Bài cuối: Phá tan kế hoạch ly khai ngông cuồng

Thứ Sáu, 05/04/2024, 08:03

Việc người Mông bị kẻ xấu xúi giục và các thế lực thù địch dụ dỗ thuyết phục xưng vua, đòi lập Vương quốc Mông đã có từ thời những năm đầu thập kỷ 80 nhưng rộ nhất là từ 1986. Ngày đấy ở bản người Mông nào xì xầm chuyện sắp có vua Mông Vàng Chứ.

Bà con người Mông râm ran kháo nhau rằng đi theo Vàng Chứ thì sẽ có nhà cao cửa rộng, sẽ không phải làm gì mà cũng có ăn, rồi tha hồ được đi Thái Lan, đi cả Mỹ. Thậm chí nói rằng đi theo Vàng Chứ sẽ trở thành người Giời, biết bay…

Nghèo khó… ló nổi loạn

Thời đó, tỉnh Lai Châu chưa chia tách làm 2 như hiện nay. Đó là một tỉnh rộng nhất Việt Nam nhưng cũng nghèo nhất Việt Nam. Nghèo đến mức độ mà ở một số nơi như huyện Mường Tè, cứ vào trước mùa mưa, Nhà nước lại phải tổ chức lập “cầu hàng không” chở gạo, muối, dầu hoả, thuốc men và các loại hàng hoá thiết yếu khác đến hỗ trợ bộ đội, công an, giáo viên và bà con ở các xã vùng ngã ba biên giới Việt - Trung - Lào. Thậm chí, bà con một số xã huyện Mường Tè được cấp không muối, dầu hoả và vải mặc. Năm 1984, tôi đi bộ từ huyện lỵ Mường Tè lên xã Sín Thầu mất đúng 7 ngày. Ngày nào đi ngắn thì khoảng 25 cây số, còn ngày đi chặng dài nhất là gần 60 cây…

Bài cuối: Phá tan kế hoạch ly khai ngông cuồng -0
Trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an chỉ đạo phương án giải quyết điểm nóng Mường Nhé (tháng 5/2011).

Trong bối cảnh người Mông đang đua nhau theo Vàng Chứ thì Công an tỉnh Lai Châu ngày ấy do Thiếu tướng Nguyễn Trọng Tháp làm Giám đốc đã phải rất vất vả để ngăn chặn. Người có công đầu trong việc vận động bà con người Mông không nghe lời kẻ xấu là Phó Giám đốc Giàng Páo Ly.

Ông Giàng Páo Ly là người Mông, đi Công an vũ trang (nay là Bộ đội Biên phòng) từ năm 1959, ông là chiến sĩ Công an vũ trang đầu tiên của người Mông được gặp Bác Hồ. Ông còn là người nổi tiếng khi sáng tác bài hát “Anh lại về” mà rất nhiều cán bộ Công an thế hệ sau vẫn còn đang nhớ. Bài hát có câu: “Cầu mùng, cầu cháo lù/Cầu mùng cầu cháo lu…”. Nghĩa là “anh bộ đội ơi, anh công an ơi, anh đi rồi anh lại về, anh về với bản của mình nhé…”. Phó Giám đốc Giàng Páo Ly có biệt tài nói chuyện với người Mông và cách xử lý của ông bao giờ cũng được bà con tâm phục khẩu phục...

Bà con người Mông sống nghĩa hiệp nhưng rất cả tin và hay có cái lý sự riêng của mình. Họ không ưa nói dài dòng văn tự, lý thuyết suông mà ưa dẫn chứng bằng những hình tượng cụ thể, dễ hiểu. Chính vì vậy, mà cán bộ làm công tác vận động quần chúng với người Mông phải “có duyên”, phải nói tiếng nói và tư duy theo kiểu người Mông.

Trở lại vụ Huổi Khon, vào những ngày cuối tháng 4/2011, tại huyện Mường Nhé, tình hình căng như dây đàn. Đã có nhiều phương án dẹp vụ bạo loạn này được đặt ra, trong đó đáng chú ý nhất là phương án dùng Bộ đội đặc công đột nhập vào bắt những tên cầm đầu. Tuy nhiên trở ngại lớn nhất là các đối tượng cầm đầu nhóm “6 sao” di chuyển liên tục. Còn anh em đặc công hầu hết là người Kinh, không ai biết tiếng dân tộc là người Mông thì làm sao biết đứa nào cầm đầu, đứa nào không.

05a - chính quyền tỉnh điện biên hỗ trợ phương tiện đưa nhân dân trở về nơi ở cũ.jpg -0
Lực lượng Công an và chính quyền tỉnh Điện Biên hỗ trợ phương tiện đưa người dân trở về nơi ở cũ.

Lại có một phương án nữa đó là dùng Cảnh sát cơ động của Bộ Công an và Công an tỉnh tấn công tổng lực vào Huổi Khon nhưng phương án này dễ gây đổ máu và lãnh đạo Bộ Công an luôn nhất quán chỉ đạo phải bảo đảm an toàn cho người dân và lực lượng làm nhiệm vụ…

Trong lúc còn đang bàn tính, thì tên cầm đầu nhóm “6 sao” là Vàng Ía đề nghị được đối thoại với Chủ tịch UBND tỉnh Mùa A Sơn. Nhận được thông tin này, sau khi bàn bạc kĩ với lực lượng chức năng, anh Mùa A Sơn quyết định đi cùng hai cán bộ Công an không mang theo vũ khí vào gặp bọn chúng.

Buổi gặp gỡ diễn ra khá bất ngờ, các đối tượng nhóm “6 sao” tỏ ra khá ôn hoà nêu những yêu sách của chúng. Đó là phải để cho người Mông thành lập vương quốc riêng, bao gồm toàn bộ các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, một phần của Hòa Bình, một phần Thanh Hoá và cả bốn huyện biên giới Hà Giang là Đồng Văn, Mèo Vạc, Hoàng Su Phì, Xín Mần.

Chủ tịch Mùa A Sơn đã đối thoại với chúng bằng tiếng Mông. Anh khuyên giải chúng nếu có đề nghị gì thì cứ bình tĩnh để lãnh đạo tỉnh trình lên Trung ương xem xét, còn việc quan trọng nhất bây giờ là phải để Hội Chữ thập đỏ của tỉnh mang nước uống, thuốc men và thực phẩm vào cho người già và con trẻ. Chủ tịch tỉnh cũng nói dứt khoát: “Nếu để một người bị ốm chết ở Huổi Khon thì chính quyền sẽ xử lý các anh”.

Cuộc gặp gỡ kéo dài khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ thì nhóm cầm đầu để Chủ tịch Mùa A Sơn trở về an toàn.

Tháo ngòi nổ “quả bom Mường Nhé”

Ngày 4/5/2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cùng một số đồng chí lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương đi trực thăng lên Mường Nhé. Trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an (hiện là Đại tướng, Bộ trưởng) đã có mặt trước khi Thủ tướng lên, cùng với một trung đoàn Cảnh sát cơ động do Thiếu tướng Nguyễn Văn Vượng - Tư lệnh Cảnh sát cơ động chỉ đạo trực tiếp.

Sau khi nghe Bộ Công an, Công an tỉnh báo cáo, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kết luận: Phải giải quyết xong vụ bạo loạn này trước ngày 20/5/2011 vì đó là ngày bầu cử toàn quốc nên không thể kéo dài. Trong phương án giải quyết, dứt khoát không được đụng độ với dân và Thủ tướng nói thẳng quan điểm để bà con nghe theo lời kẻ xấu dẫn đến thế này, chính quyền cũng có lỗi. Thủ tướng cũng giao việc giải quyết vụ bạo loạn này cho Bộ Công an giải quyết chính và yêu cầu chở gấp lên lương thực, thực phẩm để giúp bà con.

Bài cuối: Phá tan kế hoạch ly khai ngông cuồng -0
Chính quyền tỉnh Điện Biên hỗ trợ kinh phí giúp người dân trở về nơi ở cũ.

Trước khi lên máy bay về Hà Nội, Thủ tướng còn nhắc lại yêu cầu: “Trừng trị bọn cầm đầu nhưng phải bảo vệ dân”. Sau khi có sự chỉ đạo của Thủ tướng và lãnh đạo Bộ Công an, Công an tỉnh dưới sự chỉ đạo trực tiếp lúc này của Thứ trưởng Tô Lâm, đã xây dựng một kế hoạch hết sức tỉ mỉ, cụ thể và tính toán đến từng chi tiết nhỏ nhất.

Cũng qua các công tác nghiệp vụ, Công an tỉnh Điện Biên xác định được bọn cầm đầu có rất ít vũ khí nóng, mà chủ yếu là dao, gậy và nỏ. Anh em trinh sát cũng đã đánh giá được sự nguy hiểm của những tên cầm đầu “có mức độ”… Tuy nhiên điều làm Trung tướng Tô Lâm và lãnh đạo Công an tỉnh Điện Biên lo lắng đó là tình trạng mất vệ sinh, thiếu đồ ăn, nước uống đang rất trầm trọng. Đã có một số trẻ em, người già bị ốm, suy kiệt.

Ngày 6/5/2011, Công an tỉnh Điện Biên cử hai cán bộ vào “đàm phán” với nhóm “6 sao” về việc để tổ chức Hội Chữ Thập Đỏ của tỉnh mang lương thực, nước uống vào cho bà con, và khám bệnh phát thuốc. Sau một hồi suy nghĩ bọn chúng đồng ý nhưng với điều kiện chỉ cho 10 người vào, còn lương thực, thực phẩm xếp ngoài hàng rào dây thép gai, chúng sẽ cho người ra lấy. Sau khi giải thích mãi, chúng đồng ý cho 15 người.

Phương án tác chiến đặt ra là khi Hội Chữ Thập Đỏ lọt qua được hàng rào thì lập tức khống chế ngay những tên có mặt ở đấy và phá bung hàng rào để lực lượng phía sau ập vào... Bên cạnh xây dựng kế hoạch tác chiến, Trung tướng Tô Lâm cũng chỉ đạo phải làm ngay phương án “hậu chiến” là đưa bà con trở về quê cũ. Thế là hàng chục xe khách được huy động, trên xe có sẵn bánh mì, nước uống, có cả nhân viên y tế của tỉnh, huyện, bộ đội quân y đi cùng.

 Đúng 9h30 sáng ngày 6/5/2011, cuộc tấn công được bắt đầu.

Trung tướng Tô Lâm đích thân chỉ huy tại Sở Chỉ huy cách Nậm Kè chỉ chưa đầy cây số. Còn Thiếu tướng Nguyễn Văn Vượng thì trực tiếp chỉ huy Cảnh sát đặc nhiệm. Ở phía dưới chân đồi cách xa khoảng hơn một cây số, 200 Cảnh sát đặc nhiệm ngồi sẵn trên các xe chờ lệnh. Còn các nữ Cảnh sát đặc nhiệm thì mặc trang phục quần áo blu trắng như nhân viên y tế, nhân viên Hội Chữ thập đỏ và đi trên hai xe tải nhẹ chở mì tôm, nước uống đến xếp ngoài phía hàng rào.

Bọn cầm đầu cho người ra kiểm tra từng nhân viên “Chữ thập đỏ” xem có mang vũ khí không và khi thấy tất cả chỉ đi tay không, hoặc mang theo ống nghe khám bệnh thì chúng yên tâm hẳn. Khi cả đội qua được hàng rào thì ngay lập tức, lệnh tấn công được phát ra. Các nữ Cảnh sát đặc nhiệm và cả anh em lái xe, nhân viên y tế quật ngã ngay những đứa ở hàng rào. Anh chị em hành động nhanh đến mức có tên còn bảo: “Ấy, ấy, đừng có đùa thế!”, và không tên nào chạy được hai chục mét.

Bài cuối: Phá tan kế hoạch ly khai ngông cuồng -0
Được tuyên truyền, giáo dục, nhận thức rõ sai lầm, một đối tượng trong nhóm cầm đầu bất ngờ thuyết phục người dân quay về nơi ở cũ, không tụ tập gây mất ANTT. 

Những kẻ nổi loạn làm nhiệm vụ bảo vệ ở hàng rào hoàn toàn không phải là đối thủ của Cảnh sát đặc nhiệm. Cuộc tấn công diễn ra chớp nhoáng chỉ khoảng vài phút, hơn chục tên ngoan cố bị khóa tay, hàng rào được mở toang. Từ dưới chân đồi, các xe chở Cảnh sát đặc nhiệm vùn vụt lao lên. Khi xe đến nơi, các Cảnh sát đặc nhiệm trong vai nhân viên Hội Chữ thập đỏ được sự dẫn đường của một cơ sở đã lao thẳng vào phía lán của bọn cầm đầu. Bà con từ các lán cũng ùa ra và thay vì “bảo vệ” bọn cầm đầu thì lại mau mắn chỉ cho cảnh sát nơi trú ngụ của chúng… Hóa ra là những ngày qua, bà con cũng đã quá cơ cực vì phải sống chui rúc trong những căn lều tạm bợ, thiếu thốn từng cốc nước. Và họ cũng nhận ra đã bị bọn “6 sao” lừa bịp… Nhưng muốn về cũng không được vì chúng đe dọa sẽ giết những ai bỏ trốn. Bây giờ có Công an đến, bà con nhận thấy cơ hội giải thoát đã tới nên nhất nhất nghe theo chỉ dẫn của Công an.

Cuộc tấn công của Cảnh sát cơ động vào Huổi Khon diễn ra khá nhanh chóng. Chỉ sau nửa giờ, toàn bộ những tên cốt cán của nhóm “6 sao” đã bị bắt giữ. Và không có một ai bị thương…

Những người dân nhẹ dạ được đưa xuống chân đồi và ở đây, đã có hàng chục xe chở khách xếp hàng sẵn. Ai lên xe thì được phát bánh mì, nước uống và kèm theo cả… phong bì! Khỏi phải nói là bà con mừng đến như thế nào.

Lời kết

Gần đây, tôi cùng đoàn công tác xã hội từ thiện của Công ty Thời Mới và Phòng Công tác Đảng và công tác chính trị Công an tỉnh Điện Biên mang hơn 300 phần quà Tết lên tặng bà con nghèo Huổi Khon. Tình hình ANTT của xã bây giờ đã tốt. Người Mông ở đây đã rất yên tâm sản xuất, tuy cuộc sống vẫn còn khó khăn…

Và khi nhìn lại cách giải quyết vụ bạo loạn Huổi Khon thì mới thấy lực lượng Công an đã hết sức đúng đắn về cách xử lý điểm nóng và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ… Quan trọng nhất là lãnh đạo Bộ Công an và Công an tỉnh luôn lấy việc bảo đảm an toàn cho người dân làm tiêu chí đầu tiên và đã kết hợp khéo léo, nhuần nhuyễn giữa các mặt công tác nghiệp vụ; làm tốt công tác vận động quần chúng… Việc giải quyết dứt điểm vụ bạo loạn Huổi Khon là một bài học quý trong công tác bảo đảm an ninh ở cơ sở trong bối cảnh hiện nay.    

Nguyễn Như Phong 

Bài 1: Bí ẩn lá cờ có ngôi sao 6 cánh

Thứ Năm, 04/04/2024, 07:21

Trong trang sử vàng của mình, lực lượng Công an tỉnh Lai Châu (cũ) và Công an tỉnh Điện Biên hôm nay đã có những đóng góp xứng đáng vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ vào việc giữ gìn an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội vùng đất Tây Bắc của Tổ quốc. Đặc biệt, vào tháng 5/2011, dưới sự chỉ đạo của Bộ Công an, các đơn vị nghiệp vụ An ninh, Cảnh sát và Công an tỉnh Điện Biên đã giải quyết thành công vụ bạo loạn với hàng chục đối tượng chủ mưu lôi kéo hàng ngàn người Mông tập trung chống phá, âm mưu “ly khai, lập quốc” ở huyện Mường Nhé.

Nhân kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Báo CAND trân trọng giới thiệu loạt bài Dập tắt âm mưu lập “Vương quốc Mông” ở Mường Nhé của nhà báo Nguyễn Như Phong.

Đó là một buổi trưa tháng 4/2011. Hôm ấy gió Lào thổi như bão, nóng hầm hập. Thượng tá Tráng A Tủa, Trưởng phòng Phòng Chống phản động và chống khủng bố, nay là Phòng An ninh nội địa, Công an tỉnh Điện Biên (anh Tủa hiện là Thiếu tướng, Cục trưởng Cục Xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, Bộ Công an) vừa đi công tác về, chưa kịp ăn cơm thì có điện thoại. Nhìn số máy, anh biết đó là điện thoại của một người là cơ sở...

Bài 1:  Bí ẩn lá cờ có ngôi sao 6 cánh -0
Trung tướng Tô Lâm, Thứ trưởng Bộ Công an (nay là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ Công an) thị sát thực địa vụ tụ tập trái phép tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé năm 2011.

Cuộc điện thoại mật báo

Từ đầu dây đằng kia, có tiếng gấp gáp: “Anh Tủa ơi, bọn thằng Và, thằng Ía nó sắp nổi loạn rồi. Chúng nó lập Vương quốc Mông ở chỗ Nậm Kè - Mường Nhé ấy”. Anh Tủa hỏi lại: “Bao giờ chúng bắt đầu?”. “Em không biết ngày nào nhưng hôm nay đã bắt đầu kéo người về bản Huổi Khon rồi”. Tráng A Tủa hỏi lại: “Chúng có vũ khí không?”. “Em không biết”. Tráng A Tủa vội vàng hỏi lại ngay: “Em có đi cùng chúng nó không?”. Tiếng người đầu dây bên kia nói vẻ sợ sệt: “Em có đi nhưng nghe nói chúng sẽ thu hết điện thoại và em thì không được đến gần thằng Và đâu. À, cứ đứa nào cầm lá cờ có ngôi sao 6 cánh là bọn chúng đấy”.

 Anh Tủa vội vàng nói thêm: “Em cố gắng theo dõi và cho anh biết kịp thời nhé. Anh sẽ cử người liên lạc với em và bảo vệ em”. Tiếng người đầu dây bên kia hốt hoảng: “Ối anh ơi không được đâu”, rồi tắt máy…

Ngay lập tức, Tráng A Tủa lên báo cáo đồng chí Giám đốc và ngay sau đó, một cuộc họp khẩn của Ban Giám đốc cùng các phòng nghiệp vụ của Công an tỉnh Điện Biên được tổ chức.

Tại cuộc họp, mọi thông tin được kiểm tra và Trưởng Công an huyện Mường Nhé báo cáo qua điện thoại thì đúng là có hiện tượng người Mông từ các nơi đang ùn ùn kéo về khu vực Mường Nhé. Cảnh sát giao thông cũng báo cáo là có hiện tượng nhiều người Mông đi trên các chuyến xe khác từ Sơn La, Lào Cai kéo sang Điện Biên.

Đối với lãnh đạo Công an tỉnh Điện Biên thì việc một số đối tượng người Mông âm mưu thành lập Vương quốc Mông là điều mà các anh đã biết từ lâu và Công an tỉnh cũng xác lập một chuyên án. Diễn biến của chuyên án tương đối thuận lợi. Số lượng những tên cầm đầu cũng như lai lịch của chúng đã đầy đủ trong hồ sơ chuyên án. Trong đó, có những kẻ đang ở bên nước ngoài. Cũng có đối tượng ở Hòa Bình, Sơn La, Lào Cai, thậm chí ở cả miền Tây Nghệ An và Xiêng Khoảng (Lào). Từ lâu, lực lượng An ninh nội địa của Công an tỉnh Điện Biên đã có tài liệu về nhóm “6 sao”, với âm mưu thành lập Vương quốc Mông. Sở dĩ gọi đây là nhóm “6 sao” là vì chúng dùng lá cờ có ngôi sao 6 cánh để làm biểu tượng. Chúng lý giải: “Cờ của Việt Nam là ngôi sao vàng 5 cánh, thì cờ của chúng tao phải là… 6 cánh”. Nhưng rồi lại có một nhóm phân hóa, làm lá cờ có ngôi sao 7 cánh cho “oai hơn” cờ sao 6 cánh.

Sau khi nghe các đơn vị nghiệp vụ báo cáo, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã có những chỉ đạo quyết liệt, cụ thể; đồng thời báo cáo khẩn cấp về Bộ.

Thời điểm đó là vào ngày 20/4/2011.

Bài 1:  Bí ẩn lá cờ có ngôi sao 6 cánh -0
Cấp ủy, chính quyền địa phương phát loa vận động người dân không nghe theo lời kẻ xấu, trở về quê cũ sinh sống.

Điểm nóng Mường Nhé

Những ngày sau đó, xã Nậm Kè của huyện Mường Nhé bỗng trở nên nóng khác thường. Bà con người Mông từ khắp nơi ùn ùn kéo về. Chỗ nào đi được xe máy thì họ đi, gặp các chốt chặn của lực lượng Cảnh sát giao thông, họ vứt luôn xe máy và băng rừng cuốc bộ.

Xã Nậm Kè nằm cách thị trấn huyện Mường Nhé hơn 30 cây số; có 12 bản và số dân thời điểm này khoảng 4.700 người, chủ yếu là người dân tộc Mông và Sán Chỉ. Ngoài người Mông chiếm chủ yếu, ở xã còn có người Thái, người Dao; người Si La; người Sán Chỉ; người Pu Péo… Những người Mông ở 8 bản của Nậm Kè gần như sống cách biệt với cộng đồng, thậm chí chính quyền xã cũng “khó quản” được họ. Một số người dân lấy cái lý rằng: “Nhà nước bảo đất đai này là của toàn dân nhé, nên tao thích ở đâu thì ở, tao thích làm gì thì làm”. Từ cái “lý” như vậy nên người Mông ở Huổi Khon tỏa đi khắp nơi du canh, du cư, họ còn sang vùng ngã ba Tam giác vàng ở tỉnh Bò Kẹo bên Lào để “làm ăn”.

Cuối tháng 4/2011, người Mông ùn ùn đổ về Nậm Kè. Họ dựng lều bằng đủ các loại vải nhựa, bao tải… Trên những quả đồi thấp ở khu vực bản Huổi Khon cách trung tâm xã khoảng một cây số không thể đếm được có bao nhiêu người và bao nhiêu lều. Những kẻ cầm đầu đã chọn ở Huổi Khon là khá thông minh bởi lẽ ở đây có đường núi đi xã Pá Mì, có đường thông sang xã Nậm Vỳ, xã Tà Tổng của huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu. Mà đường đi Tà Tổng thì chỉ có đi bộ, không có loại xe cộ nào có thể đi được. Từ Nậm Kè đi Tà Tổng phải băng, leo những con dốc như dốc Nậm Xả dài 7 km rồi dốc Tà Tổng dài như đèo Pha Đin.

Ở các con đường ôtô có thể đi được, Cảnh sát giao thông và Cảnh sát cơ động đặt barie và kiểm soát người. Nếu là người Mông thì kiểm tra giấy tờ tùy thân và khuyên giải họ quay trở về. Nhưng biện pháp này không mấy hiệu quả; không cho đi thì họ lập tức gồng gánh nồi niêu xoong chảo và vật dụng cần thiết đi bộ về Huổi Khon. Với người Mông, một ngày đi bộ được khoảng 50 đến 60 cây số là chuyện bình thường.

Bài 1:  Bí ẩn lá cờ có ngôi sao 6 cánh -0
Nhẹ dạ nghe lời kẻ xấu, nhiều người dân rời bỏ nhà cửa, ruộng nương tụ tập tại Mường Nhé từ giữa tháng 4/2011.

Cùng lúc đó, một số cán bộ chủ chốt của huyện Mường Nhé liên tục nhận được những tin nhắn từ số máy lạ là người Mông đã nổi dậy thành lập Vương quốc Mông. Rồi người ta đồn thổi, truyền tai nhau những thông tin như sau khi thành lập Vương quốc Mông thì sẽ được người Mông ở Mỹ, Thái Lan, Myanmar và cả ở Trung Quốc trợ giúp. Vương quốc Mông sẽ lấy Mường Nhé làm thủ phủ và Vương quốc Mông mới này sẽ có diện tích trải dài từ một phần của tỉnh Hòa Bình, hết tỉnh Sơn La, toàn bộ tỉnh Điện Biên và khoảng một nửa tỉnh Lai Châu, nhưng Vua Mông mới là ai thì không biết.

Chỉ trong vòng ba ngày, hơn một vạn người Mông đổ về xã Nậm Kè và gây nên một cảnh hỗn loạn chưa từng thấy. Ngần ấy con người nhồi nhét trên dăm quả đồi lại cách xa nguồn nước thì quả là một điều hãi hùng.

Liên tiếp những cuộc họp do Thường vụ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Điện Biên chủ trì được tổ chức. Nhiều phương án giải quyết được bàn bạc kĩ lưỡng. Tuy nhiên, trong lúc tỉnh chưa dứt khoát được phương án giải quyết thì đối tượng cầm đầu đã lên tiếng yêu cầu gặp trực tiếp Chủ tịch UBND tỉnh Mùa A Sơn...

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - Bài 3: Ba điều cốt yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân (Tiếp theo và hết)

Thứ bảy, 06/04/2024 - 05:37

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh vạch trần những luận điệu xuyên tạc, giả dối, gạt bỏ những luồng thông tin xấu độc làm ô nhiễm môi trường tinh thần của xã hội, chúng ta cần giữ vững niềm tin khoa học, bồi dưỡng tình cảm cách mạng và trau dồi bản lĩnh chính trị. Đó là ba điều cốt yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ nhân dân.

Giữ vững niềm tin khoa học

Niềm tin khoa học là niềm tin dựa trên cơ sở khoa học, nắm vững lý luận khoa học và cách mạng, hiểu biết quy luật để nhận thức đúng xu thế vận động, biến đổi và phát triển của lịch sử một cách tất yếu, khách quan.

Niềm tin khoa học không tự có sẵn, không hình thành dễ dàng chỉ một lần là xong và có mãi. Nhận thức là một quá trình, từ hiện tượng tới bản chất, từ đơn giản đến phức tạp, không ngừng khám phá, sáng tạo để nắm vững chân lý và hành động tự giác theo chân lý, theo quy luật.

Niềm tin khoa học do đó gắn liền với trình độ học vấn, học thức, với sự trưởng thành của tư duy lý luận, của phương pháp tư duy khoa học. Con người ta không chỉ lĩnh hội tri thức trong sách vở, qua học tập, lại phải có nhu cầu tự học suốt đời, có thói quen tự tu dưỡng, tự rèn luyện như một nhu cầu văn hóa, để tự làm mới nhận thức của mình mà còn phải chú trọng thực hành trong thực tiễn. Hồ Chí Minh là một kiểu mẫu về tự học-học trong nhà trường, học qua sách vở và nhất là học trong trường đời thực tiễn, học dân, hỏi dân để hiểu dân, tin dân.

Để có niềm tin khoa học, niềm tin của trí tuệ, niềm tin được dẫn dắt và thúc đẩy bởi lý luận khoa học và cách mạng, vượt lên kinh nghiệm và chủ nghĩa kinh nghiệm thực dụng, thiển cận, tầm thường, tự thanh toán khỏi mình bệnh giáo điều, sách vở, chủ quan duy ý chí, bệnh hình thức, lý luận suông và cả thói coi khinh lý luận, tự trói buộc mình bởi chủ nghĩa kinh nghiệm... cần phải thực hành lý luận trong thực tiễn và từ thực tiễn mà kiểm chứng lý luận, phát hiện lý luận mới. Người có niềm tin khoa học là người có năng lực sáng tạo, có tinh thần đổi mới và tự đổi mới, nhạy cảm với cái mới, có đầu óc phê phán cái cũ lạc hậu, lỗi thời, cái sai trái, cái giả để khẳng định và tin theo cái đúng, cái tốt, cái thật. Như thế, niềm tin khoa học hội tụ cả năng lực khoa học, cả phẩm chất đạo đức và về mặt giá trị, đó là một giá trị văn hóa, hướng tới chân-thiện-mỹ.

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - Bài 3: Ba điều cốt yếu để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân (Tiếp theo và hết)
Ảnh minh họa. Nguồn: qdnd.vn 

 

Niềm tin khoa học mang sức mạnh của lý tính, lý trí, tỉnh táo, sáng suốt, được chứng thực, thử thách trong thực tiễn. Vào năm 1959, trong chuyến thăm Indonesia, nói chuyện trước giới trí thức khoa học tại trường đại học ở thủ đô Jakarta, Hồ Chí Minh khiêm tốn nói trước các học giả nước bạn về việc tự học của mình. Người khẳng định rằng, chính thực tiễn cuộc sống và trong đấu tranh cách mạng mà Người lĩnh hội được những tri thức đích thực. Đó là những tri thức đáng tin cậy nhất. Từ trong kháng chiến, khi viết các tác phẩm “Đời sống mới” và “Sửa đổi lối làm việc”, Người căn dặn chúng ta, về mặt giáo dục và nhà trường, “phải đặc biệt chú trọng dạy và học các môn khoa học về tinh thần và đạo đức”.

Thống nhất lý luận với thực tiễn, theo Hồ Chí Minh là bản chất tối cao của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là bảo đảm chắc chắn để xây dựng niềm tin khoa học duy vật và biện chứng. Nhờ đó, không trì trệ, bảo thủ, chủ quan, tư biện mà cũng không cực đoan, siêu hình, không phiêu lưu mù quáng. Niềm tin khoa học là cơ sở của lòng trung thành xét về mặt lý luận, của tinh thần lạc quan cách mạng vì giác ngộ chân lý và quy luật, vững tin ở triển vọng tương lai ngay cả khi gặp khó khăn, thử thách. “Thắng không kiêu, bại không nản” là vì vậy. Khi khẳng định: “Ta nhất định thắng, địch nhất định thua”, “Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn”, Hồ Chí Minh thể hiện rõ rệt một niềm tin khoa học mãnh liệt và Người đã gieo niềm tin, truyền cảm hứng cho mỗi chúng ta. 

Chính nhờ vững vàng, kiên định niềm tin khoa học ấy mà chúng ta tin tưởng ở Đảng khi Đảng quyết định đổi mới và hội nhập. Vào lúc thử thách hiểm nghèo khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) Đông Âu đổ vỡ chế độ XHCN, Đảng ta nhanh chóng đưa ra Cương lĩnh 1991 thay Cương lĩnh 1951, lại được bổ sung phát triển ở Cương lĩnh 2011. Đảng ta khẳng định rằng dù có trải qua những bước quanh co phức tạp nhưng chủ nghĩa xã hội (CNXH) vẫn là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử loài người. Triển vọng tốt đẹp thuộc về CNXH chứ không phải chủ nghĩa tư bản, dù chủ nghĩa tư bản đã trở thành chủ nghĩa tư bản hiện đại. Tuyên bố chính trị đó của Đảng nhanh chóng trở thành ngọn cờ tập hợp các lực lượng cách mạng trong nước và có tầm ảnh hưởng quốc tế, củng cố niềm tin khoa học và niềm tự hào chính đáng của chúng ta về truyền thống cách mạng vẻ vang của Đảng. Với Đảng, nhờ có niềm tin khoa học mà Đảng ta giữ vững được phương hướng chính trị, có đường lối đúng, đưa nước ta vượt qua khủng hoảng, tồn tại và phát triển như ngày nay. Dân tin Đảng, niềm tin đó của dân được Đảng ta coi là tài sản vô giá phải giữ gìn và phát huy, không được suy giảm, càng không thể mất. Đó cũng là niềm tin khoa học và sự thủy chung của Đảng đối với nhân dân và dân tộc ta.

Văn kiện Đại hội XIII nêu cao khát vọng phát triển đất nước, khơi gợi và phát huy tinh thần cống hiến của mỗi người dân, tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, coi trọng công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đó là những quyết sách chiến lược vô cùng quan trọng và cần thiết. Đảng ta cũng nhấn mạnh phải đổi mới mạnh mẽ thể chế phát triển, để thực hiện thành công các đột phá chiến lược đưa nước ta trở thành nước phát triển có thu nhập cao. Niềm tin khoa học cho chúng ta sức mạnh để khát vọng đó trở thành hiện thực.

Bồi đắp tình cảm cách mạng

Có niềm tin khoa học là có cơ sở để nuôi dưỡng và rèn luyện tình cảm cách mạng. Đó là một trong những động lực tinh thần mạnh mẽ nhất thúc đẩy hành động cách mạng. Tình cảm cách mạng được xây dựng trên các chuẩn mực đạo đức cần, kiệm, liêm, chính để chí công vô tư, đặt việc nước, việc dân lên trên hết, trước hết.

Khi cách mạng và Đảng cần, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải nêu cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, sẵn sàng hy sinh cả lợi ích và cuộc sống cá nhân riêng tư, vì sự nghiệp chung với tinh thần “dĩ công vi thượng” như Hồ Chí Minh nhấn mạnh. Còn nhớ, gần hai tháng trước khi mất, ngày 14-7-1969, trả lời phỏng vấn của nữ nhà báo Cuba-đồng chí Mácta Rôhát: “Đâu là điều thiêng liêng nhất?”, Người đã nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi”. Đó là lẽ sống cao thượng được thúc đẩy suốt đời bởi tình cảm cách mạng của Hồ Chí Minh. Đó là đạo đức, là bản lĩnh văn hóa đạo đức của Hồ Chí Minh.

Những ai có tình cảm cách mạng trong sáng sẽ có sự bảo đảm bền bỉ để chống lại và đánh bại chủ nghĩa cá nhân-với lòng tham, tính tham, vụ lợi, vị kỷ-để thực hành lòng yêu nước, thương dân, nêu cao tinh thần trách nhiệm, để hy sinh và tự nguyện cống hiến, vì nước, vì dân. Tình cảm cách mạng xa lạ đối lập với thói vô trách nhiệm, sự hờ hững, hoài nghi, lãnh đạm, vô cảm mà không ít người mắc phải, trở nên suy thoái, hư hỏng, thành tù binh của chủ nghĩa cá nhân. Đến khi rơi vào những việc làm sai trái, những hành vi bất minh, bất chính, bất liêm, vô sỉ thì thành ra kẻ thù của nhân dân vì đã làm hại dân, hại nước.

Có tình cảm cách mạng mới có thể tâm huyết vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, mới có sức mạnh chống lại mọi sai trái, lỗi lầm, mới đủ dũng khí để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, mà thực chất là bảo vệ nhân dân. Một khi tình cảm cách mạng bị nguội lạnh thì niềm tin sẽ bị lung lay, suy yếu, thậm chí từ bỏ niềm tin, lý tưởng, lẽ sống chỉ vì sự cám dỗ của tiền bạc, danh vọng, địa vị, quyền lực. Rơi vào vô cảm, đó là sự suy đồi về đạo đức, nhân cách, không còn sức đề kháng để tự bảo vệ lương tâm, danh dự, liêm sỉ của mình, càng không thể bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân. Đủ hiểu vì sao, vào lúc này, Đảng ta đặc biệt coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức, đề cao sự gương mẫu, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Trau dồi bản lĩnh chính trị

Kết quả tổng hợp từ giữ vững niềm tin khoa học và bồi đắp tình cảm cách mạng, thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực hành nhân-trí-dũng-liêm-trung từ vị tướng chỉ huy đến chiến sĩ, từ cán bộ lãnh đạo đến đảng viên và quần chúng sẽ dẫn đến bản lĩnh chính trị.

Bản lĩnh chính trị được hình thành, tôi luyện, thử thách trong thực tiễn, trong đối mặt trực tiếp, cọ xát trực tiếp với thực tiễn, tranh đấu với những tình huống phức tạp. Bản lĩnh chính trị có sức mạnh của trí tuệ khoa học, của đạo đức cách mạng, của cốt cách vững vàng về chính trị, không lung lay, dao động, không do dự, không tự đánh mất niềm tin, không xa dân-cội nguồn sức mạnh của Đảng.

Bản lĩnh chính trị là hành động chứ không phải lời nói suông, trung thực, nhất quán giữa nói và làm, không cơ hội, tùy thời, chỉ chăm lo cho cá nhân mình. Bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên trong đổi mới hiện nay là dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động quyết liệt vì lợi ích chung như Đảng đã nhấn mạnh.

Đảng ta khuyến khích những con người như thế và tìm tòi cơ chế để bảo vệ họ, đồng thời cũng áp dụng các chế tài cần thiết để xử lý những cán bộ, đảng viên từ bỏ trách nhiệm, không hành động vì sợ sai lầm, vì tìm sự an toàn cho riêng mình. Rơi vào trường hợp này thì không còn dũng khí, lòng trung thực và trách nhiệm vì sự nghiệp chung, không còn là bản lĩnh chính trị nữa mà trở thành vật cản đối với đổi mới và phát triển. Đó là những người “thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh”, tự coi mình ở ngoài cuộc, vô can, không chịu trách nhiệm, chỉ chăm lo vun vén, tìm kiếm lợi ích cho riêng mình.

Do đó, muốn có bản lĩnh chính trị để chủ động tham gia vào cuộc chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ nhân dân thì phải đồng thời xây dựng niềm tin khoa học, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cách mạng, nêu cao tự phê bình và phê bình, củng cố sức mạnh của đoàn kết, dân chủ, đồng thuận từ trong Đảng đến trong dân và xã hội, thực hành “quyết tâm-tín tâm-đồng tâm” như chỉ dẫn của Bác Hồ.

Bản lĩnh chính trị là hạt nhân của văn hóa chính trị mà chúng ta phải dày công xây dựng. Chúng ta càng thấy dự cảm sâu sắc của Hồ Chí Minh khi Người nhấn mạnh: “Chính trị là đoàn kết và thanh khiết”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”.

Cuộc đấu tranh tư tưởng lý luận càng diễn biến phức tạp bao nhiêu thì những điều cốt yếu nói trên càng cần thiết và quan trọng bấy nhiêu. Nó không chỉ bảo đảm cho nhận thức đúng mà còn là điểm tựa vững chắc cho hành động tự giác, sáng tạo, chủ động và tích cực của mỗi chúng ta trong cuộc đấu tranh chống lại các thế lực thù địch, để kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường đã lựa chọn: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, giữ vững định hướng XHCN của sự nghiệp đổi mới, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - Bài 2: Thực tiễn đổi mới của Việt Nam khẳng định giá trị, sức sống đường lối chính trị của Đảng

Thứ sáu, 05/04/2024 - 05:32

Đảng Cộng sản Việt Nam là ngọn cờ tập hợp và dẫn dắt dân tộc ta vững bước đi theo con đường đã chọn: Độc lập dân tộc và CNXH, thể hiện sự vững vàng về lập trường, quan điểm, về phương hướng, đường lối chính trị đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta, trung thành một cách sáng tạo với lý tưởng, mục tiêu XHCN của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tầm vóc cách mạng của đường lối đổi mới

Năm 1986, cải tổ diễn ra ở Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu. Cũng thời điểm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới với quyết định lịch sử từ Đại hội VI của Đảng. Đón kịp và tận dụng thời cơ, dũng cảm vượt qua thách thức, đó là quyết định đúng đắn, sáng suốt và bản lĩnh của Đảng ta trong bối cảnh quốc tế diễn biến phức tạp và tình hình trong nước lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng về kinh tế-xã hội.

Cải tổ thất bại do mất phương hướng chính trị và vấp phải những sai lầm về nguyên tắc, quan điểm, đường lối và chính sách, vì thế chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ. Hệ thống XHCN thế giới tan rã. CNXH và phong trào cách mạng lâm vào thoái trào, dù là tạm thời. Trật tự thế giới thay đổi. Lịch sử ở trong một khúc quanh đầy thử thách. Các thế lực thù địch, chống cộng, chống CNXH với những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, thâm độc và áp dụng những thủ đoạn phá hoại trắng trợn đã không ngớt rêu rao về “sự cáo chung của ý thức hệ cộng sản” (Chủ nghĩa Mác-Lênin), về sự “kết thúc CNXH”; rằng, lựa chọn CNXH là một sai lầm, là đi vào ngõ cụt, bế tắc, dẫn đến nghèo khổ, lạc hậu, chỉ có đi theo còn đường và mô hình phương Tây mới đem lại tự do, văn minh, sự giàu có, thịnh vượng và hạnh phúc (!).

Trong những năm đầu đổi mới, các nước phương Tây vẫn tiếp tục bao vây, cấm vận Việt Nam, kích động các phần tử bất mãn, chống đối tấn công vào sự lãnh đạo cầm quyền của Đảng ta. Chúng ra sức cổ xúy cho chủ nghĩa tự do mới, kinh tế thị trường tự do, đa nguyên, đa đảng, coi đó là cần thiết để có dân chủ, tự do. Chúng toan tính rằng, muốn xóa bỏ CNXH và Đảng Cộng sản Việt Nam thì bằng mọi cách phải hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh, reo rắc hoài nghi trong các tầng lớp dân chúng, nhất là đối tượng thanh niên, trí thức, văn nghệ sĩ, làm xói mòn niềm tin ý thức hệ, đi theo lối sống thực dụng, tôn thờ đồng tiền và các lợi ích vật chất, kích động chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Đó là những độc tố có sức phá hủy từ bên trong để chính chúng ta tập nhiễm thì sẽ tự phá hủy cơ đồ sự nghiệp của mình.

Cùng với sớm nhận rõ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” nguy hại của các thế lực thù địch, phản động để giữ vững thế chủ động trong cuộc chiến không có tiếng súng này, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lần đầu tiên Đảng đã thẳng thắn nêu ra 27 biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đề ra hàng loạt giải pháp nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững phương hướng chính trị, không phạm sai lầm về quan điểm, đường lối để đưa phong trào cách mạng tiếp tục tiến lên.

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam - Bài 2: Thực tiễn đổi mới của Việt Nam khẳng định giá trị, sức sống đường lối chính trị của Đảng

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ảnh minh họa / TTXVN

Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền một cách chính danh, chính đáng và xứng đáng với ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, bằng trí tuệ khoa học được vũ trang bởi lý luận tiên phong của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi kinh nghiệm phong phú tích lũy được trong lịch sử đấu tranh cách mạng, bởi bản lĩnh chính trị được tôi luyện từ thực tiễn và nhất là có sự gắn bó máu thịt với nhân dân, có sức mạnh từ lòng dân. Theo đúng bí quyết của Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn: Được dân tin, dân yêu, dân ủng hộ, dân giúp đỡ và dân bảo vệ thì cách mạng sẽ thành công. 

Tiến hành đổi mới, Đảng ta cân nhắc tỉnh táo, sáng suốt khi xác định tiền đề, điều kiện tiên quyết để đổi mới là ổn định chính trị-xã hội. Đó là ổn định tích cực, đem lại lợi ích cho dân, trước hết là lợi ích kinh tế. Dân cảm nhận và dân thụ hưởng trực tiếp lợi ích đó bằng việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống, từ đó dân ủng hộ và đồng hành với Đảng, cùng đổi mới. Mất ổn định, xã hội rối loạn, lòng dân không yên thì không một chương trình đổi mới nào có thể thực hiện được.

Từ nhận thức đó, Đảng lựa chọn mắt xích xung yếu là kinh tế, phải tập trung đổi mới kinh tế, phát triển sản xuất, khắc phục lạm phát đang “phi mã” (hơn 770%) để từng bước ổn định đời sống nhân dân, thúc đẩy tăng trưởng. Phải trên cơ sở đổi mới kinh tế có hiệu quả, có thành công bước đầu để dân tin mà đổi mới chính trị, trước hết là hệ thống chính trị một cách thận trọng, có nguyên tắc. Từ thực tiễn đổi mới đã xuất hiện những tín hiệu thành công, sau này Đảng ta nhấn mạnh, đổi mới đồng bộ kinh tế và chính trị.

Hai đột phá lớn của Đảng ta về lý luận và thực tiễn là phát triển kinh tế thị trường và xây dựng nhà nước pháp quyền. Đó là thành tựu chung của nhân loại đạt được trong thời đại tư sản chứ không phải của riêng giai cấp tư sản. Đó là đòi hỏi tất yếu để phát triển, là động lực để giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất. Đó cũng là tác nhân kinh tế và chính trị cần thiết để xây dựng nền dân chủ hiện đại mà CNXH có thể và cần phải áp dụng, nhất là những nước quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam. Đây là trù tính chính xác của Đảng về nhận thức lý luận và quyết sách chính trị của Đảng ta.

Một trong những thành công nổi bật của đổi mới ở nước ta là giải quyết thành công cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội, dù phải mất một thập kỷ (1986-1996), không để xảy ra khủng hoảng chính trị, khi đi vào đổi mới hệ thống chính trị và chính trị nói chung mà nhiều nước đã vấp phải, kết cục là đổ vỡ thể chế, đảng mất vai trò cầm quyền. Đảng ta đi tiên phong trong đổi mới, tự ý thức được yêu cầu hệ trọng, phải đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng để thúc đẩy đổi mới toàn xã hội.

Đảng ta đã sớm nhận thức và hành động theo yêu cầu đó. Lãnh đạo trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, thực hiện dân chủ hóa xã hội, có nhà nước pháp quyền đặt ra cho Đảng ta yêu cầu phải nhận thức và hành động đúng quy luật, ở đây là các quy luật của kinh tế thị trường, lại duy nhất một đảng cầm quyền nên phải bảo đảm phát huy dân chủ, phải xử lý mọi vấn đề trong lãnh đạo, cầm quyền sao cho hợp hiến, hợp pháp, không vi hiến mà trái lại còn tuân thủ pháp luật, tôn trọng nhà nước và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật, chủ trương xây dựng cơ chế bảo hiến, chú trọng kiểm soát quyền lực, không để quyền lực do dân ủy thác bị tha hóa.

Hai lĩnh vực rường cột của phát triển đất nước là kinh tế và chính trị. Đảng ta đã đạt được phát kiến lớn là kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN, khẳng định quyền lực tập trung thống nhất ở nhân dân, không phân chia quyền lực theo “tam quyền phân lập”, thực hiện phân công và phối hợp giữa các thiết chế lập pháp, hành pháp, tư pháp để thực hiện sự ủy quyền của dân và phục vụ quyền và lợi ích của nhân dân. 

Cương lĩnh 1991 và cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 của Đảng thực sự là ngọn cờ tập hợp và dẫn dắt dân tộc ta vững bước đi theo con đường đã chọn: Độc lập dân tộc và CNXH, thể hiện sự vững vàng về lập trường, quan điểm, về phương hướng, đường lối chính trị đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta, trung thành một cách sáng tạo với lý tưởng, mục tiêu XHCN của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, có thể khẳng định rằng, đổi mới của Việt Nam thực sự mang tầm vóc của một cuộc cách mạng.

Giá trị bền vững của hệ tư tưởng của Đảng

Kẻ thù của những người cách mạng, của các đảng chân chính cách mạng thường kích động xã hội, thậm chí dùng cả những thủ đoạn mị dân khi cho rằng Chủ nghĩa Mác đã lỗi thời, cách xa thời nay hàng thế kỷ, không còn phù hợp trong xã hội mà dòng chảy thông tin đang cuồn cuộn như bão táp. Chủ nghĩa tư bản hiện đại đã khác xa với những điều phê phán, phủ định của Mác-Ăngghen. Chủ nghĩa Lênin cũng không còn giá trị khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu sụp đổ. Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng từ đó mà hết vai trò vì cũng chỉ là bản sao từ Mác-Lênin.

Đó là những đánh giá võ đoán, chủ quan, những suy diễn hời hợt ẩn giấu những tâm địa đen tối, chỉ cổ vũ cho những kẻ chống đối và lừa bịp được một số người kém hiểu biết. Về thực chất, đó là sự xuyên tạc lịch sử và xúc phạm văn hóa nhân loại, bởi Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh là đại biểu cho tinh hoa trí tuệ của thời đại mình, là những lãnh tụ kiệt xuất và danh nhân văn hóa đã khai sáng, khai trí, khai tâm cho loài người tiến bộ, cho các dân tộc đấu tranh để thực hiện những giá trị cao quý, tôn vinh phẩm giá con người, hướng cuộc đời tới chân-thiện-mỹ.

Chủ nghĩa Mác-Lênin với hệ thống các giá trị bền vững mãi mãi còn tỏa sáng, soi đường đi cho nhân loại trong cuộc hành trình từ “vương quốc của tất yếu đến vương quốc của tự do”. Luận điểm của Mác-Ăngghen trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848) nói rằng, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” chính là khẳng định bản chất nhân văn của CNXH và chủ nghĩa cộng sản. Lênin không chỉ đề xướng Chính sách kinh tế mới (NEP), trở thành nhà cách tân vĩ đại đầu tiên của CNXH hiện thực trong lịch sử mà còn đưa ra dự báo đầy tính hiện đại rằng, sớm muộn, trước sau thì tất cả các dân tộc sẽ đi tới CNXH. Bản chất quốc tế của CNXH vẫn bao hàm những đặc điểm lịch sử, văn hóa, những sắc thái riêng của từng dân tộc. Điều đó có nghĩa là, bản chất, mục tiêu của CNXH là một cái chung phổ biến, những con đường và mô hình xây dựng CNXH là phong phú, đa dạng. Đó là văn hóa thống nhất, bao hàm những khác biệt.

Hồ Chí Minh từ thực tiễn Việt Nam gắn liền với thực tiễn thế giới, đã từng xác định, xây dựng CNXH là xây dựng một xã hội văn hóa cao, thấm nhuần quan điểm phát triển, sao cho “đời sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ”.

Bản chất khoa học, cách mạng và nhân văn đó của Chủ nghĩa Mác-Lênin, CNXH khoa học đã từng được đề cập trong di sản tư tưởng của các nhà kinh điển mác xít. Đặc biệt là Hồ Chí Minh, người suốt đời phấn đấu cho Tổ quốc, dân tộc, nhân dân và nhân loại, theo đuổi đến cùng hệ giá trị Độc lập-Tự do-Hạnh phúc.

Đổi mới của Việt Nam với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử không chỉ đem lại lợi ích thiết thân cho mỗi người, mỗi gia đình và cả cộng đồng, mà còn củng cố niềm tin và tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Đổi mới của Việt Nam được dư luận quốc tế và thế giới đánh giá cao. Đó là sự trung thực, xác tín của lịch sử về giá trị, sức sống của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh từ thực tiễn, kinh nghiệm và bài học của Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế.

Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh “Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”. Đó thực sự là một khái quát lý luận của Đảng, là thông điệp phát triển, là đường lối, chính sách phát triển mà Đảng ta đã truyền tới đông đảo nhân dân ta và bạn bè, đối tác trên thế giới, tràn đầy niềm tin và hy vọng.

(còn nữa)

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam-Bài 1: Sự phát triển lý luận chính trị và bản lĩnh sáng tạo của đảng chân chính cách mạng

Thứ năm, 04/04/2024 - 05:54

Hơn 94 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đồng hành và lãnh đạo dân tộc, nhân dân ta vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để làm nên những chiến công hiển hách trong các cuộc kháng chiến và những thành tựu to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước. Điều đó có cội nguồn sâu xa từ nền tảng lý luận khoa học, cách mạng, đường lối chính trị đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đảng ta ra đời trong “bão tố” cách mạng và không ngừng lớn mạnh

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định Đảng ta là một đảng chân chính cách mạng. Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn độc lập bất hủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp viết và đọc trước quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba Đình. Từ đây, Đảng ta chính thức ở vào vị thế đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Từ khi có Đảng, lịch sử dân tộc gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của Đảng. Kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp thắng lợi với đỉnh cao là Điện Biên Phủ, Việt Bắc lại tiếp đến sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam và xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc, làm hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn.

Vào năm 1960, khi Đảng ta tròn 30 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đảng ta là con nòi của giai cấp công nhân”, “lịch sử Đảng là cả một pho lịch sử bằng vàng”, “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Đảng không có mục đích tự thân, Đảng ra đời, hoạt động chỉ vì dân, vì nước, vì độc lập, tự do và CNXH. Ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Đảng vì dân nên dân theo Đảng, trọn lòng tin yêu Đảng, tự hào gọi Đảng là Đảng ta, Đảng mình. Cội nguồn sâu xa làm nên sức mạnh của Đảng và cách mạng Việt Nam chính là sức mạnh của lòng dân-cơ sở xã hội quan trọng nhất của Đảng. 

Kiên trì, kiên định bảo vệ đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam-Bài 1: Sự phát triển lý luận chính trị và bản lĩnh sáng tạo của đảng chân chính cách mạng

Đảng ta ra đời trong “bão tố” cách mạng và không ngừng lớn mạnh. Ảnh minh họa: dangcongsan.vn

Công cuộc đổi mới với đường lối đổi mới được Đảng khởi xướng tại Đại hội VI (tháng 12-1986) là một mốc son mới trong lịch sử biên niên của Đảng. Đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã đi qua một chặng đường gần 40 năm với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. “Ý Đảng-lòng dân-phép nước” quyện chặt làm một, bằng sức mạnh giải phóng, bằng sức mạnh phát triển theo đúng chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng làm hồi sinh đất nước và chấn hưng dân tộc để chúng ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay!

Sự trưởng thành về nhận thức lý luận của Đảng

Đổi mới ở Việt Nam là đổi mới theo định hướng XHCN. Đó là đổi mới có nguyên tắc, có bước đi phù hợp được dẫn dắt bởi phương hướng chính trị đúng đắn và phương pháp sáng tạo.

Ngay trong những năm đầu đổi mới, giữa bối cảnh quốc tế phức tạp và tình hình trong nước hết sức khó khăn bởi cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng giữa thập niên 1980, đời sống nhân dân rất khó khăn, niềm tin của một bộ phận nhân dân giảm sút, Đảng ta đã ra sức tận dụng thời cơ, dũng cảm đương đầu với thách thức để bình tĩnh vượt qua. Phải chủ động đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, thay đổi cách nghĩ để thay đổi cách làm.

Đảng ta nhấn mạnh, trước hết phải đổi mới tư duy kinh tế, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, mệnh lệnh hành chính trong điều hành, quản lý nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, từng bước thử nghiệm và áp dụng cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Phương thức phân phối theo kiểu bao cấp, bình quân đã làm suy giảm và triệt tiêu động lực phát triển mà cũng không phù hợp với nguyên lý công bằng xã hội đã được khắc phục bằng cơ chế thị trường, tuân theo quy luật giá trị và cạnh tranh, tôn trọng lợi ích cá nhân của người lao động, thực hiện hài hòa các quan hệ lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội.

Cùng với giải phóng sức sản xuất (lực lượng sản xuất), Đảng ta ngay những năm đầu đổi mới đã chú trọng giải phóng ý thức tinh thần, thực hiện dân chủ hóa toàn diện các lĩnh vực của đời sống, bảo đảm cho nhân dân thực hiện và phát huy quyền làm chủ thực sự của mình. Đó là quan điểm tư tưởng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, là những khởi đầu rất quan trọng để hình thành nhận thức lý luận mới của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta.

Kinh tế thị trường và dân chủ là hai động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới, nhanh chóng tạo ra sinh khí mới, tính năng động và sức sáng tạo mới của xã hội và nhân dân ta. Đây cũng là quan điểm chính trị đúng đắn và nhất quán của Đảng trong lãnh đạo kinh tế, quản lý xã hội, vận dụng sáng tạo vai trò của chính trị, của lý luận chính trị vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật trong sự phát triển xã hội dưới ánh sáng của tư tưởng đổi mới.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991 và Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã định hình tư tưởng của Đảng về dân chủ và xây dựng nền dân chủ XHCN, về hệ thống chính trị và đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Lần đầu tiên, Hội nghị Trung ương 5 khóa IX (năm 2002), Đảng ta ra Nghị quyết chuyên đề về hệ thống chính trị ở cơ sở, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở (năm 1998) và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua vào năm 2007.

Đến Đại hội XIII (năm 2021), Quy chế dân chủ ở cơ sở đã có sự bổ sung, phát triển đầy đủ quyền dân chủ, quyền làm chủ của người dân trong tư cách người chủ của xã hội, là chủ thể của đổi mới sáng tạo. Từ chỗ khẳng định “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đến chỗ khẳng định “dân giám sát, dân thụ hưởng” là một bước tiến dài trong nhận thức và thực hiện dân chủ ở nước ta. Tư tưởng tăng cường, kiểm soát quyền lực của nhân dân còn được khẳng định trong Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở do Quốc hội khóa XV thông qua và chính thức có hiệu lực trong cuộc sống với tư cách là một đạo luật, nâng cao hơn hẳn tính pháp lý so với quy chế và pháp lệnh trước đây.

Vững vàng bản lĩnh của đảng cầm quyền

Vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, thông qua lãnh đạo cách mạng, bản lĩnh của Đảng ta đã được tôi luyện, ngày càng vững vàng. Điều đó thể hiện qua những điểm cốt lõi sau.

Thứ nhất, kiên định lý tưởng và mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Vững bước đi lên trên con đường đã chọn, quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước tiến tới CNXH.

Thứ hai, khẳng định và kiên quyết bảo vệ Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Bảo vệ bằng cách phát triển sáng tạo, không xơ cứng, giáo điều. Trung thành một cách sáng tạo, không máy móc, khuôn sáo, sao chép, bắt chước; biện chứng chứ không siêu hình.

Muốn sáng tạo phải phát triển và có phát triển lý luận xuất phát từ thực tiễn (Việt Nam và thế giới), làm cho lý luận trở nên phong phú, sống động trong thực tiễn chứ không khô cứng, có hơi thở của thực tiễn cuộc sống, đủ sức là lý luận tiên phong dẫn đường thì mới tỏ rõ sự trung thành. Đấu tranh không khoan nhượng chống lại sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vừa ra sức khắc phục giáo điều cũ (chủ quan duy ý chí) vừa chủ động phòng ngừa rơi vào giáo điều mới, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, phủ nhận CNXH, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng.

Thứ ba, kiên trì, kiên định giữ vững và bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng, địa vị cầm quyền của Đảng, không mất phương hướng chính trị để rơi vào ý thức hệ tư sản, cổ xúy đa nguyên, đa đảng và tam quyền phân lập trong xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thứ tư, thể hiện ở tầm nhìn chiến lược của Đảng, chủ động hội nhập quốc tế, vượt qua sự trì trệ, bảo thủ, giáo điều, đồng thời không rơi vào cực đoan, phiến diện, thoát ly quan điểm thực tiễn, quan điểm lịch sử-cụ thể và quan điểm phát triển. Không thể phát triển nếu tự biến mình thành một ốc đảo, khép kín, biệt lập với thế giới bên ngoài nhưng cũng không thể phát triển tích cực, lành mạnh nếu từ bỏ CNXH, chạy theo kinh tế thị trường kiểu tư bản chủ nghĩa với thể chế chính trị tư sản, bất chấp những mặt trái và hệ lụy tiêu cực của nó.

Không thể vì lợi nhuận bằng mọi giá mà làm tổn thương xã hội, suy đồi đạo đức, tự đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc và truyền thống dân tộc trong hội nhập. Đảng ta nhấn mạnh, hội nhập nhưng không tự đánh mất chính mình, hòa nhập nhưng không hòa tan, đổi mới chứ không đổi màu. Giữ vững nền tảng tư tưởng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và CNXH mang bản chất khoa học-cách mạng-nhân văn.

Hơn ba phần tư thế kỷ liên tục cầm quyền, nêu cao dũng khí tự phê phán, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nêu cao bài học tôn trọng quy luật khách quan và bài học lấy dân làm gốc, dựa vào dân mà xây dựng Đảng, ngày nay, Đảng ta coi xây dựng Đảng là then chốt, tập trung xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực chất đó cũng là xây dựng Đảng về văn hóa theo ý nghĩa tổng hợp và rộng rãi nhất của khái niệm văn hóa, làm cho văn hóa với hệ giá trị chân-thiện-mỹ thấm sâu trong đời sống chính trị của Đảng, trong đạo đức, lối sống, nhân cách của mỗi cán bộ, đảng viên.

Những điều trình bày trên đây cho thấy, Đảng nỗ lực tự đổi mới chính mình để thúc đẩy đổi mới xã hội. Thực tiễn đổi mới đã dẫn đến nhận thức mới, tư duy đổi mới sáng tạo của Đảng, hình thành hệ thống lý luận khoa học và cách mạng của Đảng ta về CNXH Việt Nam và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Đó là sự kết hợp giữa tính phổ biến thế giới với tính đặc thù Việt Nam để nhận thức đặc điểm, bản chất, động lực phát triển CNXH, mục tiêu, phương hướng và giải pháp xây dựng XHCN ở Việt Nam, từ định hướng XHCN đến định hình CNXH ở Việt Nam thông qua đổi mới, hội nhập để phát triển và hiện đại hóa đất nước.

Từ Đại hội VI (năm 1986) đến Đại hội XIII (năm 2021) và hiện nay, có thể nói, thành tựu phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, được thể hiện toàn diện, phong phú trong đường lối của Đảng, được thể chế hóa thành luật pháp và chính sách, được thực tiễn hóa trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đưa đất nước phát triển cả về thế và lực như ngày nay, mở ra triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc vào giữa thế kỷ 21, để dân tộc cường thịnh, trường tồn.

Mấu chốt là 8 đặc trưng của xã hội XHCN, 8 phương hướng xây dựng CNXH, 10 mối quan hệ lớn, quy định mô hình xây dựng CNXH ở Việt Nam với 3 trụ cột: Kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN, nền dân chủ XHCN từ định hướng đến định hình. Đó là những đường nét cơ bản của CNXH Việt Nam, một CNXH hiện thực mới sinh thành trong đổi mới đúng quy luật, thuận lòng dân, hợp thời đại theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

(còn nữa)

GS, TS HOÀNG CHÍ BẢO