Thứ năm, 12/02/2026 - 06:18
PHAN TÙNG SƠN
Kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước, củng cố niềm tin của nhân dân. Để tối ưu hóa kiểm soát quyền lực, đòi hỏi sự vận hành tổng hòa các giải pháp trong cơ chế công khai, minh bạch, thượng tôn pháp luật, coi trọng kỷ cương, kỷ luật đảng. Với tinh thần lấy “xây” để “chống”, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện trong Đảng, hệ thống chính trị và đời sống xã hội chính là giải pháp góp phần kiểm soát quyền lực hiệu quả, bền vững...
Bài học lịch sử và đòi hỏi khách quan
Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong phần đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, đã thẳng thắn chỉ rõ: Công tác cán bộ còn một số bất cập, trước hết là khâu đánh giá cán bộ; kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ cấp chiến lược có mặt còn hạn chế...
Kiểm soát quyền lực là hệ thống các giải pháp, quy trình và cơ chế, trọng tâm là công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát... nhằm theo dõi, đánh giá, ngăn chặn sự tha hóa, độc đoán, lạm quyền, vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật Nhà nước trong đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị các cấp. Mục đích cao nhất của kiểm soát quyền lực là để Đảng ta thực sự là đạo đức, là văn minh; để đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp, thực sự là công bộc của dân như lời Bác Hồ dạy.
Nhìn lại hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, chúng ta thấy rõ, với tinh thần kiên trì, quyết liệt, việc kiểm soát quyền lực gắn với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Tuy nhiên, việc kiểm soát quyền lực và quản lý cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược vẫn còn những hạn chế nhất định. Những đánh giá được nêu trong Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng mang tính khách quan, thể hiện tinh thần cầu thị, thẳng thắn nhìn vào sự thật để xây dựng quyết tâm chính trị chiến lược của Đảng. Công tác quy hoạch cán bộ, đánh giá cán bộ và kiểm soát quyền lực có mối quan hệ biện chứng, thống nhất trong một chỉnh thể. Vì vậy, quá trình kiểm soát quyền lực không thể tách rời khỏi công tác cán bộ, nhất là khâu quy hoạch, quản lý, đánh giá cán bộ. Lựa chọn, quy hoạch cán bộ đúng, quản lý tốt, đánh giá thực chất thì kiểm soát quyền lực sẽ hiệu quả. Ngược lại, bất cứ một khâu nào làm sai, sẽ gây hệ lụy đến cả hệ thống.
![]() |
Cần thấy rằng, yêu cầu kiểm soát quyền lực và những hạn chế trong lĩnh vực này không phải đến Đại hội XIV Đảng ta mới đặt ra, mà nó là vấn đề mang tính lịch sử, tồn tại xuyên suốt trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp của mọi quốc gia, dân tộc. Đất nước càng phát triển, xã hội càng tiến lên văn minh, hiện đại thì mục tiêu, yêu cầu kiểm soát quyền lực càng đặt ra cao hơn, toàn diện hơn. Trong xã hội hiện đại, quyền lực trong bộ máy cầm quyền có sức hấp dẫn lớn. Nếu không có cơ chế giám sát, kiểm soát đủ mạnh và hiệu quả, lợi ích mà quyền lực mang lại sẽ là tác nhân khiến một bộ phận không nhỏ cán bộ rơi vào chuyên quyền, độc đoán, tham nhũng, lợi ích nhóm, tha hóa đạo đức, có hại cho đất nước. Mức độ nguy hại sẽ tăng lên gấp bội, gây hệ lụy khôn lường nếu tha hóa quyền lực xảy ra trong đối tượng cán bộ cấp chiến lược. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần sử dụng cách nói hình tượng “Nhốt quyền lực trong chiếc lồng cơ chế” để khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của kiểm soát quyền lực và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực này. Đảng ta đã dũng cảm, thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ và đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực một cách đồng bộ, hiệu quả hơn trong nhiệm kỳ mới. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực gắn với kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
Từ Đại hội XIV, yêu cầu kiểm soát quyền lực đặt ra rất cao và có nhiều điểm mới mang tính đột phá, đòi hỏi chúng ta phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao cơ chế giám sát với hệ thống giải pháp mang tính khoa học, thực tiễn. Trong tổng thể các giải pháp, việc xây dựng, khuyến khích một hệ sinh thái phản biện chính là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực, ngăn chặn suy thoái, tiêu cực từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát. Cùng với những công cụ mang tính pháp lý như thanh tra, kiểm tra, giám sát, điều tra, xử lý..., phản biện chính là kênh thông tin giúp chúng ta nhận diện sớm những biểu hiện lệch lạc trong tư duy, tư tưởng của cán bộ, đảng viên; giúp các quyết định quan trọng được soi chiếu đa chiều, hạn chế chuyên quyền, độc đoán, chủ quan, duy ý chí...
Nhìn lại 40 năm đổi mới, chúng ta thấy rõ dấu ấn của phản biện gắn liền với những dấu mốc quan trọng của đất nước, đặc biệt là giai đoạn chuẩn bị và triển khai đường lối đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế-xã hội những năm đầu thập niên 1980, nhiều ý kiến phản biện xuất phát từ thực tiễn cơ sở đã mạnh dạn chỉ ra những bất cập của cơ chế quản lý cũ, đòi hỏi phải có cách nghĩ, cách làm mới mang tính đột phá. TP Hồ Chí Minh với vai trò “đầu tàu”, đã mạnh dạn, dũng cảm thoát ra và vượt lên cung cách quản lý cũ, thể nghiệm thành công những mô hình mới về kinh tế thị trường. Sự đột phá, “vượt rào” ấy bắt nguồn từ tư duy phản biện, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của thành phố lúc bấy giờ. Những cách làm linh hoạt trong quản lý kinh tế, lưu thông chuỗi cung ứng sản xuất, kinh doanh là kết quả của tư duy phản biện xuất phát từ yêu cầu bức thiết, cấp bách của thực tiễn. Chính những bước đi đột phá ấy đã góp phần hình thành đường lối đổi mới được Đại hội VI khởi xướng, mở ra giai đoạn phát triển mới cho đất nước.
Lịch sử đã chứng minh, trong những bước ngoặt trọng đại của dân tộc, trước khi ban hành quyết định chính thức, cha ông ta luôn có những “Hội nghị Diên Hồng” để lắng nghe ý kiến đề xuất, phản biện, hiến kế từ các tầng lớp nhân dân. Chỉ khi quy tụ lòng dân về một mối, sức mạnh đại đoàn kết của dân tộc mới được phát huy cao nhất, giúp sự nghiệp cách mạng thành công. Từ những bài học lịch sử và yêu cầu mới đặt ra, chúng ta thấy, khi phản biện được khuyến khích thực hiện trên tinh thần thượng tôn pháp luật và xuất phát từ lợi ích chung, sẽ giúp Đảng, Nhà nước điều chỉnh, hoàn thiện chủ trương, quyết sách, tránh được những sai lầm mang tính hệ thống. Coi trọng phản biện để kiểm soát quyền lực, vì thế, là một yêu cầu mang tính khách quan, vừa cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài...
Phản biện khoa học thúc đẩy phát triển
Trong tầm nhìn, định hướng phát triển đất nước những năm tới, Nghị quyết Đại hội XIV nêu rõ quan điểm chỉ đạo: Tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, nhất là tăng cường giám sát thường xuyên...
Quan điểm chỉ đạo từ Đại hội XIV của Đảng là sự kế thừa, phát huy những thành tựu, bài học kinh nghiệm từ các kỳ đại hội trước, đặc biệt là trong hai nhiệm kỳ Đại hội XII và Đại hội XIII. Đồng thời, Đảng ta tiếp tục bổ sung, nhấn mạnh sự liên kết các nhóm giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực. Đáng chú ý là sự nhấn mạnh việc tăng cường giám sát thường xuyên. Với cơ cấu quyền lực đa tầng từ Trung ương đến các địa phương, việc giám sát thường xuyên cũng đòi hỏi phải được tiến hành theo phương châm đa tầng, đa chủ thể, đa phương thức. Xây dựng và khuyến khích phát triển một hệ sinh thái phản biện lành mạnh, đa tầng, đa chủ thể, trước hết là trong Đảng và hệ thống chính trị, tiếp đến là phản biện nhân dân, chính là cách để duy trì giám sát thường xuyên, liên tục. Đó chính là một hệ sinh thái phản biện khoa học. Từ hành vi phản biện, thái độ phản biện đến văn hóa phản biện phải luôn luôn đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết và trước hết. Phản biện để đi đến thống nhất nhận thức và hành động. Phản biện để hiến kế, kiến tạo xây dựng. Đó chính là nguyên tắc và văn hóa phản biện trong hệ sinh thái dân chủ, kỷ cương, văn minh, tiến bộ. Ở đâu, lúc nào coi nhẹ hoặc triệt tiêu phản biện khoa học, sự tha hóa quyền lực sẽ như mầm nấm độc, trỗi dậy và gây hại...
(còn nữa)

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng một lần nữa khẳng định kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết để giữ vững vai trò lãnh đạo và củng cố niềm tin của nhân dân. Việc Đảng ta thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác cán bộ cấp chiến lược tại nhiệm kỳ qua không phải là sự yếu kém, mà là minh chứng cho bản lĩnh chính trị và tinh thần cầu thị. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nói về việc "nhốt quyền lực trong chiếc lồng cơ chế", Đại hội XIV đã nâng tầm tư duy này thành một hệ thống giải pháp đồng bộ, khoa học và thực tiễn hơn, gắn liền giữa "xây" và "chống".
Trả lờiXóaKiểm soát quyền lực không thể tách rời công tác cán bộ. Một quy trình quy hoạch nghiêm túc, đánh giá thực chất sẽ là bộ lọc tự nhiên ngăn chặn những cá nhân có tư tưởng chuyên quyền, độc đoán bước vào bộ máy. Tuy nhiên, quyền lực luôn có sức hấp dẫn ghê gớm, dễ dẫn đến tha hóa nếu thiếu đi sự giám sát thường xuyên. Vì vậy, việc tăng cường kiểm soát không chỉ để trừng phạt những sai phạm đã rồi, mà quan trọng hơn là để răn đe, ngăn chặn từ sớm, từ xa, bảo vệ cán bộ trước những cám dỗ của "lợi ích nhóm" và sự suy thoái đạo đức.
Đặc biệt, điểm đột phá trong định hướng mới là sự vận hành tổng hòa các giải pháp công khai, minh bạch. Khi mọi quyền lực đều được soi chiếu dưới ánh sáng của kỷ cương và pháp luật, những "mầm nấm độc" tham nhũng, tiêu cực sẽ không còn đất diễn. Đây chính là con đường để Đảng ta thực sự là "đạo đức, là văn minh", xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược thực sự là những công bộc tận tụy, xứng đáng với kỳ vọng của nhân dân trong kỷ nguyên mới.
Một trong những điểm mới mang tính đột phá được nhấn mạnh từ Đại hội XIV chính là việc khuyến khích xây dựng một "hệ sinh thái phản biện" lành mạnh. Phản biện khoa học không phải là sự đối đầu hay công kích cá nhân, mà là một phương thức kiểm soát quyền lực hữu hiệu, giúp nhận diện sớm những lệch lạc trong tư duy và chính sách. Nhìn lại lịch sử, từ "Hội nghị Diên Hồng" đến những đột phá "vượt rào" tại TP Hồ Chí Minh những năm đầu đổi mới, chúng ta thấy rõ rằng ở đâu có phản biện chân chính, ở đó có sự phát triển và sai lầm hệ thống được hạn chế tối đa.
Trả lờiXóaHệ sinh thái phản biện này cần được vận hành đa tầng: trước hết là trong nội bộ Đảng để chống lại sự độc đoán, chủ quan; sau đó là phản biện của nhân dân và các tổ chức xã hội để đảm bảo chính sách thực sự "lấy dân làm gốc". Phản biện chính là kênh thông tin đa chiều giúp người đứng đầu tránh khỏi những quyết định duy ý chí, giúp Đảng điều chỉnh chủ trương phù hợp với hơi thở thực tiễn. Khi phản biện trở thành một nét văn hóa ứng xử trong hệ thống chính trị, nó sẽ tạo ra sức đề kháng tự nhiên trước sự tha hóa quyền lực.
Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phân biệt rõ giữa phản biện khoa học vì lợi ích chung và lợi dụng phản biện để xuyên tạc, chống phá. Một hệ sinh thái phản biện lành mạnh phải dựa trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật và tinh thần kiến tạo. Khuyến khích những ý kiến khác biệt nhưng có trách nhiệm chính là cách tốt nhất để quy tụ lòng dân, tạo nên sự thống nhất cao độ về ý chí và hành động. Đã đến lúc chúng ta coi phản biện không chỉ là một giải pháp tình huống, mà là một chiến lược lâu dài để bảo vệ Đảng và Nhà nước từ nơi xuất phát.
Kiểm soát quyền lực trong kỷ nguyên mới đòi hỏi một phương châm hành động mới: giám sát thường xuyên, đa tầng và đa chủ thể. Quan điểm chỉ đạo từ Đại hội XIV cho thấy sự kế thừa và phát triển mạnh mẽ từ các nhiệm kỳ trước, nhưng đặt ra yêu cầu cao hơn về tính thực thi. Mỗi Nghị quyết giờ đây không chỉ là định hướng mà phải đi kèm một khung kiểm soát chặt chẽ, gắn với trách nhiệm chính trị của từng cấp ủy và người đứng đầu. Việc đề cao kỷ cương Đảng và pháp luật Nhà nước chính là nền tảng để vận hành bộ máy một cách liêm chính và hiệu quả.
Trả lờiXóaThực tế cho thấy, sự tha hóa quyền lực thường bắt nguồn từ những vi phạm nhỏ nhưng kéo dài do thiếu giám sát thường xuyên. Vì thế, việc xây dựng cơ chế để các cơ quan thanh tra, kiểm tra hoạt động độc lập, hiệu quả, đồng thời phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tầng lớp nhân dân là vô cùng cấp thiết. Phải làm sao để cán bộ "không thể, không thể, không dám và không muốn" tham nhũng, lạm quyền. Đây không chỉ là cuộc đấu tranh với cái xấu bên ngoài, mà còn là cuộc đấu tranh với sự tự diễn biến, tự chuyển hóa ngay trong chính nội bộ mỗi cơ quan, đơn vị.
Sau cùng, mục tiêu cao nhất của kiểm soát quyền lực là để thúc đẩy phát triển. Một bộ máy sạch, minh bạch sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho sự sáng tạo và cống hiến. Lấy "xây" để "chống", lấy văn hóa liêm chính để đẩy lùi bóng tối tham nhũng chính là tinh thần xuyên suốt của nhiệm kỳ mới. Khi quyền lực được thực thi đúng mục đích vì lợi ích quốc gia, dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết sẽ được phát huy tối đa, đưa đất nước vững bước trên con đường hiện đại hóa, văn minh và hạnh phúc.