Những luận điệu sai lệch về an sinh xã hội của Việt Nam

Tháng Tám 27, 2025

Quang An

1. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực an sinh xã hội, được ghi nhận bởi kết quả rất cụ thể và các tổ chức quốc tế như ILO, World Bank (WB), OECD… đánh giá cao. Đây được coi là trụ cột để bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, đồng thời khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng. Tuy nhiên, lợi dụng một số khó khăn khách quan trong quá trình phát triển cũng như những hạn chế cục bộ còn tồn tại, trên không gian mạng và các nền tảng xã hội đã xuất hiện không ít luận điệu sai trái, thậm chí bịa đặt, xuyên tạc nhằm phủ nhận nỗ lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội. Một số nội dung phổ biến của các phần tử cực đoan, chống đối như: “Chính sách chỉ là hình thức không đến được dân”, “Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số bị bỏ rơi, không được chăm lo đúng mức”, “Việt Nam chỉ quan tâm tăng trưởng, bỏ qua công bằng xã hội”, hoặc “Hệ thống bảo hiểm xã hội, y tế, giáo dục đầy rẫy bất công, bất cập”.

2. Những luận điệu này, nếu không được phản bác kịp thời, có thể gây hoài nghi, giảm niềm tin trong một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ, vào đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước và tương lai, tiền đồ của dân tộc.

Thứ nhất, Luận điệu “Chính sách an sinh chỉ là hình thức, không đến được người dân” là “rỗng tuếch”, lừa bịp những người thiếu thông tin, tự huyễn hoặc nhau của các phần tử cực đoan. Kết quả thực hiện an sinh xã hội ở Việt Nam cho thấy: An sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm đầy đủ hơn. Các chính sách, giải pháp giảm nghèo bền vững được triển khai đồng bộ, hiệu quả trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025. Những con số cụ thể, nổi bật đó là:

– Chỉ sau 1 năm 4 tháng 13 ngày kể từ ngày phát động, Việt Nam đã cơ bản hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm cả nước, xóa 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát; về đích sớm hơn 5 năm 4 tháng so với mục tiêu tại Nghị quyết số 42-NQ/TW về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội. Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, việc cơ bản hoàn thành xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước sớm hơn so với mục tiêu ban đầu là một kỳ tích trong giảm nghèo bền vững, là những “Công trình Quốc gia đặc biệt’ của “ý Đảng, lòng dân”, của “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”, có ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc, khi hàng trăm nghìn gia đình được sống trong mái ấm tình thương, hàng triệu mảnh đời được thắp sáng tương lai.

– Tính đến ngày 23/7/2025, toàn quốc đã cơ bản hoàn thành 100% công tác hỗ trợ sửa chữa, xây dựng mới hoặc cải thiện nhà ở cho các hộ gia đình người có công và thân nhân liệt sĩ.

– Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đầu tư xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 – 2030 và gần đây bổ sung thêm đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức khó khăn về nhà ở. Để triển khai thực hiện Đề án, Chính phủ đã ban hành 2 Nghị quyết; 12 chỉ thị, quyết định, công điện và tổ chức 2 hội nghị thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội.

Thứ hai, Luận điệu “Người nghèo, dân tộc thiểu số bị bỏ rơi”là lố bịch, nhằm mục đích chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Các chương trình như Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, hỗ trợ vùng dân tộc thiểu số và miền núi, hoàn thiện trường lớp, nhà ở ở nhiều tỉnh biên giới… cho thấy sự ưu tiên rõ ràng của Nhà nước. Trong những năm qua, mức giảm nghèo đa chiều đáng kể và hỗ trợ tài chính trực tiếp trong đại dịch (62.000 tỷ đồng); Việt Nam luôn ưu tiên nguồn lực đầu tư, hỗ trợ cho các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và địa bàn đặc biệt khó khăn; đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào đã được cải thiện rõ rệt; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân gần 4%/năm, cao hơn so với tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng là minh chứng rõ ràng cho chính sách không bỏ ai phía sau của Đảng, Nhà nước.

Thứ ba, Luận điệu “Việt Nam chỉ quan tâm đến tăng trưởng, bỏ qua công bằng xã hội” là cố tình bóp méo sự thật

Trong tất cả các chương trình an sinh xã hội, lãnh đạo Đảng, Nhà nước đều nhấn mạnh đến việc cân bằng 02 mục tiêu trên. Điển hình như phát biểu của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc Tổng kết Chương trình và Phong trào thi đua “Cả nước chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trong năm 2025 “không hy sinh tiến bộ, công bằng, an sinh xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần, Đảng, Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, ban hành nhiều cơ chế chính sách và ưu tiên dành nguồn lực tập trung chăm lo đời sống tinh thần, vật chất cho nhân dân, trong đó có việc hỗ trợ đồng bào nghèo, đối tượng chính sách, người yếu thế có nhà ở ổn định, an toàn”. GDP tăng trưởng mạnh là điều đáng tự hào, nhưng trong khi nhiều quốc gia có bất bình đẳng gia tăng, Việt Nam vẫn giữ GINI thấp (~0,37) – cho thấy sự chú trọng đến phân phối thu nhập công bằng. Các chính sách y tế, giáo dục, ASXH phủ gần toàn dân, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển.

Thứ tư, Luận điệu “Hệ thống BHXH, BHYT, giáo dục đầy dẫy bất công, bất cập” là quy chụp một vài hiện tượng đơn lẻ thành bản chất sự việc

Số người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên được mở rộng, trên 3,5 triệu người năm 2025, trong đó 55% là người cao tuổi. Tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,9% năm 2020 lên 95,15% năm 2025. Tuổi thọ và chỉ số sức khoẻ người dân bình quân của cả nước được cải thiện, năm 2025 tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm, số năm sống khoẻ khoảng 67 năm; chi 350 nghìn tỷ đồng trong năm 2024 cho an sinh xã hội là những con số “hữu hình”, là thực tế ngân sách phục vụ nhân dân, không phải là “hình thức” như những kẻ chống đối cực đoan tuyên truyền. Số người được phục vụ qua VssID, BHYT 95%, hàng triệu lượt khám chữa bệnh, bữa ăn học đường, trường lớp kiên cố, miễn học phí, cung cấp bữa ăn trưa cho học sinh trong cả nước từ năm học 2025 – 2026… là bằng chứng cụ thể về sự công bằng, sự vận hành hiệu quả, không thể phủ nhận.

3. Không thể phủ nhận vấn đề an sinh xã hội còn nhiều hạn chế, yếu kém đã được Đảng, Nhà nước thẳng thắn nhìn nhận như an sinh xã hội, phúc lợi xã hội chưa được bảo đảm vững chắc. Chính sách dân số và phát triển chưa theo kịp yêu cầu thực tế. Sự phân hoá giàu – nghèo, bất bình đẳng xã hội có xu hướng gia tăng. Dịch vụ y tế còn nhiều hạn chế, nhất là y tế cơ sở, y tế dự phòng. Ô nhiễm môi trường chưa được kiểm soát hiệu quả, có mặt còn trầm trọng hơn, nhất là môi trường ở các đô thị lớn, khu công nghiệp và các làng nghề. Thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chưa đồng bộ, thiếu tính hệ thống, còn lúng túng… Tuy nhiên những hạn chế, yếu kém đó đó được thẳng thắn nhìn nhận và quan trọng là có chủ trương giải quyết cụ thể, như: Mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân; nâng chuẩn nghèo theo hướng tiếp cận đa chiều, bảo đảm người dân không chỉ thoát nghèo về thu nhập mà còn tiếp cận dịch vụ cơ bản; phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân; đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý an sinh xã hội, bảo đảm minh bạch, hiệu quả… Đây là những định hướng chiến lược và bằng những thành tựu to lớn, bằng sự nỗ lực không ngừng, Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục xây dựng một hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bền vững, để mỗi người dân đều được bảo đảm cuộc sống an toàn, ổn định và có cơ hội phát triển. Đó cũng chính là minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu sai trái, khẳng định sức sống bền vững của con đường mà nhân dân ta đã lựa chọn: con đường xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm, vì hạnh phúc của nhân dân tiến tới một xã hội công bằng, ổn định và phát triển bền vững./. 

3 nhận xét:

  1. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật trong lĩnh vực an sinh xã hội, đóng vai trò then chốt trong ổn định chính trị – xã hội, nâng cao đời sống nhân dân và khẳng định bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả cụ thể, được các tổ chức quốc tế như ILO, World Bank, OECD ghi nhận, là minh chứng rõ ràng cho sự nỗ lực không ngừng nghỉ của Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân. Thế nhưng, trên các nền tảng mạng xã hội, một số phần tử cực đoan đã lợi dụng những khó khăn khách quan hoặc hạn chế cục bộ để tung ra những luận điệu xuyên tạc, nhằm phủ nhận những nỗ lực này. Những luận điệu như “chính sách chỉ là hình thức”, “người nghèo, dân tộc thiểu số bị bỏ rơi”, “Việt Nam chỉ quan tâm tăng trưởng, bỏ qua công bằng xã hội” hay “hệ thống BHXH, BHYT, giáo dục đầy rẫy bất công” đều là những quy chụp phiến diện, lừa bịp và thiếu cơ sở.

    Thực tế cho thấy, kết quả thực hiện chính sách an sinh xã hội là minh chứng sống động và không thể phủ nhận. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều đã giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025; công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát đã hoàn thành sớm hơn 5 năm so với kế hoạch, với hơn 334.000 căn nhà được cải thiện; hàng triệu người nghèo, người có công, công nhân khu công nghiệp được tiếp cận nhà ở xã hội, chăm sóc y tế, giáo dục chất lượng và các dịch vụ xã hội thiết yếu. Bảo hiểm y tế phủ gần 95% dân số, tuổi thọ trung bình đạt 74,8 năm, chi ngân sách dành cho an sinh xã hội liên tục tăng cao – tất cả đều là những bằng chứng cụ thể về sự quan tâm sâu sắc và thực chất của Nhà nước đối với nhân dân.

    Những luận điệu xuyên tạc trên không chỉ bóp méo thực tế mà còn có nguy cơ gây hoài nghi, giảm niềm tin trong một bộ phận nhân dân, đặc biệt là giới trẻ. Tuy nhiên, sự thật vẫn rõ ràng: chính sách an sinh xã hội của Việt Nam không chỉ hướng đến tăng trưởng mà còn đặt công bằng xã hội, bình đẳng và phúc lợi của người dân làm trung tâm. Các định hướng như mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân, nâng chuẩn nghèo đa chiều, phát triển nhà ở xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý an sinh đều khẳng định quyết tâm xây dựng hệ thống an sinh xã hội toàn diện, minh bạch và bền vững.

    Bên cạnh những thành tựu, Việt Nam cũng thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế còn tồn tại như phân hóa giàu – nghèo, bất cập trong y tế cơ sở, ô nhiễm môi trường hay giáo dục chưa đồng bộ. Điều quan trọng là những vấn đề này được đề ra với các giải pháp cụ thể, có lộ trình và nguồn lực thực hiện rõ ràng, chứng minh sự chủ động và quyết tâm của Đảng và

    Trả lờiXóa
  2. Nhìn lại những năm qua, chính sách an sinh xã hội của Việt Nam đã được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả, minh chứng rõ ràng cho sự quan tâm toàn diện của Đảng và Nhà nước đối với đời sống nhân dân. Các chương trình giảm nghèo bền vững, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, cải thiện nhà ở cho hộ nghèo, người có công, cùng với việc nâng cao chất lượng giáo dục và y tế cơ sở, đều cho thấy sự ưu tiên rõ ràng đối với các đối tượng yếu thế. Việc xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm hơn 5 năm so với kế hoạch, chi hàng trăm nghìn tỷ đồng cho an sinh xã hội và bảo đảm phủ sóng bảo hiểm y tế cho hơn 95% dân số là minh chứng sống động, bác bỏ hoàn toàn các luận điệu sai trái cho rằng chính sách chỉ mang tính hình thức.

    Hơn nữa, các chỉ số về GINI, mức sống và tuổi thọ trung bình đều cho thấy Việt Nam vừa tăng trưởng kinh tế, vừa giữ được công bằng xã hội. Trong đại dịch COVID-19, hơn 62.000 tỷ đồng được chi trực tiếp hỗ trợ các hộ khó khăn, thể hiện tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong mọi tình huống. Chính những thành tựu cụ thể, minh chứng bằng con số và kết quả thực tiễn này giúp củng cố niềm tin của nhân dân, đồng thời phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc rằng Nhà nước “bỏ rơi” người dân hay chỉ quan tâm tăng trưởng kinh tế.

    Không thể phủ nhận vẫn còn tồn tại những hạn chế như bất cập trong y tế cơ sở, giáo dục chưa đồng bộ, ô nhiễm môi trường, hay phân hóa giàu – nghèo. Tuy nhiên, quan trọng là Đảng và Nhà nước đã nhận diện thẳng thắn và có các giải pháp cụ thể, như nâng chuẩn nghèo đa chiều, phát triển nhà ở xã hội, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý an sinh, nhằm từng bước hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bền vững, vì hạnh phúc và quyền lợi của nhân dân.

    Trả lờiXóa
  3. Thành tựu an sinh xã hội của Việt Nam không chỉ thể hiện ở các con số thống kê mà còn được phản ánh trong đời sống thực tế của hàng triệu người dân. Việc mở rộng bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, cải thiện điều kiện trường học, bữa ăn học đường, chăm sóc người cao tuổi, người nghèo, người dân tộc thiểu số, tất cả đều chứng minh rằng chính sách an sinh xã hội của Việt Nam luôn hướng tới công bằng, ổn định và nâng cao chất lượng sống. Những luận điệu như “chính sách hình thức”, “người nghèo bị bỏ rơi” hay “bất công, bất cập đầy rẫy” đều là những cáo buộc phiến diện, thiếu cơ sở, hoàn toàn không phản ánh thực tế sống động đã và đang diễn ra ở khắp các vùng miền của đất nước.

    Ngoài ra, việc giữ ổn định kinh tế – xã hội đồng thời đảm bảo công bằng xã hội là một điểm mạnh nổi bật của Việt Nam. GDP tăng trưởng mạnh, đời sống nhân dân được cải thiện, nhưng tỷ lệ bất bình đẳng thu nhập (GINI) vẫn được kiểm soát, các chính sách hỗ trợ người yếu thế, đầu tư vùng khó khăn, phát triển nhà ở xã hội, y tế, giáo dục được thực hiện đồng bộ. Như vậy, không có cơ sở để xuyên tạc rằng tăng trưởng kinh tế đi kèm với bỏ quên công bằng xã hội.

    Những hạn chế còn tồn tại như y tế dự phòng chưa đồng bộ, giáo dục còn lúng túng, môi trường bị ô nhiễm, hay giàu – nghèo phân hóa, đều đã được nhận diện và đang được giải quyết bài bản. Việc thẳng thắn nhìn nhận khuyết điểm và lập kế hoạch, giải pháp cụ thể để khắc phục chính là minh chứng cho tính minh bạch, trách nhiệm và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mỗi chính sách, mỗi dự án an sinh đều hướng tới việc bảo đảm cho mọi người dân có cuộc sống ổn định, an toàn, và cơ hội phát triển bền vững, tạo nền tảng vững chắc để nhân dân tin tưởng vào con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn.

    Trả lờiXóa