chính trị đen tối.

Trong bối cảnh ấy, làm sao để không bị nhấn chìm giữa biển thông tin mù mịt? Làm thế nào để thế hệ trẻ đủ năng lực nhận diện, sàng lọc và không bị cuốn theo những dòng thông tin xấu độc là vấn đề vô cùng bức thiết. Xây dựng “sức đề kháng tư tưởng” trở thành yêu cầu cấp thiết, như một liều “vaccine” bảo vệ thế hệ trẻ trong kỷ nguyên số.

Trong kỷ nguyên số, không ai có thể đứng ngoài dòng chảy thông tin, cũng không có vùng an toàn tuyệt đối trước những tác động đa chiều của không gian mạng, điều quan trọng là phải biết nhận diện, sàng lọc và làm chủ thông tin. “Sức đề kháng tư tưởng” chính là “vaccine” bảo vệ mỗi cá nhân trước sự thẩm thấu của thông tin độc hại; là bộ lọc giúp con người tự sàng lọc và loại bỏ các độc tố tinh thần; trang bị cho mỗi người trẻ kháng thể tự nhận diện, tự sàng lọc, tự phản bác các quan điểm sai trái ngay khi nó xuất hiện.

Xét đến cùng, “sức đề kháng tư tưởng” không phải là một trạng thái miễn nhiễm thụ động, mà là năng lực chủ động của con người trong việc làm chủ nhận thức trước dòng chảy thông tin. Nó được cấu thành từ 3 lớp bảo vệ gắn bó chặt chẽ với nhau: Tri thức, tư duy và bản lĩnh.

Tri thức là trí tuệ để hiểu đúng vấn đề. Tư duy là khả năng biết phân tích, phản biện, truy tìm bằng chứng như cách giải một bài toán, giúp người trẻ không dễ dàng bị thao túng bởi những thông tin cắt ghép hay các bẫy cảm xúc trên mạng xã hội. Cuối cùng là bản lĩnh chính trị vững vàng để dám nói không với những trào lưu lệch lạc, dám đấu tranh với những quan điểm sai trái. Khi 3 yếu tố này đủ mạnh, cá nhân có thể tiếp nhận thông tin một cách tỉnh táo, không bị cuốn theo cảm xúc hay tâm lý đám đông, đồng thời biết sàng lọc để giữ lại cái đúng, loại bỏ cái sai. Ngược lại, khi thiếu “sức đề kháng”, con người dễ rơi vào trạng thái tiếp nhận thụ động, hay cực đoan hóa nhận thức: Hoặc tin tất cả, hoặc nghi ngờ mọi thứ xung quanh.

"Sức đề kháng tư tưởng” là kết quả của một quá trình bồi đắp, thông qua học tập và rèn luyện, kết hợp vai trò của Đảng, Nhà nước, gia đình, nhà trường và của chính thế hệ trẻ. Theo đó, Đảng và Nhà nước cần tạo ra những lá chắn vĩ mô, được cụ thể hóa bằng việc hoàn thiện hành lang pháp lý, ban hành các chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch để kiến tạo môi trường mạng an toàn và phát triển các nền tảng số nội địa. 

Gia đình và nhà trường là nơi trực tiếp, gần gũi nhất, bồi dưỡng nhận thức, ý thức lành mạnh, tạo lập môi trường tích cực cho giới trẻ. Vì vậy, cần đồng hành, phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị để trang bị cho người trẻ kỹ năng gạn đục khơi trong, giúp các em nhận diện “virus” độc hại ngay từ khi chúng mới nhen nhóm xuất hiện.

Cuối cùng, với mỗi cá nhân, việc tự học, tự đọc, trau dồi kiến thức và văn hóa chính là quá trình tự sản sinh kháng thể nội sinh. Khi tâm hồn được lấp đầy bằng những giá trị nhân văn và lòng tự tôn dân tộc, mỗi bạn trẻ sẽ có đủ bản lĩnh để tự sàng lọc thông tin, tiếp thu những kiến thức và sự giáo dục của gia đình, nhà trường thành sức mạnh nội sinh vững chắc.

Trong tương lai, thế giới số sẽ còn vận động, biến đổi không ngừng; các loại “virus” thông tin sẽ còn tiến hóa tinh vi hơn nữa. Nhưng khi mỗi người trẻ có tư tưởng tốt, có trí tuệ để thấu suốt thật-giả, có bản lĩnh để bảo vệ lẽ phải, thì không một “virus” nào có thể xâm lăng nhận thức. Phòng, chống các tác động tiêu cực của các thông tin xấu độc trên không gian mạng, bảo vệ sự phát triển lành mạnh của thế hệ trẻ hôm nay chính là bảo vệ sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước mai sau. 

Bài cuối: Hãy nhớ câu “cáo chết ba năm…”

18/06/2026 14:03

Dân gian có câu “cáo chết ba năm quay đầu về núi”, nghĩa là con cáo dù có sắp chết cũng phải tìm đường quay về núi, đó chính là nơi ở của nó, nơi sinh ra nó, cho dù có bị chết dọc đường thì đầu của cáo cũng luôn hướng về núi (tức quê hương) của mình.

Tự đóng sập cánh cửa trở về

Mượn hình ảnh của con cáo, câu thành ngữ “cáo chết ba năm quay đầu về núi” chính là nói về việc dù con người có đi đâu xa, có làm gì chăng nữa, dù thế nào trong cuộc đời thì cuối cùng đều mong muốn trở về với nơi chôn rau cắt rốn, lá rụng về cội, đều hướng về với quê hương, bản quán. Câu thành ngữ răn dạy chúng ta không được quên đi cội nguồn của bản thân mình, phải biết ơn nghĩa sinh thành, thành tâm giữ gìn giá trị nguồn cội.

Vậy mà có những người mang dòng máu Lạc Hồng, sinh thành, dưỡng dục trên quê hương đất Việt, sau này vì các lý do, động cơ khác nhau đã sa ngã, rắp tâm chống phá lại quê hương, đất nước và mãi ôm tư tưởng đối kháng, thù hận, không biết “quay đầu về núi”.

Thành ngữ có câu "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Điều ấy có nghĩa là...
Thành ngữ có câu "cáo chết ba năm quay đầu về núi". Điều ấy có nghĩa là...

Nhưng “Quê hương mỗi người chỉ một”, dân tộc ta có câu “đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, khi biết dưỡng tâm, biết “quay đầu là bờ” thì dù có sai phạm, có trót lỗi lầm hành động lạc lối, làm mẹ cha cũng đều suy nghĩ “chín bỏ làm mười”, “gà cùng một mẹ”, luôn tạo điều kiện cho họ hối cải, trở về. Bởi “cáo chết ba năm quay đầu về núi”, người con đất Việt dù có lúc ngả bên này, ngả bên kia, làm điều sai trái, phản nước, hại dân thì rốt cuộc phải hiểu con đường trở về của mình là gì?

Người ta có trăm ngàn lối đi ra, những lối đi đó có thể đúng hay chưa đúng ở những thời điểm nhận thức khác nhau nhưng khi trở về, chỉ có lối trở về quê cha, đất mẹ bằng thành tâm, bằng bản ngã của mình.

Nhưng với Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa và những trường hợp tương tự, dù rất nhiều lần được cơ quan chức năng mở lối trở về, song trái lại họ chống đối ngày càng quyết liệt. Động cơ không có gì khác chính là nhận tiền tài trợ từ các tổ chức phản động, thù địch, nay bám vào đó tựa như cây ký gửi.

Chính họ đã cố tình đóng sập cánh cửa trở về, quay ngược lại mọi điều kiện mà không có được cái bản năng “quay đầu về núi”, đó thực sự là nỗi xót xa cho người thân. Nhìn cảnh cả tuần nay các đối tượng vạ vật trước cổng Nghị viện châu Âu cố lu loa “bị đàn áp xuyên quốc gia” những mong các nghị sĩ bỏ phiếu cho cái gọi là dân chủ, nhân quyền, để “trả thù” nơi đã sinh dưỡng mình, nhân bản hỏi còn đâu?

Càng đối kháng, chống phá quyết liệt như vậy, cái kiếm được là gì ngoài mấy đồng tiền của các tổ chức thù địch, phản động? Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài hay những trường hợp “đi Tây không biết ngày trở lại” như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, liệu có “sống tự do, dân chủ” mà đánh mất gốc gác, đánh mất lối về, đánh mất đi cái bản ngã cơ bản nhất của con người “giấy rách phải giữ lấy lề”!

Bài học kẻ giảo hoạt vẫn thời sự

Có câu chuyện ngụ ngôn nói về kẻ giảo hoạt. Ý rằng, có một người tính cách rất gian manh, giảo hoạt đánh cược người khác rằng anh ta sẽ chứng minh được tượng thần Delphi là tượng giả. Đến ngày hẹn, kẻ giảo hoạt cầm con chim sẻ trong tay và giấu nó vào ống tay áo ở áo khoác ngoài. Anh ta bước vào, hỏi thần rằng thứ anh ta cầm trong tay là còn sống hay đã chết. Dụng ý của gã là nếu thần nói đã chết, y sẽ lập tức mang con chim sẻ đang sống ra, còn thần nói còn sống thì y sẽ bóp chết chim sẻ rồi đưa ra.

Nhưng vị thần đã kịp nhận ra quỷ kế của anh chàng đê tiện nên nói ngay: “Vật trong tay anh sống hay chết không phải phụ thuộc chính nó mà là ở cái ý đồ độc địa của anh”!

Ngẫm chuyện kẻ giảo hoạt thật sâu cay
Ngẫm chuyện kẻ giảo hoạt thật sâu cay

Ngẫm chuyện ấy, thật thâm thúy. Khi kẻ nào có dụng ý xấu thì chuyện tốt của người khác cũng bị kẻ đó biến thành xấu cả, bất chấp thực tế có tốt đẹp như thế nào. Tồn tại khách quan không có ý nghĩa chứng minh trước động cơ, ý đồ của của kẻ đó vốn chỉ nhằm bôi đen, miệt thị, đả phá. Rõ là, cái tâm xấu thì thế giới quan cũng theo đó mà nhuốm đen, vậy thì việc cải sửa không phải bắt đầu từ thay đổi hiện thực khách quan mà phải thay đổi cái tâm đen của những cá nhân, tổ chức như vậy.

Lâu nay, những kẻ giảo hoạt vẫn luôn miệng ca ngợi nền tự do phương Tây, coi đó là “xứ thiên đường” và muốn “ốp” Việt Nam cũng phải rập khuôn theo nền tự do, dân chủ đó. Sự ngợi ca, tâng bốc này khiến những “con rối” trong nước có lúc như phát cuồng, lên mạng chế diễu nền văn hoá nước nhà, chế diễu tính cách, con người Việt, miệt thị “chế độ đảng trị”, cáo buộc và đưa ra những yêu cầu, đòi hỏi phi lý về dân chủ, nhân quyền. Sự chia sẻ hay cổ suý của không ít người trên mạng internet đã tiếp tay cho hành động gian xảo của những kẻ giảo hoạt, chống phá đất nước.

Tự do, dân chủ ở mỗi quốc gia còn phụ thuộc đặc trưng nền văn hoá, chính trị xã hội và ngay tại nơi mà họ gọi “xứ thiên đường” cũng có khuôn khổ, phép tắc, có những vấn đề khiến không ít kẻ khi đến định cư tại đây đã phải “vỡ mộng”.

Để trở về với đời thường, để được sống trong môi trường bình an của quê hương, đất nước mình, những phạm nhân đã từng phạm lỗi lầm, đã có hành động sai trái hãy tỉnh ngộ, biết nhận ra lẽ phải để cải tạo tốt, tìm lại đường về. Lối về ấy ngay trong suy nghĩ, trong sự nhận thức của mình, lối về ngay dưới bước chân chứ không phải trông đợi ở những tung hô của kẻ giảo hoạt “nhà hoạt động cho dân chủ” như Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa…

Điều này cũng diễn ra như đối với Phạm Thị Đoan Trang hay các phạm nhân từng được “vinh danh” giải thưởng nhân quyền (Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Phương, Trịnh Bá Tư…). Được các đối tượng rêu rao, cổ suý, “tôn vinh” thì thực chất chỉ như những con rối, quân cờ, ra toà lĩnh án rồi chấp hành hình phạt nhưng bị kẻ địch bên ngoài mượn tên để điều khiển, vì động cơ chống phá đất nước.

Bởi vậy, chớ nên nghe xúi bẩy từ đâu mà nghĩ khác, làm khác để tự cho mình là “tù nhân lương tâm”, kiếm tìm ảo vọng ở trời Tây. Chẳng có “thiên đường” nào, chẳng có giải thưởng nào từ các thế lực chống phá bên ngoài giúp phạm nhân “đến với tự do, dân chủ”.

Muốn trở về với tự do, dân chủ như công dân bình thường, điều trước mắt và quan trọng nhất là trót bước lạc đường thì nay chấp hành án trong trại giam thật tốt, hãy ăn năn hối cải, biết nhận ra lỗi lầm để cải tạo tiến bộ, sớm tìm lại con đường về với gia đình, sống có ý nghĩa trên đất nước, quê hương mình.

Nghĩ về những trường hợp lạc bước, sai đường, thật đáng trách khi ở đó có cả những người vốn có nhiều kinh nghiệm cuộc sống, có những cống hiến nhất định trong công tác trước đây. Như với ông Nguyễn Tường Thụy (sinh năm 1950 tại Nam Định) bị phạt tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự. Chấp hành án phạt tù trong trại giam, ông ta lại được tung hô “giải thưởng nhân quyền”, thật khôi hài. Nguyễn Tường Thuỵ cùng những cá nhân như Phạm Thành, Trần Đức Thạch vốn là “người quen” trên các trang viết chống phá Nhà nước, nhân dân.

Đó là những bài học đắt giá. Bài học cho cả những ai đang có tâm lý thế này, thế nọ, có bất mãn hay oán thán gì cũng cần phải bình tâm trở lại, chớ vội quy cho chế độ rồi làm quân cờ phản dân, hại nước.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp vẫn luôn mở rộng với người lầm lỗi để nhận thức, tu chỉnh lại, để cải tạo mà tìm đường về. Đường về ấy, sẽ thật gần nếu đó là sự tu chỉnh, ăn năn. Đường về ấy, có quê hương, có những người thân đang ngóng đợi và chẳng những đường về là sự bước về với chính bản thân mình mà còn là cái để cháu con, người thân nhìn vào đó không thấy ái ngại, không thấy xấu hổ.

Nhiều người nói thẳng, quê hương đang thanh bình, đổi mới thế này, sao cùng máu Lạc Hồng lại rắp tâm chống phá?
Nhiều người nói thẳng, quê hương đang thanh bình, đổi mới thế này, sao cùng máu Lạc Hồng lại rắp tâm chống phá?

Đường về ấy không có trong các mỹ từ mà những kẻ giảo hoạt đã, đang tung hô, không có sau cái gọi là “đấu tranh dũng cảm cho nhân quyền”, “giải thưởng nhân quyền”, “nhà hoạt động cải cách”, không có cái gọi là “nạn nhận đàn áp xuyên quốc gia” như cái cách mà Đài, Khoa đang lu loa.

Đừng biến mình thành quân cờ làm hại đất nước

Quê hương, đất nước bất luận trong hoàn cảnh nào cũng thiêng liêng, cao quý. Làm sao có thể phỉ báng quê hương, đất mẹ, nơi chôn rau cắt rốn của mình, nơi dưỡng dục mình lớn lên. Người phụ bạc với đất mẹ, với Tổ quốc thì còn bước đi đâu mà không phải cúi đầu, còn gì liêm sỉ để ngẩng lên mà nhìn người khác?

Xin viện dẫn câu chuyện của ông Hoàng Duy Hùng, người từng có quá khứ chống đối quyết liệt để thấy rằng, không thể nói định kiến là cố hữu mà sự thay đổi nhận thức là hoàn toàn có thể theo nghĩa tiếp cận đạo lý, lẽ phải.

“Tôi chống Đảng, Nhà nước từ năm 1984 và trở thành một đảng viên trung ương của đảng Đại Việt vào năm 1986. Khi được tổ chức cử về đất nước, lúc đó quê hương còn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị bao vây, cấm vận từ nhiều phía… Sau khi bị bắt giữ, được trả tự do vào năm 1993 thì đất nước của vẫn còn nghèo nên tôi vẫn có tư tưởng chống cộng” – ông Hùng nhớ lại những năm tháng lầm đường, lạc bước. Nhưng rồi, những lần trở lại Việt Nam, tiếp xúc với những người thân yêu trên quê hương đất mẹ, chứng kiến những phát triển, đổi thay của đất nước, ông Hùng dần nhận ra lẽ phải.

Trong lần trở về quê ăn Tết Nguyên đán năm 2022, ông chia sẻ: “Khi rời quê hương, tôi còn rất nhỏ. Tôi luôn ao ước được ăn một cái Tết đầm ấm ở quê nhà. Ngày 20/1/2022, tôi đáp chuyến bay từ Mỹ về Việt Nam. Đây không phải là lần đầu tiên người con xa xứ như tôi về với đất mẹ nhưng cảm xúc lần này khác nhiều so với lần trước. Bởi đây là lần đầu tiên, tôi được đón một cái Tết đúng nghĩa của người Việt… Được nhìn thấy những đổi thay từng ngày, từng giờ ở mảnh đất nơi chôn rau, cắt rốn, cảm xúc của tôi lại xốn xang, khó có thể diễn tả hết bằng lời”.

Bài cuối: Hãy nhớ câu “cáo chết ba năm…” ảnh 4

Ông Hoàng Duy Hùng thăm Di tích lịch sử Điện Biên Phủ

Ông kể rằng, trở về và đi nhiều nơi, chứng kiến sự thay đổi, cuộc sống bình an của người dân, chính điều đó đã tác động không nhỏ đến suy nghĩ của mình. Rồi ông quay những clip về quê hương, đất nước đưa lên mạng. Qua những đoạn clip, góc nhìn của mình, ông mong muốn mỗi người Việt đang có tư tưởng chống cộng hiểu rằng, có thể họ hận thù với chế độ này vì họ chưa được thấy những ảnh thật về quê hương, đất nước, vì những định kiến xưa cũ.

“Quê hương nghĩa nặng tình sâu”, lòng yêu nước và hướng về quê hương luôn là một giá trị thiêng liêng với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Kẻ giảo hoạt bản chất gian trá, là những “túi mù” vốn chỉ nhằm phá hoại sự yên bình, ổn định của chúng ta. Đừng biến mình thành quân cờ với những lời lẽ nguỵ biện kiểu “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”, “nhà cải cách”, đừng trở thành con rối trong tay kẻ giảo hoạt, làm hại quê hương, đất nước, chống lại Đảng, chế độ.

Kiều bào ta ở nước ngoài luôn một lòng hướng về quê nhà. Nhớ quê, yêu quê, họ thành tâm đóng góp xây dựng quê hương
Kiều bào ta ở nước ngoài luôn một lòng hướng về quê nhà. Nhớ quê, yêu quê, họ thành tâm đóng góp xây dựng quê hương

Ông Vũ Trọng Kim, nguyên Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam kể rằng, nhiều năm tham gia công tác mặt trận, ông đã có các cuộc tiếp xúc với đồng bào ta ở nước ngoài. Nhiều người từng chống phá quyết liệt, nhưng sau lại là người rất xuất sắc trong việc vận động kiều bào ủng hộ đất nước. Có những người trước đây rất bất mãn, vì lý do này khác hoặc vì chính sách thực hiện không tới nơi tới chốn thì bây giờ đều đã thay đổi. Họ đã gạt đi những gì là cá nhân vị kỷ, họ được giải thoát. Sự thật, nhiều đồng bào ta ở nước ngoài, nhất là những người có tuổi thường nghĩ nhiều hơn và mong mỏi quay về quê hương.

Những người từng có quá khứ đối đầu quyết liệt, nay còn tìm lại chính mình như vậy. Còn như Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài đều sinh trưởng sau này, vậy mà chỉ tìm con đường chống phá đến cùng để được hải ngoại “nuôi cơm”, tự đóng cánh cửa trở về...

Dân chủ, nhân quyền, giá trị đó không từ trời Tây rơi xuống, không ngộ nhận từ “phong trào” nào từ hải ngoại. Những người ở trong nước, hãy coi đó là bài học cảnh tỉnh, đừng vì bất cứ động cơ nào tự biến mình thành quân cờ của kẻ chống phá quê hương.

MINH ĐĂNG 

Bài 4: Không thể đánh tráo bản chất

17/06/2026 19:00

“Đàn áp”, “đàn áp xuyên quốc gia”, “tra tấn”… là những cụm từ mà các “nạn nhân” tung hô hòng gây sức ép lên các quốc gia, tổ chức quốc tế. Việc hơn tuần nay, nhóm Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài khăn gói trước cổng Nghị viện châu Âu nhằm thực hiện ý đồ đó.

Tung hô, biến tấu nghị quyết và những ảo tưởng

Chiều 16/6/2026, sau nhiều ngày vạ vật trước cổng Nghị viện châu Âu, đăng tải hàng loạt bài viết, clip vu cáo “đàn áp xuyên quốc gia”, nhóm Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài tỏ ra vô cùng hí hửng, nói rằng Nghị quyết chống đàn áp xuyên quốc gia, trong đó có Việt Nam đã được Nghị viện châu Âu thông qua. Thông tin còn nêu bao nhiêu phiếu thuận, bao nhiêu phiếu chống, bao nhiêu phiếu trắng rồi tuyên bố “chúng ta đã vận động thành công”.

untitled-1.jpg
Toàn cảnh phiên họp của Nghị viện châu Âu hôm 16/6/2026.

Ngay lập tức, Đài, Khoa cùng các hội, nhóm phản động lưu vong vốn đang cần tìm tiếng nói ủng hộ của các tổ chức quốc tế, đồng thanh lên bài, tung clip “ăn mừng”. Nguyễn Văn Đài rêu rao rằng, báo cáo tập trung chỉ rõ hành vi đàn áp xuyên quốc gia của 4 quốc gia Trung Quốc, Iran, Nga và Việt Nam. Những hành vi này bao gồm theo dõi, đe doạ, bắt cóc, quấy rối và các hình thức ép buộc khác nhằm “bịt miệng những tiếng nói bất đồng, nhà hoạt động nhân quyền, người tị nạn và cộng đồng người gốc của họ đang sinh sống tại châu Âu và trên thế giới”.

Từ đó, Đài tỏ ra tự mãn coi Nghị viện châu Âu đã gửi thông điệp mạnh mẽ bảo vệ tự do và nhân quyền, ca ngợi “làm nên một cột mốc quan trọng trong cuộc đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền”, “dù đối mặt áp lực từ nhiều phía, các dân biểu đã chọn đứng về phía công lý”, “quyết định hôm nay là ngọn hải đăng hi vọng cho tất cả những ai yêu chuộng tự do”!

Té nước theo mưa, hàng loạt bình luận của các thành phần chống phá, bất mãn cũng cổ suý thông tin trên, nhất là trong nhóm Hội Anh em dân chủ của Đài, các trang chống phá Việt Tân, Nhật ký yêu nước... Nhiều “còm” cho rằng đã đến lúc Nghị viện châu Âu và các tổ chức quốc tế cần làm mạnh, quan tâm hơn nữa vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Đáng chú ý, trong nhiều clip, các đối tượng bêu tên một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, vu cáo chế độ đảng trị, công an trị, xuyên tạc chính sách, các chỉ đạo “đàn áp, bắt bớ xuyên quốc gia”. Các hình ảnh lãnh đạo Đảng, Nhà nước được các đối tượng cắt ghép kèm các lời bình thâm độc hòng chế nhạo, phỉ báng, tạo cách nhìn lệch lạc trên mạng xã hội.

untitled-2.jpg
Các đối tượng chụp ảnh “tự sướng” trước cổng Nghị viện châu Âu.

Việc Nghị viện châu Âu thông qua Nghị quyết A10-0142/2026 về chống đàn áp xuyên quốc gia (Transnational Repression – TNR) ngày 16/6/2026 đã nhanh chóng trở thành một chủ đề được quan tâm trong các diễn đàn chính trị, truyền thông và nhân quyền quốc tế. Qua tìm hiểu của chúng tôi, tại một số quốc gia có đề cập trong nghị quyết, văn kiện này kiểu như thế này được đánh giá là thiếu khách quan, nhận định sai lệch, bị xem là sự mở rộng quá mức của các diễn ngôn nhân quyền và có nguy cơ bị lợi dụng như một công cụ gây áp lực chính trị. Đối với các thành phần chống phá, phản động lưu vong thì ngược lại, coi đây là dấu mốc, là điểm tựa để bấu víu.

Việc đeo bám, chầu chực trước cổng cơ quan Nghị viện châu Âu, đưa các thông tin xuyên tạc, méo mó, tung hô làm rùm beng trên mạng xã hội, nay khi có thông tin Nghị viện thông qua nghị quyết lại hò hét, coi như “phao cứu sinh”, cho thấy sự cùng quẫn của những đối tượng chống phá lưu vong. Chưa cần biết ý nghĩa, bản chất, hiệu quả đến đâu, họ cứ coi thông tin đó như “giọt sữa” mà những người chờ vốn đói khát bấy lâu.

Hiểu đúng về nghị quyết của Nghị viện châu Âu

untitled-3.jpg
Lê Trung Khoa liên tục tung các clip vu cáo “đàn áp xuyên quốc gia”.

Để đánh giá khách quan ý nghĩa của Nghị quyết A10-0142/2026, trước hết cần đặt nó trong bối cảnh thể chế của Liên minh châu Âu. Qua nghiên cứu cho thấy, không giống như các đạo luật quốc gia, Nghị viện châu Âu không phải là cơ quan duy nhất có quyền quyết định chính sách đối ngoại hoặc áp đặt các biện pháp trừng phạt quốc tế.

Trong cấu trúc quyền lực của EU, Nghị viện đóng vai trò đại diện dân cử, tham gia lập pháp cùng Hội đồng châu Âu và giám sát hoạt động của Ủy ban châu Âu. Các nghị quyết của Nghị viện, trong đa số trường hợp, mang tính chính trị và định hướng chính sách nhiều hơn là tạo ra nghĩa vụ pháp lý trực tiếp. Chính vì vậy, điều đầu tiên cần thấy là Nghị quyết không phải là một văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cưỡng chế đối với các quốc gia ngoài EU.

Nghị quyết không tự động tạo ra các lệnh trừng phạt, không làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý đối với Việt Nam hay bất kỳ quốc gia nào khác, cũng không đồng nghĩa với việc EU chính thức kết luận một quốc gia đã vi phạm luật pháp quốc tế. Văn kiện này chủ yếu phản ánh quan điểm chính trị của nghị sĩ Nghị viện Châu Âu về khái niệm “đàn áp xuyên quốc gia” (Transnational Repression – TNR) và đề xuất các hướng hành động mà EU nên xem xét trong tương lai.

Từ góc độ nội dung, nghị quyết được xây dựng trên nhiều báo cáo chưa có độ tin cậy để nhận định rằng, đàn áp xuyên quốc gia đang trở thành một thách thức ngày càng nghiêm trọng đối với các nền dân chủ phương Tây. Báo cáo của Ủy ban Đối ngoại (AFET) do nghị sĩ Hannah Neumann làm báo cáo viên cho rằng nhiều chính phủ trên thế giới đang tìm cách mở rộng ảnh hưởng đối với những “người bất đồng chính kiến, nhà báo lưu vong, nhà hoạt động nhân quyền hoặc các nhóm đối lập sinh sống bên ngoài lãnh thổ quốc gia của họ”.

Theo quan điểm của báo cáo, các hành vi này có thể bao gồm theo dõi kỹ thuật số, gây áp lực đối với người thân trong nước, lạm dụng cơ chế dẫn độ quốc tế, sử dụng các chiến dịch gây ảnh hưởng trên mạng xã hội hoặc trong những trường hợp khác.

Điểm đáng chú ý là nghị quyết không chỉ đề cập đến một quốc gia cụ thể mà xây dựng một khuôn khổ chung nhằm xử lý hiện tượng TNR trên phạm vi toàn cầu. Trong các phần thảo luận và phụ lục liên quan, nhiều quốc gia được nhắc đến với mức độ khác nhau, bao gồm Trung Quốc, Nga, Iran, Belarus, Rwanda, Thổ Nhĩ Kỳ và một số nước khác. Các hội, nhóm chống phá ở hải ngoại đã lợi dụng vấn đề này để đeo bám, vận động chính sách, đưa ra các báo cáo có nội dung vu cáo, xuyên tạc hòng tác động đến quan điểm của các nghị sĩ Nghị viện.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng việc một quốc gia được nhắc đến trong nghị quyết không đồng nghĩa với việc quốc gia đó trở thành đối tượng trung tâm của toàn bộ văn kiện. Trên thực tế, phần lớn nội dung của Nghị quyết A10-0142/2026 tập trung vào việc xây dựng cơ chế phối hợp nội bộ của EU. Nghị viện kêu gọi thành lập một đầu mối điều phối về TNR ở cấp liên minh, tăng cường chia sẻ thông tin giữa các cơ quan thực thi pháp luật, nâng cao năng lực điều tra, hỗ trợ nạn nhân và khắc phục những khoảng trống pháp lý trong hệ thống hiện hành. Nghị quyết cũng đề xuất EU nghiên cứu khả năng áp dụng các biện pháp hạn chế đối với các cá nhân bị cho là có liên quan đến TNR trong những trường hợp cụ thể và có đủ căn cứ.

Từ góc độ pháp lý quốc tế, các tổ chức vận động chính sách tìm cách diễn giải nghị quyết như một hình thức “lên án chính thức” hoặc “kết luận vi phạm” đối với các quốc gia bị nêu tên. Tuy nhiên trên thực tế, nghị quyết không phải là một bản án tư pháp, không phải kết quả của một quá trình điều tra độc lập theo tiêu chuẩn tố tụng quốc tế, cũng không phải là quyết định của một cơ quan tài phán quốc tế. Các nhận định trong nghị quyết chủ yếu dựa trên các báo cáo, điều trần, nguồn thông tin từ tổ chức “xã hội dân sự” và các đánh giá chính trị của các nghị sĩ tham gia.

Do đó, văn kiện này chỉ có thể được sử dụng làm cơ sở tham khảo trong các cuộc đối thoại nhân quyền giữa EU và Việt Nam, trong các cuộc thảo luận liên quan đến chính sách đối ngoại, thương mại hoặc hợp tác an ninh. Cần thấy rằng, việc nghị quyết được thông qua không làm thay đổi ngay các cam kết quốc tế hiện có giữa Việt Nam và EU, cũng không tự động dẫn đến các biện pháp chế tài cụ thể.

untitled-4.jpg
Thông tin về nghị quyết của Nghị viện châu Âu được các hội, nhóm lưu vong làm nóng trên mạng.

Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Việt Nam

Tuy nhiên, dù tác động ở góc độ nào, khi tổ chức quốc tế như Nghị viện châu Âu đưa ra những đánh giá, nhận định có những điểm sai lệch về nhân quyền trong nghị quyết cũng sẽ tác động không tốt đến Việt Nam. Về vấn đề này, những năm qua, Bộ Ngoại giao Việt Nam và các cơ quan hữu quan cũng đã có các buổi làm việc, nhấn mạnh Việt Nam coi trọng quan hệ đối tác và mong muốn tăng cường trao đổi nhằm giúp Nghị viện châu Âu có đầy đủ thông tin khách quan và hiểu đúng hơn tình hình thực tế về thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhiều lần khẳng định, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người là chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam. Việt Nam luôn xem con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và công cuộc phát triển đất nước, luôn nỗ lực vì mục tiêu nâng cao đời sống, quyền thụ hưởng của người dân, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Ở Việt Nam, tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật, bởi bất cứ ai và vì bất cứ lý do gì, đều phải bị xét xử nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và bảo đảm sự thụ hưởng đầy đủ các quyền và tự do của mỗi người dân trong một xã hội an toàn, trật tự và công bằng. Không ai bị bắt giữ, xét xử vì thực hiện các quyền con người một cách chính đáng. Việt Nam coi trọng quan hệ hợp tác với Liên minh châu Âu và sẵn sàng trao đổi về quyền con người trên tinh thần xây dựng nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau.

Hai bên cũng đã có cơ chế đối thoại nhân quyền thường niên để trao đổi về các vấn đề cùng quan tâm. Việc tăng cường trao đổi, đối thoại thông qua các cơ chế hiện có sẽ giúp Nghị viện châu Âu có đầy đủ thông tin khách quan và hiểu đúng hơn tình hình thực tế về thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, qua đó cùng thúc đẩy quan hệ song phương.

Không để khoảng trống trong xử lý tội phạm

Điều 6, Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015 quy định, công dân Việt Nam phạm tội ở ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo Bộ luật này. Việc xử lý tội phạm diễn ra tại nước ngoài còn cần thông qua các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự giữa Việt Nam và nước sở tại. Đồng thời, quy định tại Điều 491, Bộ luật Tố tụng hình sự thì hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự là việc các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài phối hợp, hỗ trợ nhau để thực hiện hoạt động phục vụ yêu cầu điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự gồm tương trợ tư pháp về hình sự, dẫn độ, tiếp nhận, chuyển giao người đang chấp hành án phạt tù và các hoạt động hợp tác quốc tế khác được quy định tại Bộ luật này, pháp luật về tương trợ tư pháp và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Trường hợp Việt Nam chưa ký kết hoặc chưa gia nhập điều ước quốc tế có liên quan thì việc hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự được thực hiện theo nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật quốc tế và tập quán quốc tế.

Như vậy, trong vụ án Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa, tuy đối tượng thực hiện hành vi ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng hoàn toàn có căn cứ để cơ quan tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam theo BLHS. Hiện bản án tù 17 năm cho mỗi đối tượng đã được TAND TP Hà Nội tuyên và cả hai đối tượng đang bị truy nã quốc tế.


Do đó, không thể lập lờ đánh lận, biến tấu từ tội phạm đã bị tuyên án, bị truy nã thành “nạn nhân đàn áp xuyên quốc gia”, gây áp lực với Nghị viện châu Âu cũng như các tổ chức quốc tế hòng tạo lớp áo nhân quyền, dân chủ che chắn cho bản chất tội phạm nguy hiểm của mình.

(Còn nữa)

Minh Đăng